1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát vi trùng học và đáp ứng kháng sinh điều trị viêm phúc mạc ở bệnh nhân thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú tại Bệnh viện Chợ Rẫy

7 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 441,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu xác định tỷ lệ viêm phúc mạc, tỷ lệ các loại vi trùng gây viêm phúc mạc và đáp ứng kháng sinh điều trị viêm phúc mạc ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối đang được điều trị bằng thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú.

Trang 1

KHẢO SÁT VI TRÙNG HỌC VÀ ĐÁP ỨNG KHÁNG SINH ĐIỀU TRỊ  VIÊM PHÚC MẠC Ở BỆNH NHÂN THẨM PHÂN PHÚC MẠC LIÊN TỤC 

NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY 

Trần Lê Quân* 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Viêm phúc mạc là một trong những biến chứng quan trọng hàng đầu của bệnh nhân thẩm phân 

phúc mạc liên tục ngoại trú.  

‐ Mục tiêu: Xác định tỷ lệ viêm phúc mạc, tỷ lệ các loại vi trùng gây viêm phúc mạc và đáp ứng kháng sinh 

điều trị viêm phúc mạc ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối đang được điều trị bằng thẩm phân phúc mạc  liên tục ngoại trú. 

Phương pháp nghiên cứu: đòan hệ hồi cứu. 

Kết quả: Trong ba năm từ 01/01/2009 đến 31/12/2011 có 650 bệnh nhân được điều trị thay thế thận bằng 

phương pháp CAPD tại khoa Thận, bệnh viện Chợ Rẫy, trong đó có 321 đợt bệnh nhân bị viêm phúc mạc đã  nhập viện điều trị. Tỷ lệ viêm phúc mạc cho các năm 2009, 2010, và 2011 lần lượt là 0,357; 0,481 và 0,575. Tỷ lệ  cấy dịch thẩm phân dương tính là 36,4% (vi trùng gram dương chiếm 16,2%, vi trùng gram âm chiếm 20,2%). 

Có 276/321 (86%) trường hợp đáp ứng kháng sinh. Vi trùng gram dương có tỷ lệ đáp ứng kháng sinh cao hơn 

so với vi trùng gram âm (96,2% so với 83,1%, p = 0,025). Phối hợp kháng sinh hiệu quả nhất là cephazoline và  ceftazidime. 

Kết luận: tỷ lệ viêm phúc mạc hiện nay là khoảng 0,575 đợt/bệnh nhân‐năm. Vi khuẩn thường gặp nhất là 

vi khuẩn gram âm. Kháng sinh hiệu quả, có lợi và kinh tế nhất là cặp kháng sinh cephazoline và ceftazidime. 

Từ khóa: viêm phúc mạc, thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú, vi trùng, đáp ứng kháng sinh 

 ABSTRACT 

BACTERIA AND ANTIBIOTIC RESPONSE OF PERITONITIS IN CAPD PATIENTS OF CHORAY 

HOSPITAL 

Tran Le Quan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 97 ‐ 103 

Background:  Peritonitis  is  still  one  of  the  most  important  complications  of  continuous  ambulatory 

peritoneal dialysis (CAPD).  

‐  Objective:  calculate  the  peritonitis  rate  of  CAPD  patients,  rate  of  agents  that  cause  peritonitis  and  of 

antibiotic response of CAPD peritonitis patients.  

Method: retrospective cohort. 

Results:  From  01/01/2009  to  12/31/2011  there  were  650  patients  followed  the  CAPD  program  in 

Nephrology Department of ChoRay hospital. There were 321 cases of peritonitis admitted. The peritonitis rate of  the  year  2009,  2010  and  2011  was  0.357,  0.481  and  0.575  patient‐year  respectively.  Positve  culture  rate  was  36.4% (including 16.2% gram positive and 20.2% gram negative bacteria). 276/321 cases (86%) responsed to  antibiotic treatment. Gram positive bacteria had higher response rate than gram negative one (96.2% vs 83.1%, p 

= 0.025). Most effective antibiotic combination was cefazolin and ceftazidime. 

Conclusion: the peritonitis rate of CAPD patients was 0.575 patient‐year. Most popular bacteria were gram 

* Khoa Thận, Bệnh viện Chợ Rẫy   

Tác giả liên lạc: BS Trần Lê Quân  ĐT: 0906623939   Email: tlquan4@gmail.com 

Trang 2

Keywords: peritonitis, continuous ambulatory peritonium dialysis, bacteria, antibiotic response

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Viêm  phúc  mạc  là  một  trong  những  biến 

chứng  quan  trọng  hàng  đầu  của  bệnh  nhân 

thẩm  phân  phúc  mạc  liên  tục  ngoại  trú 

(CAPD)(5).  Các  loại  vi  trùng  gây  bệnh  và  đáp 

ứng kháng sinh là mối quan tâm hàng  đầu  khi 

điều trị viêm phúc mạc ở bệnh nhân CAPD. Tuy 

nhiên, chưa có nghiên cứu đánh giá việc điều trị 

viêm phúc mạc đặc thù với tình hình đề kháng 

kháng  sinh  tại  Việt  Nam.  Do  đó  cần  có  một 

nghiên  cứu  đánh  giá  tình  hình  điều  trị  viêm 

phúc mạc và các kết quả của điều trị, để từ đó có 

thể  có  nhận  định  tốt  hơn  về  tình  hình  điều  trị 

viêm phúc mạc ở những bệnh nhân thẩm phân 

phúc mạc. 

Nghiên  cứu  này  phân  tích  tần  suất  viêm 

phúc mạc, tần suất các tác nhân vi sinh, độ nhạy 

cảm của chúng với kháng sinh và kết  quả  điều 

trị viêm phúc mạc. Qua đó có thể giúp các thầy 

thuốc lâm sàng có cái nhìn rõ hơn về các chủng 

vi  khuẩn  gây  bệnh,  đáp  ứng  của  các  chủng  vi 

khuẩn  đối  với  kháng  sinh,  hiệu  quả  điều  trị  và 

giúp  các  thầy  thuốc  có  hướng  chọn  lựa  kháng 

sinh  khởi  đầu  theo  kinh  nghiệm  tốt  hơn,  theo 

tình hình nước ta. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Xác định tỷ lệ viêm phúc mạc ở bệnh nhân 

suy thận mạn giai đoạn cuối đang được điều trị 

bằng thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú. 

Khảo  sát  tỷ  lệ  các  loại  vi  trùng  gây  viêm 

phúc mạc ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn 

cuối  đang  được  điều  trị  bằng  thẩm  phân  phúc 

mạc liên tục ngoại trú. 

Khảo sát đáp ứng một số kháng sinh điều trị 

viêm phúc mạc ở bệnh nhân suy thận mạn giai 

đoạn  cuối  đang  được  điều  trị  bằng  thẩm  phân 

phúc mạc liên tục ngoại trú. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên cứu là một nghiên cứu hồi cứu mô tả 

khảo sát những bệnh nhân thẩm phân phúc mạc 

liên  tục  ngoại  trú  bị  viêm  phúc  mạc  phải  nhập 

khoa  Nội  Thận  Bệnh  viện  Chợ  Rẫy  trong  thời  gian 3 năm từ đầu 2009 đến cuối 2011. 

Phương pháp thu thập số liệu 

Hồi cứu hồ sơ bệnh nhân.  

Tiêu chuẩn loại trừ: 

‐  Những  bệnh  nhân  đã  được  chẩn  đoán  viêm  phúc  mạc  từ  các  bệnh  viện  khác  chuyển  đến 

‐  Những  bệnh  nhân  bị  viêm  phúc  mạc  sau  khi  được  đặt  catheter  Tenckhoff  trong  vòng  14  ngày. 

‐ Những bệnh nhân viêm phúc mạc tử vong  trong vòng 48 giờ kể từ lúc nhập viện. 

‐  Những  bệnh  nhân  có  đợt  viêm  phúc  mạc  xuất hiện trong vòng 28 ngày kể từ lúc kết thúc  điều trị đợt viêm phúc mạc trước và có kết quả  cấy  vi  khuẩn  của  2  đợt  giống  nhau  thì  gọi  là  viêm phúc mạc tái phát và vẫn được tính là liên  tục với đợt viêm phúc mạc trước đó, không tính 

là một đợt viêm phúc mạc mới(12).  Định nghĩa một số biến số: 

+ Cấy: lấy 50ml dịch thẩm phân quay ly tâm 

3000  vòng  trong  thời  gian  15  phút  và  đưa  cặn  lắng vào môi trường cấy. 

+ Kháng sinh ban đầu: kháng sinh theo phác 

đồ,  được  sử  dụng  ngay  khi  có  khả  năng  chẩn  đoán  viêm  phúc  mạc.  Tại  bệnh  viện  Chợ  Rẫy,  kháng  sinh  ban  đầu  theo  phác  đồ  bao  gồm:  Cephazolin 1g phối hợp với Ceftazidim 1g ngâm  trong túi dịch ban đêm.  

+  Đáp  ứng  điều  trị:  khi  dịch  đục  trở  nên  trong,  đánh  giá  bằng  mắt  thường,  xét  nghiệm  dịch thẩm phân có dưới 100 bạch cầu/1 ml dịch  + Không đáp ứng là sau khi đã dùng những  loại  kháng  sinh  có  thể,  nhưng  tình  trạng  viêm  phúc mạc không cải thiện, dịch thẩm phân vẫn  còn đục/mờ. 

+ Kết thúc 1 ca nghiên cứu: khi kết thúc đợt  điều trị kháng sinh đối với những trường hợp có  đáp  ứng  kháng  sinh  hoặc  khi  rút  catheter 

Trang 3

Tenckhoff  hoặc  bệnh  nhân  tử  vong  đối  với 

những trường hợp không đáp ứng kháng sinh. 

Các  số  liệu  được  khảo  sát  tính  chuẩn,  trình 

bày  trung  vị  và  các  khoảng  dao  động.  Dùng 

thống kê mô tả xác định tần suất các biến số. Sử 

dụng phần mềm Excel và SPSS để nhập số liệu 

và phân tích số liệu. Các phép kiểm thống kê có 

ngưỡng có ý nghĩa được chọn là p < 0,05. 

KẾT QUẢ 

Trong  ba  năm  từ  01/01/2009  đến  31/12/2011 

có  650  bệnh  nhân  được  điều  trị  thay  thế  thận 

bằng  phương  pháp  thẩm  phân  phúc  mạc  liên 

tục  ngoại  trú  (CAPD)  tại  khoa  Thận  bệnh  viện 

Chợ Rẫy. Trong 650 bệnh nhân này, có 321 đợt 

bệnh nhân bị viêm phúc mạc đã nhập viện điều  trị  tại  khoa  Thận.  321  đợt  viêm  phúc  mạc  này  phân bố cho 253 bệnh nhân. Có 397 bệnh nhân  không  viêm  phúc  mạc  trong  suốt  3  năm.  Các  thông  tin  của  nhóm  bệnh  nhân  không  viêm  phúc mạc được thu thập cắt ngang rải rác ngẫu  nhiên trong một thời điểm giữa  01/01/2009  đến  31/12/2011. 

Đặc điểm nhân trắc học của mẫu nghiên cứu  được trình bày trong bảng 1. Nhóm viêm phúc  mạc  có  tỷ  lệ  nữ  cao  hơn  so  với  nhóm  không  viêm phúc mạc (p=0,009). 

Bảng 1. So sánh đặc điểm của 2 nhóm viêm phúc mạc và nhóm không viêm phúc mạc 

Tính  từ  ngày  01/01  đến  31/12  của  mỗi  năm 

từ  2009  đến  2011,  số  bệnh  nhân  được  điều  trị 

thẩm phân phúc mạc tại BV Chợ Rẫy là 421, 480, 

546 bệnh nhân tương ứng theo từng năm. Có 76 

đợt  viêm  phúc  mạc  trong  năm  2009,  116  đợt 

trong năm 2010 và 129 đợt trong năm 2011.Tỷ lệ 

viêm  phúc  mạc  theo  đổi  theo  từng  năm  được 

biểu hiện trong bảng 2. 

Bảng 2. Tỷ lệ viêm phúc mạc theo từng năm 

Năm

Số bệnh nhân điều trị trong năm

Tổng thời gian điều trị bằng thẩm

phân phúc mạc (tính theo năm)

tất cả bệnh nhân trong năm

213,01 241,29 224,30

Số trường hợp viêm phúc mạc 76 116 129

Tỷ lệ viêm phúc mạc

(đợt / bệnh nhân – năm) 0,357 0,481 0,575

Dịch  thẩm  phân  phúc  mạc  của  bệnh  nhân  viêm phúc mạc được xét nghiệm vi trùng học  ngay  lúc  nhập  viện  trước  khi  sử  dụng  kháng  sinh.  Các  xét  nghiệm  vi  sinh  được  áp  dụng  thường quy cho hầu như tất cả các trường hợp  gồm  có:  nhuộm  gram,  cấy  tìm  vi  trùng,  soi  tươi tìm nấm. Kết quả nhuộm gram dịch thẩm  phân phúc mạc lúc bệnh nhân nhập viện được  trình bày trong bảng 4 và bảng 5. 

Bảng 4. số loại vi khuẩn dương tính trong kết quả 

nhuộm gram 

Nhuộm gram

Tổng số đợt VPM (n=321)

Năm

p

2009 (n=76)

2010 (n=116)

2011 (n=129)

Dương tính 33 [10,3%] 7 [9,2%]

18 [15,5%] 8 [6,2%] 0,041

1 loại vi khuẩn 29 [9%] 5 [6,6%]

16 [13,8%] 8 [6,2%] 0,036

2 loại vi khuẩn 3 [0,9%] 1 [1,3%] 2 [1,7%] 0 0,441

3 loại vi khuẩn 1 [0,3%] 1 [1,3%] 0 0 0,063

Trang 4

Nhuộm gram (n=38) Số ca

Năm

p

2009 (n=10)

2010 (n=20)

2011 (n=8)

Cầu trùng

Trực trùng

Cầu trùng

Trực trùng

Có  117/321  đợt  bệnh  nhân  cho  kết  quả  cấy 

dịch thẩm phân dương tính. Vi trùng gram âm 

thường gặp hơn vi trùng gram dương. Các loại 

vi trùng từ các kết quả này được trình bày trong 

bảng 6.  

Bảng 6. tỷ lệ các loại tác nhân gây viêm phúc mạc 

Vi khuẩn

Số trường hợp cấy dương tính (n=117)

Tỷ lệ

Staphylococcus coagulase negative 8 2,5%

Staphylococcus haemolyticus 1 0,3%

Streptococcus tiêu huyết nhóm B 1 0,3%

Ngay khi bệnh nhân vừa nhập viện được lấy  dịch  thẩm  làm  xét  nghiệm  xong.  Bệnh  nhân  sẽ  được ngâm dịch thẩm phân có pha kháng sinh.  Thời điểm được bắt đầu điều  trị  kháng  sinh  từ  khi khởi đầu có triệu chứng viêm phúc mạc: 1,17 

± 1,40 ngày (0 ngày – 7 ngày). 

Các  phối  hợp  kháng  sinh  ban  đầu  được  sử  dụng  khi  bệnh  nhân  nhập  viện  được  liệt  kê  trong bảng 7. 

Bảng 7. Các phối hợp kháng sinh ban đầu cho bệnh 

nhân viêm phúc mạc 

STT Kháng sinh (n=321) Số ca

Năm

2009 (n=76)

2010 (n=116)

2011 (n=129)

1 Cefazoline + Ceftazidime [92,5%] 297 [98,7%] 75 [93,1%]108 [88,4%]114

2 Ciprofloxacin + Imipenem [4,4%] 14 [0%] 0 [2,6%] 3 11 [8,5%]

3 Các phối hợp khác [3,1%] 10 [1,3%] 1 [4,3%] 5 [3,1%] 4 Sau  khởi  đầu  sử  dụng  kháng  sinh  ban  đầu  theo khuyến cáo, đánh giá đáp ứng kháng sinh  sau 48 – 72 giờ. Những  trường  hợp  không  đáp  ứng sau 72 – 96 giờ sẽ được đổi sang các kháng  sinh  khác.  Lựa  chọn  kháng  sinh  thay  thế  khác  dựa theo kết quả kháng sinh đồ, cơ địa, dịch tể,  kinh nghiệm. Tỷ lệ đáp ứng kháng sinh ngâm ổ  bụng (kháng sinh ban đầu hoặc kháng sinh thay  thế) là 86% (bảng 8). 

Bảng 8. Tỷ lệ đáp ứng kháng sinh  

Đáp ứng điều

Năm

p

2009 (n=76)

2010 (n=116)

2011 (n=129)

Có đáp ứng [86%] 276 [89,5%] 68 [81,9%] 95 [87,6%]113

0,252 Không đáp ứng 45 [14%][10,5%] 8 [18,1%] 21 [12,4%]16

Tỷ  lệ  các  phối  hợp  kháng  sinh  có  đáp  ứng  được liệt kê cụ thể trong bảng 9. 

Bảng 9. Các phối hợp kháng sinh có tỷ lệ đáp ứng cao 

nhất 

Năm

2009 (n=76)

2010 (n=116)

2011 (n=129)

1 Cefazolin + Ceftazidime [61,4%] 197 [72,4%] 55 [57,8%]67 [58,1%]75

2 Imipenem + Ciprofloxacin

35 [10,9%] 3 [3,9%] 5 [4,3%]

27 [20,9%]

Trang 5

STT Kháng sinh (n=321) Số ca

Năm

2009 (n=76)

2010 (n=116)

2011 (n=129)

3 Imipenem +

Amikacin 10 [3,1%] 2 [2,6%] 6 [5,2%] [1,6%]2

4 Imipenem +

Vancomycin 5 [1,6%] 0 [0.0%] 4 [3,4%]

1 [0,8%]

5 Imipenem +

Ciprofloxacin +

Vancomycin 3 [0,9%] 0 [0.0%] 0 [0,0%]

3 [2,3%]

6

Imipenem +

Vancomycin +

Amikacin 3 [0,9%] 0 [0.0%] 2 [1,7%]

1 [0,8%]

7 Vancomycin 3 [0,9%] 0 [0.0%] 3 [2,6%] [0,0%]0

8 Các phối hợp

khác 15 [4,7%] 5 [1,3%] 6 [0,9%]

4 [0,0%]

Số  ngày  dịch  trong  sau  khởi  động  kháng 

sinh có đáp ứng: 2,8 ± 1,5 ngày (1 – 7 ngày). Đa 

số  các  trường  hợp  dịch  trong  sau  4  ngày,  tuy 

nhiên một số trường hợp dịch trong sau 7 ngày. 

Những trường hợp này có thể có dịch cải thiện 

chậm, ngày thứ 4 dịch bớt đục hơn so với ngày 

đầu nhập viện nên vẫn được duy trì kháng sinh 

theo dõi thêm 3 ngày. Các vi khuẩn gram dương 

có tỷ lệ đáp ứng cao hơn (96,2%) so với vi khuẩn 

gram âm (83,1%) (p=0,025) 

Có  297  trường  hợp  được  sử  dụng  Cephazoline  + 

Ceftazidime  ngay  từ  đầu,  trong  đó,  197  trường  hợp 

có  đáp  ứng  ngay  từ  đầu  với  hai  kháng  sinh  này, 

không  cần  đổi  kháng  sinh.  Tỷ  lệ  đáp  ứng  của  hai 

kháng sinh này là 66,3% (bảng 10). 

Bảng 10. Hiệu quả phối hợp cephazolin + ceftazidim 

Cephazoline +

Ceftazidim khởi

đầu điều trị

2009 2010 2011 Khởi phát 297 75 108 114 0,232

Tỷ lệ đáp ứng 66,3% 73,33% 62% 65,8%

BÀN LUẬN 

Tỷ lệ viêm phúc mạc tăng dần trong 3 năm 

nghiên cứu của chúng tôi (từ 0,357 tăng lên đến 

0,575).  Điều  này  chứng  tỏ  tình  hình  bệnh  nhân 

có  nguy  cơ  viêm  phúc  mạc  gia  tăng.  Theo  các 

nghiên  cứu  trong  nước  của  tác  giả  Phạm  Văn 

Bùi(15),  tỷ  lệ  viêm  phúc  mạc  của  chúng  tôi  cao 

hơn  đáng  kể,  mặc  dù  độ  tuổi  của  dân  số  viêm 

phúc mạc của hai nghiên cứu xấp xỉ nhau. Tình 

hình  tỷ  lệ  viêm  phúc  mạc  tăng  theo  thời  gian 

cũng gặp trong nghiên cứu của Ghaly khi tỷ lệ  viêm phúc mạc tăng từ 0,47 đợt/bệnh nhân‐năm  vào  những  năm  1995  –  2002  lên  0,60  đợt/bệnh  nhân‐năm  vào  những  năm  2003  –  2008(2).  Tuy  nhiên, tốc độ tăng của tỷ lệ viêm phúc mạc của  chúng  tôi  nhanh  hơn.  Trong  khi  đó,  trong  nghiên  cứu  của  Dong  Ki  Kim,  tỷ  lệ  viêm  phúc  mạc  giảm  dần  theo  thời  gian  trong  10  năm  từ 

1992 đến 2001(6) nhờ vào những cải tiến kỹ thuật  như sự ra đời của hệ thống túi đôi. Tuy nhiên, tỷ 

lệ  viêm  phúc  mạc  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  thấp  hơn  so  với  các  nghiên  cứu  của  các  tác  giả khác như Kavanagh(4) hay Santoianni(13). Mặc 

dù  nghiên  cứu  của  2  tác  giả  này  bao  gồm  cả  những  bệnh  nhân  được  điều  trị  theo  chế  độ  APD,  nhưng  tỷ  lệ  viêm  phúc  mạc  vẫn  cao  hơn 

so với nghiên cứu của chúng tôi. 

Nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ bệnh nhân  viêm  phúc  mạc  là  nữ  giới  cao  hơn  so  với  nam  giới (38,9% nam/61,1% nữ). Trong khi tỷ lệ nam  giới cao hơn nữ ở dân số chung của tất cả những  bệnh nhân CAPD tại Bệnh viện Chợ Rẫy(52,3%  nam/47,7%  nữ).  Điều  này  gợi  ý  phụ  nữ  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  dễ  mắc  viêm  phúc  mạc hơn so với nam giới. Trong các nghiên cứu  của Davenport(1), Kofteridis(7) và Dong Ki Kim(6), 

tỷ  lệ  nam  giới  trong  dân  số  viêm  phúc  mạc  chiếm ưu thế so với nữ giới. Trong nhiều nghiên  cứu, tuổi càng cao thì tỷ lệ viêm phúc mạc càng  cao(3), tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu cho  thấy tỷ lệ viêm phúc mạc cũng có thể không bị  ảnh hưởng đơn thuần theo tuổi(11). Vì vậy, cần có  thêm những khảo sát để tìm hiểu thêm về tỷ lệ  viêm  phúc  mạc  cao  của  nữ  giới  ở  bệnh  viện  chúng tôi. 

Các  khuyến  cáo  về  tỷ  lệ  cấy  vi  khuẩn  âm  tính  đối  với  mẫu  dịch  viêm  phúc  mạc  của  một  trung tâm CAPD đều được đề nghị dưới 20%(9).  Cấy vi khuẩn trong nghiên cứu chúng tôi được  tiến hành ngay khi nhập viện và trước khi ngâm  kháng sinh cho kết quả 37,1% dương tính. Tỷ lệ  cấy âm tính cao làm thay đổi tỷ lệ các vi khuẩn  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  so  với  các  nghiên  cứu  khác.  Do  đó,  tỷ  lệ  cấy  âm  tính  cần 

Trang 6

được  cải  thiện  để  giảm  thấp  hơn,  giúp  điều  trị 

hiệu  quả  hơn.  Cấy  vi  khuẩn  tại  bệnh  viện  Chợ 

Rẫy hiện nay được tiến hành bằng kỹ thuật quay 

ly tâm 100 – 150 ml dịch thẩm phân. Tuy nhiên, 

vào  thời  điểm  khảo  sát  trong  nghiên  cứu  của 

chúng tôi, các mẫu dịch chưa được quay ly tâm, 

hoặc chỉ quay ly tâm một phần nhỏ lượng dịch 

trước khi cấy do chưa có máy quay ly tâm phù 

hợp.  Trong  cùng  thời  điểm  nghiên  cứu  của 

chúng tôi khảo sát, có một nghiên cứu sử dụng 

hai mẫu cấy dịch thẩm phân, một mẫu cấy theo 

phương  pháp  cũ  và  một  mẫu  cấy  dịch  thẩm 

phân bằng chai môi trường Bactec để cấy máu. 

Tuy  nhiên  trong  quá  trình  thu  thập  số  liệu, 

chúng tôi không ghi nhận được trường hợp nào 

khác nhau giữa hai phương pháp cấy dịch thẩm 

phân này.  

Trong  các  nghiên  cứu  khác,  tỷ  lệ  vi  khuẩn 

gram dương luôn chiếm ưu thế so với vi khuẩn 

gram âm. Điểm đặc biệt là trong các nghiên cứu 

của các tác giả khác, kết quả cấy thường cho tỷ lệ 

Staphylococcus  rất  cao(10)  (50  –  60%  tổng  số  các 

trường hợp cấy dương tính). Trong nghiên cứu 

của  chúng  tôi  Staphylococcus  chỉ  chiếm  11,1%. 

Như vậy có thể do tỷ lệ cấy âm tính cao làm tỷ lệ 

vi  khuẩn  trong  nghiên  cứu  chúng  tôi  khác  với 

các kết quả khác. Vì vậy, cần xem xét điều kiện 

cấy  nào  dễ  tạo  điều  kiện  để  Staphylococcus  mọc 

để  giúp  giảm  tỷ  lệ  cấy  âm  tính.  Kết  quả  cấy  vi 

khuẩn âm tính cao trong nghiên cứu của chúng 

tôi cũng tương tự như trong nghiên cứu của tác 

giả Sirivongs(14). Vấn đề cấy âm tính có lẽ là vấn 

đề chung của vùng Đông  Nam  Á,  chưa  có  đầy 

đủ các phương tiện để cho kết quả cấy cao hơn. 

Tỷ lệ viêm phúc mạc có kết quả cấy vi khuẩn 

âm  tính  hiện  nay  trên  thế  giới  đã  giảm  với  các 

cải tiến trong kỹ thuật nuôi cấy. Khuyến cáo của 

ISPD là tỷ lệ cấy âm tính tại các trung tâm thẩm 

phân phúc mạc nên thấp hơn 20%, nếu tỷ lệ cấy 

âm tính cao hơn cần xem lại kỹ thuật nuôi cấy(12). 

Cấy  nhiều  lần  đôi  khi  giúp  cho  kết  quả  dương 

tính.  Có  nhiều  cuộc  tranh  luận  về  các  nguyên 

nhân  của  kết  quả  cấy  âm  tính,  nhưng  trong 

nhiều  nghiên  cứu  cho  thấy  đa  số  là  do  các  vi  khuẩn gram dương. 

Trong  có  nghiên  cứu  trước  đây,  có  khoảng  60%  đến  90%  những  đợt  viêm  phúc  mạc  được  điều  trị  khỏi  bằng  kháng  sinh(8).  Trong  nghiên  cứu của chúng tôi điều trị nội khoa với các loại  kháng sinh cho tỷ lệ đáp ứng 86% trong nghiên  cứu của chúng tôi, tương tự như với các nghiên  cứu  khác,  mặc  dù  kết  quả  cấy  âm  tính  của  nghiên  cứu  chúng  tôi  cao  hơn  các  nghiên  cứu  của các tác giả khác.  

Cặp  kháng  sinh  cephazolin  và  ceftazidim  cho  hiệu  quả  đáp  ứng  66,3%  trong  tổng  số  các  trường  hợp  được  sử  dụng.  Đây  là  hai  kháng  sinh  rẻ  tiền,  ít  tác  dụng  phụ  hơn  so  với  các  kháng  sinh  khác.  Cặp  kháng  sinh  ciprofloxacin 

và  imipenem  có  tỷ  lệ  đáp  ứng  cao  hơn  71,4%  được  dành  cho  những  trường  hợp  nặng  và  là  cặp  kháng  sinh  thay  thế  cho  cặp  cephazolin  và  fortum khi có tình trạng không đáp ứng. 

KẾT LUẬN 

Qua  nghiên  cứu  321  bệnh  nhân  viêm  phúc  mạc  ở  bệnh  nhân  suy  thận  mạn  giai  đoạn  cuối  được  điều  trị  thay  thế  thận  bằng  phương  pháp  CAPD, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ viêm phúc mạc  hiện  nay  là  khoảng  0,575  đợt/bệnh  nhân‐năm. 

Và tỷ lệ này đang tăng dần lên. Cấy dịch thẩm  phân có tỷ lệ dương tính thấp (36,4%). Vi khuẩn  thường  gặp  nhất  là  vi  khuẩn  gram  âm.  Kháng  sinh hiệu quả, có lợi và kinh tế nhất là cặp kháng  sinh cephazoline và ceftazidime. Tỷ lệ đáp  ứng  khi  sử  dụng  cặp  kháng  sinh  này  là  66,3%.  Sử  dụng kháng sinh có đáp ứng đối với 86% trường  hợp, chứng tỏ kháng sinh là biện pháp hữu hiệu 

để  điều  trị  viêm  phúc  mạc  ở  bệnh  nhân  thẩm  phân phúc mạc. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1.  Davenport  A  (2009)  ʺPeritonitis  remains  the  major  clinical  complication  of  peritoneal  dialysis:  the  London,  UK,  peritonitis audit 2002‐2003ʺ. Peritoneal dialysis international:  journal  of  the  International  Society  for  Peritoneal  Dialysis, 

2009. 29(3): pp. 297‐302. 

2.  Ghali  JR,  et  al.  (2011)  ʺMicrobiology  and  outcomes  of  peritonitis  in  Australian  peritoneal  dialysis  patientsʺ.  Peritoneal  dialysis  international:  journal  of  the  International  Society for Peritoneal Dialysis, 2011. 31(6): pp. 651‐62. 

Trang 7

3.  Holley JL, et al. (1994) ʺA comparison of infection rates among 

older  and  younger  patients  on  continuous  peritoneal 

dialysisʺ.  Peritoneal  dialysis  international:  journal  of  the 

International  Society  for  Peritoneal  Dialysis,  1994.  14(1):  pp. 

66‐9. 

4.  Kavanagh  D,  et  al.  (2004)  ʺPeritoneal  dialysis‐associated 

peritonitis  in  Scotland  (1999‐2002)ʺ.  Nephrology,  dialysis, 

transplantation:  official  publication  of  the  European  Dialysis 

and  Transplant  Association  ‐  European  Renal  Association, 

2004. 19(10): pp. 2584‐91. 

5.  Keane  WF,  et  al.  (2000)  ʺAdult  peritoneal  dialysis‐related 

peritonitis  treatment  recommendations:  2000  updateʺ. 

Peritoneal  dialysis  international:  journal  of  the  International 

Society for Peritoneal Dialysis, 2000. 20(4): pp. 396‐411. 

6.  Kim  DK,  et  al.  (2004)  ʺChanges  in  causative  organisms  and 

their  antimicrobial  susceptibilities  in  CAPD  peritonitis:  a 

single  centerʹs  experience  over  one  decadeʺ.  Peritoneal 

dialysis international: journal of the International Society  for 

Peritoneal Dialysis, 2004. 24(5): pp. 424‐32. 

7.  Kofteridis  DP,  et  al.  (2010)  ʺPeritoneal  dialysis‐associated 

peritonitis:  clinical  features  and  predictors  of  outcomeʺ. 

International  journal  of  infectious  diseases:  IJID:  official 

publication  of  the  International  Society  for  Infectious 

Diseases, 2010. 14(6): pp. e489‐93. 

8.  Krishnan  M,  et  al.  (2002)  ʺPredictors  of  outcome  following 

bacterial peritonitis in peritoneal dialysisʺ. Peritoneal dialysis 

international:  journal  of  the  International  Society  for 

Peritoneal Dialysis, 2002. 22(5): pp. 573‐81. 

9.  Li  PK,  et  al.  (2010)  ʺPeritoneal  dialysis‐related  infections 

recommendations:  2010  updateʺ.  Peritoneal  dialysis 

international:  journal  of  the  International  Society  for  Peritoneal Dialysis, 2010. 30(4): pp. 393‐423. 

10.  Mujais S (2006) ʺMicrobiology and outcomes of peritonitis in  North Americaʺ. Kidney international Supplement, 2006(103): 

pp. S55‐62. 

11.  Nessim  SJ,  et  al.  (2009)  ʺImpact  of  age  on  peritonitis  risk  in  peritoneal dialysis patients: an era  effectʺ.  Clinical  journal  of  the American Society of Nephrology: CJASN, 2009. 4(1): pp.  135‐41. 

12.  Piraino  B,  et  al.  (2005)  ʺPeritoneal  dialysis‐related  infections  recommendations:  2005  updateʺ.  Peritoneal  dialysis  international:  journal  of  the  International  Society  for  Peritoneal Dialysis, 2005. 25(2): pp. 107‐31. 

13.  Santoianni  JE,  et  al.  (2008)  ʺA  15  year‐review  of  peritoneal  dialysis‐related  peritonitis:  microbiological  trends  and  patterns  of  infection  in  a  teaching  hospital  in  Argentinaʺ.  Revista Argentina de microbiologia, 2008. 40(1): pp. 17‐23. 

14.  Sirivongs  D,  et  al.  (2006)  ʺRisk  factors  of  first  peritonitis  episode  in  Thai  CAPD  patientsʺ.  Journal  of  the  Medical  Association  of  Thailand  =  Chotmaihet  thangphaet,  2006.  89  Suppl 2: pp. S138‐45. 

15.  Van Bui P (2008) ʺHow peritoneal dialysis has developed in  Vietnamʺ.  Peritoneal  dialysis  international:  journal  of  the  International Society for Peritoneal Dialysis, 2008. 28 Suppl 3: 

pp. S63‐6. 

 

Ngày nhận bài báo      16‐09‐2012  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  23‐03‐2013  Ngày bài báo được đăng:   20–04‐2013 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w