Nội dung bài viết với mục tiêu xác định tỷ lệ viêm phúc mạc, tỷ lệ các loại vi trùng gây viêm phúc mạc và đáp ứng kháng sinh điều trị viêm phúc mạc ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối đang được điều trị bằng thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú.
Trang 1KHẢO SÁT VI TRÙNG HỌC VÀ ĐÁP ỨNG KHÁNG SINH ĐIỀU TRỊ VIÊM PHÚC MẠC Ở BỆNH NHÂN THẨM PHÂN PHÚC MẠC LIÊN TỤC
NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
Trần Lê Quân*
TÓM TẮT
Mở đầu: Viêm phúc mạc là một trong những biến chứng quan trọng hàng đầu của bệnh nhân thẩm phân
phúc mạc liên tục ngoại trú.
‐ Mục tiêu: Xác định tỷ lệ viêm phúc mạc, tỷ lệ các loại vi trùng gây viêm phúc mạc và đáp ứng kháng sinh
điều trị viêm phúc mạc ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối đang được điều trị bằng thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú.
Phương pháp nghiên cứu: đòan hệ hồi cứu.
Kết quả: Trong ba năm từ 01/01/2009 đến 31/12/2011 có 650 bệnh nhân được điều trị thay thế thận bằng
phương pháp CAPD tại khoa Thận, bệnh viện Chợ Rẫy, trong đó có 321 đợt bệnh nhân bị viêm phúc mạc đã nhập viện điều trị. Tỷ lệ viêm phúc mạc cho các năm 2009, 2010, và 2011 lần lượt là 0,357; 0,481 và 0,575. Tỷ lệ cấy dịch thẩm phân dương tính là 36,4% (vi trùng gram dương chiếm 16,2%, vi trùng gram âm chiếm 20,2%).
Có 276/321 (86%) trường hợp đáp ứng kháng sinh. Vi trùng gram dương có tỷ lệ đáp ứng kháng sinh cao hơn
so với vi trùng gram âm (96,2% so với 83,1%, p = 0,025). Phối hợp kháng sinh hiệu quả nhất là cephazoline và ceftazidime.
Kết luận: tỷ lệ viêm phúc mạc hiện nay là khoảng 0,575 đợt/bệnh nhân‐năm. Vi khuẩn thường gặp nhất là
vi khuẩn gram âm. Kháng sinh hiệu quả, có lợi và kinh tế nhất là cặp kháng sinh cephazoline và ceftazidime.
Từ khóa: viêm phúc mạc, thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú, vi trùng, đáp ứng kháng sinh
ABSTRACT
BACTERIA AND ANTIBIOTIC RESPONSE OF PERITONITIS IN CAPD PATIENTS OF CHORAY
HOSPITAL
Tran Le Quan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 97 ‐ 103
Background: Peritonitis is still one of the most important complications of continuous ambulatory
peritoneal dialysis (CAPD).
‐ Objective: calculate the peritonitis rate of CAPD patients, rate of agents that cause peritonitis and of
antibiotic response of CAPD peritonitis patients.
Method: retrospective cohort.
Results: From 01/01/2009 to 12/31/2011 there were 650 patients followed the CAPD program in
Nephrology Department of ChoRay hospital. There were 321 cases of peritonitis admitted. The peritonitis rate of the year 2009, 2010 and 2011 was 0.357, 0.481 and 0.575 patient‐year respectively. Positve culture rate was 36.4% (including 16.2% gram positive and 20.2% gram negative bacteria). 276/321 cases (86%) responsed to antibiotic treatment. Gram positive bacteria had higher response rate than gram negative one (96.2% vs 83.1%, p
= 0.025). Most effective antibiotic combination was cefazolin and ceftazidime.
Conclusion: the peritonitis rate of CAPD patients was 0.575 patient‐year. Most popular bacteria were gram
* Khoa Thận, Bệnh viện Chợ Rẫy
Tác giả liên lạc: BS Trần Lê Quân ĐT: 0906623939 Email: tlquan4@gmail.com
Trang 2Keywords: peritonitis, continuous ambulatory peritonium dialysis, bacteria, antibiotic response
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm phúc mạc là một trong những biến
chứng quan trọng hàng đầu của bệnh nhân
thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú
(CAPD)(5). Các loại vi trùng gây bệnh và đáp
ứng kháng sinh là mối quan tâm hàng đầu khi
điều trị viêm phúc mạc ở bệnh nhân CAPD. Tuy
nhiên, chưa có nghiên cứu đánh giá việc điều trị
viêm phúc mạc đặc thù với tình hình đề kháng
kháng sinh tại Việt Nam. Do đó cần có một
nghiên cứu đánh giá tình hình điều trị viêm
phúc mạc và các kết quả của điều trị, để từ đó có
thể có nhận định tốt hơn về tình hình điều trị
viêm phúc mạc ở những bệnh nhân thẩm phân
phúc mạc.
Nghiên cứu này phân tích tần suất viêm
phúc mạc, tần suất các tác nhân vi sinh, độ nhạy
cảm của chúng với kháng sinh và kết quả điều
trị viêm phúc mạc. Qua đó có thể giúp các thầy
thuốc lâm sàng có cái nhìn rõ hơn về các chủng
vi khuẩn gây bệnh, đáp ứng của các chủng vi
khuẩn đối với kháng sinh, hiệu quả điều trị và
giúp các thầy thuốc có hướng chọn lựa kháng
sinh khởi đầu theo kinh nghiệm tốt hơn, theo
tình hình nước ta.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tỷ lệ viêm phúc mạc ở bệnh nhân
suy thận mạn giai đoạn cuối đang được điều trị
bằng thẩm phân phúc mạc liên tục ngoại trú.
Khảo sát tỷ lệ các loại vi trùng gây viêm
phúc mạc ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn
cuối đang được điều trị bằng thẩm phân phúc
mạc liên tục ngoại trú.
Khảo sát đáp ứng một số kháng sinh điều trị
viêm phúc mạc ở bệnh nhân suy thận mạn giai
đoạn cuối đang được điều trị bằng thẩm phân
phúc mạc liên tục ngoại trú.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu là một nghiên cứu hồi cứu mô tả
khảo sát những bệnh nhân thẩm phân phúc mạc
liên tục ngoại trú bị viêm phúc mạc phải nhập
khoa Nội Thận Bệnh viện Chợ Rẫy trong thời gian 3 năm từ đầu 2009 đến cuối 2011.
Phương pháp thu thập số liệu
Hồi cứu hồ sơ bệnh nhân.
Tiêu chuẩn loại trừ:
‐ Những bệnh nhân đã được chẩn đoán viêm phúc mạc từ các bệnh viện khác chuyển đến
‐ Những bệnh nhân bị viêm phúc mạc sau khi được đặt catheter Tenckhoff trong vòng 14 ngày.
‐ Những bệnh nhân viêm phúc mạc tử vong trong vòng 48 giờ kể từ lúc nhập viện.
‐ Những bệnh nhân có đợt viêm phúc mạc xuất hiện trong vòng 28 ngày kể từ lúc kết thúc điều trị đợt viêm phúc mạc trước và có kết quả cấy vi khuẩn của 2 đợt giống nhau thì gọi là viêm phúc mạc tái phát và vẫn được tính là liên tục với đợt viêm phúc mạc trước đó, không tính
là một đợt viêm phúc mạc mới(12). Định nghĩa một số biến số:
+ Cấy: lấy 50ml dịch thẩm phân quay ly tâm
3000 vòng trong thời gian 15 phút và đưa cặn lắng vào môi trường cấy.
+ Kháng sinh ban đầu: kháng sinh theo phác
đồ, được sử dụng ngay khi có khả năng chẩn đoán viêm phúc mạc. Tại bệnh viện Chợ Rẫy, kháng sinh ban đầu theo phác đồ bao gồm: Cephazolin 1g phối hợp với Ceftazidim 1g ngâm trong túi dịch ban đêm.
+ Đáp ứng điều trị: khi dịch đục trở nên trong, đánh giá bằng mắt thường, xét nghiệm dịch thẩm phân có dưới 100 bạch cầu/1 ml dịch + Không đáp ứng là sau khi đã dùng những loại kháng sinh có thể, nhưng tình trạng viêm phúc mạc không cải thiện, dịch thẩm phân vẫn còn đục/mờ.
+ Kết thúc 1 ca nghiên cứu: khi kết thúc đợt điều trị kháng sinh đối với những trường hợp có đáp ứng kháng sinh hoặc khi rút catheter
Trang 3Tenckhoff hoặc bệnh nhân tử vong đối với
những trường hợp không đáp ứng kháng sinh.
Các số liệu được khảo sát tính chuẩn, trình
bày trung vị và các khoảng dao động. Dùng
thống kê mô tả xác định tần suất các biến số. Sử
dụng phần mềm Excel và SPSS để nhập số liệu
và phân tích số liệu. Các phép kiểm thống kê có
ngưỡng có ý nghĩa được chọn là p < 0,05.
KẾT QUẢ
Trong ba năm từ 01/01/2009 đến 31/12/2011
có 650 bệnh nhân được điều trị thay thế thận
bằng phương pháp thẩm phân phúc mạc liên
tục ngoại trú (CAPD) tại khoa Thận bệnh viện
Chợ Rẫy. Trong 650 bệnh nhân này, có 321 đợt
bệnh nhân bị viêm phúc mạc đã nhập viện điều trị tại khoa Thận. 321 đợt viêm phúc mạc này phân bố cho 253 bệnh nhân. Có 397 bệnh nhân không viêm phúc mạc trong suốt 3 năm. Các thông tin của nhóm bệnh nhân không viêm phúc mạc được thu thập cắt ngang rải rác ngẫu nhiên trong một thời điểm giữa 01/01/2009 đến 31/12/2011.
Đặc điểm nhân trắc học của mẫu nghiên cứu được trình bày trong bảng 1. Nhóm viêm phúc mạc có tỷ lệ nữ cao hơn so với nhóm không viêm phúc mạc (p=0,009).
Bảng 1. So sánh đặc điểm của 2 nhóm viêm phúc mạc và nhóm không viêm phúc mạc
Tính từ ngày 01/01 đến 31/12 của mỗi năm
từ 2009 đến 2011, số bệnh nhân được điều trị
thẩm phân phúc mạc tại BV Chợ Rẫy là 421, 480,
546 bệnh nhân tương ứng theo từng năm. Có 76
đợt viêm phúc mạc trong năm 2009, 116 đợt
trong năm 2010 và 129 đợt trong năm 2011.Tỷ lệ
viêm phúc mạc theo đổi theo từng năm được
biểu hiện trong bảng 2.
Bảng 2. Tỷ lệ viêm phúc mạc theo từng năm
Năm
Số bệnh nhân điều trị trong năm
Tổng thời gian điều trị bằng thẩm
phân phúc mạc (tính theo năm)
tất cả bệnh nhân trong năm
213,01 241,29 224,30
Số trường hợp viêm phúc mạc 76 116 129
Tỷ lệ viêm phúc mạc
(đợt / bệnh nhân – năm) 0,357 0,481 0,575
Dịch thẩm phân phúc mạc của bệnh nhân viêm phúc mạc được xét nghiệm vi trùng học ngay lúc nhập viện trước khi sử dụng kháng sinh. Các xét nghiệm vi sinh được áp dụng thường quy cho hầu như tất cả các trường hợp gồm có: nhuộm gram, cấy tìm vi trùng, soi tươi tìm nấm. Kết quả nhuộm gram dịch thẩm phân phúc mạc lúc bệnh nhân nhập viện được trình bày trong bảng 4 và bảng 5.
Bảng 4. số loại vi khuẩn dương tính trong kết quả
nhuộm gram
Nhuộm gram
Tổng số đợt VPM (n=321)
Năm
p
2009 (n=76)
2010 (n=116)
2011 (n=129)
Dương tính 33 [10,3%] 7 [9,2%]
18 [15,5%] 8 [6,2%] 0,041
1 loại vi khuẩn 29 [9%] 5 [6,6%]
16 [13,8%] 8 [6,2%] 0,036
2 loại vi khuẩn 3 [0,9%] 1 [1,3%] 2 [1,7%] 0 0,441
3 loại vi khuẩn 1 [0,3%] 1 [1,3%] 0 0 0,063
Trang 4Nhuộm gram (n=38) Số ca
Năm
p
2009 (n=10)
2010 (n=20)
2011 (n=8)
Cầu trùng
Trực trùng
Cầu trùng
Trực trùng
Có 117/321 đợt bệnh nhân cho kết quả cấy
dịch thẩm phân dương tính. Vi trùng gram âm
thường gặp hơn vi trùng gram dương. Các loại
vi trùng từ các kết quả này được trình bày trong
bảng 6.
Bảng 6. tỷ lệ các loại tác nhân gây viêm phúc mạc
Vi khuẩn
Số trường hợp cấy dương tính (n=117)
Tỷ lệ
Staphylococcus coagulase negative 8 2,5%
Staphylococcus haemolyticus 1 0,3%
Streptococcus tiêu huyết nhóm B 1 0,3%
Ngay khi bệnh nhân vừa nhập viện được lấy dịch thẩm làm xét nghiệm xong. Bệnh nhân sẽ được ngâm dịch thẩm phân có pha kháng sinh. Thời điểm được bắt đầu điều trị kháng sinh từ khi khởi đầu có triệu chứng viêm phúc mạc: 1,17
± 1,40 ngày (0 ngày – 7 ngày).
Các phối hợp kháng sinh ban đầu được sử dụng khi bệnh nhân nhập viện được liệt kê trong bảng 7.
Bảng 7. Các phối hợp kháng sinh ban đầu cho bệnh
nhân viêm phúc mạc
STT Kháng sinh (n=321) Số ca
Năm
2009 (n=76)
2010 (n=116)
2011 (n=129)
1 Cefazoline + Ceftazidime [92,5%] 297 [98,7%] 75 [93,1%]108 [88,4%]114
2 Ciprofloxacin + Imipenem [4,4%] 14 [0%] 0 [2,6%] 3 11 [8,5%]
3 Các phối hợp khác [3,1%] 10 [1,3%] 1 [4,3%] 5 [3,1%] 4 Sau khởi đầu sử dụng kháng sinh ban đầu theo khuyến cáo, đánh giá đáp ứng kháng sinh sau 48 – 72 giờ. Những trường hợp không đáp ứng sau 72 – 96 giờ sẽ được đổi sang các kháng sinh khác. Lựa chọn kháng sinh thay thế khác dựa theo kết quả kháng sinh đồ, cơ địa, dịch tể, kinh nghiệm. Tỷ lệ đáp ứng kháng sinh ngâm ổ bụng (kháng sinh ban đầu hoặc kháng sinh thay thế) là 86% (bảng 8).
Bảng 8. Tỷ lệ đáp ứng kháng sinh
Đáp ứng điều
Năm
p
2009 (n=76)
2010 (n=116)
2011 (n=129)
Có đáp ứng [86%] 276 [89,5%] 68 [81,9%] 95 [87,6%]113
0,252 Không đáp ứng 45 [14%][10,5%] 8 [18,1%] 21 [12,4%]16
Tỷ lệ các phối hợp kháng sinh có đáp ứng được liệt kê cụ thể trong bảng 9.
Bảng 9. Các phối hợp kháng sinh có tỷ lệ đáp ứng cao
nhất
Năm
2009 (n=76)
2010 (n=116)
2011 (n=129)
1 Cefazolin + Ceftazidime [61,4%] 197 [72,4%] 55 [57,8%]67 [58,1%]75
2 Imipenem + Ciprofloxacin
35 [10,9%] 3 [3,9%] 5 [4,3%]
27 [20,9%]
Trang 5STT Kháng sinh (n=321) Số ca
Năm
2009 (n=76)
2010 (n=116)
2011 (n=129)
3 Imipenem +
Amikacin 10 [3,1%] 2 [2,6%] 6 [5,2%] [1,6%]2
4 Imipenem +
Vancomycin 5 [1,6%] 0 [0.0%] 4 [3,4%]
1 [0,8%]
5 Imipenem +
Ciprofloxacin +
Vancomycin 3 [0,9%] 0 [0.0%] 0 [0,0%]
3 [2,3%]
6
Imipenem +
Vancomycin +
Amikacin 3 [0,9%] 0 [0.0%] 2 [1,7%]
1 [0,8%]
7 Vancomycin 3 [0,9%] 0 [0.0%] 3 [2,6%] [0,0%]0
8 Các phối hợp
khác 15 [4,7%] 5 [1,3%] 6 [0,9%]
4 [0,0%]
Số ngày dịch trong sau khởi động kháng
sinh có đáp ứng: 2,8 ± 1,5 ngày (1 – 7 ngày). Đa
số các trường hợp dịch trong sau 4 ngày, tuy
nhiên một số trường hợp dịch trong sau 7 ngày.
Những trường hợp này có thể có dịch cải thiện
chậm, ngày thứ 4 dịch bớt đục hơn so với ngày
đầu nhập viện nên vẫn được duy trì kháng sinh
theo dõi thêm 3 ngày. Các vi khuẩn gram dương
có tỷ lệ đáp ứng cao hơn (96,2%) so với vi khuẩn
gram âm (83,1%) (p=0,025)
Có 297 trường hợp được sử dụng Cephazoline +
Ceftazidime ngay từ đầu, trong đó, 197 trường hợp
có đáp ứng ngay từ đầu với hai kháng sinh này,
không cần đổi kháng sinh. Tỷ lệ đáp ứng của hai
kháng sinh này là 66,3% (bảng 10).
Bảng 10. Hiệu quả phối hợp cephazolin + ceftazidim
Cephazoline +
Ceftazidim khởi
đầu điều trị
2009 2010 2011 Khởi phát 297 75 108 114 0,232
Tỷ lệ đáp ứng 66,3% 73,33% 62% 65,8%
BÀN LUẬN
Tỷ lệ viêm phúc mạc tăng dần trong 3 năm
nghiên cứu của chúng tôi (từ 0,357 tăng lên đến
0,575). Điều này chứng tỏ tình hình bệnh nhân
có nguy cơ viêm phúc mạc gia tăng. Theo các
nghiên cứu trong nước của tác giả Phạm Văn
Bùi(15), tỷ lệ viêm phúc mạc của chúng tôi cao
hơn đáng kể, mặc dù độ tuổi của dân số viêm
phúc mạc của hai nghiên cứu xấp xỉ nhau. Tình
hình tỷ lệ viêm phúc mạc tăng theo thời gian
cũng gặp trong nghiên cứu của Ghaly khi tỷ lệ viêm phúc mạc tăng từ 0,47 đợt/bệnh nhân‐năm vào những năm 1995 – 2002 lên 0,60 đợt/bệnh nhân‐năm vào những năm 2003 – 2008(2). Tuy nhiên, tốc độ tăng của tỷ lệ viêm phúc mạc của chúng tôi nhanh hơn. Trong khi đó, trong nghiên cứu của Dong Ki Kim, tỷ lệ viêm phúc mạc giảm dần theo thời gian trong 10 năm từ
1992 đến 2001(6) nhờ vào những cải tiến kỹ thuật như sự ra đời của hệ thống túi đôi. Tuy nhiên, tỷ
lệ viêm phúc mạc trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với các nghiên cứu của các tác giả khác như Kavanagh(4) hay Santoianni(13). Mặc
dù nghiên cứu của 2 tác giả này bao gồm cả những bệnh nhân được điều trị theo chế độ APD, nhưng tỷ lệ viêm phúc mạc vẫn cao hơn
so với nghiên cứu của chúng tôi.
Nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ bệnh nhân viêm phúc mạc là nữ giới cao hơn so với nam giới (38,9% nam/61,1% nữ). Trong khi tỷ lệ nam giới cao hơn nữ ở dân số chung của tất cả những bệnh nhân CAPD tại Bệnh viện Chợ Rẫy(52,3% nam/47,7% nữ). Điều này gợi ý phụ nữ trong nghiên cứu của chúng tôi dễ mắc viêm phúc mạc hơn so với nam giới. Trong các nghiên cứu của Davenport(1), Kofteridis(7) và Dong Ki Kim(6),
tỷ lệ nam giới trong dân số viêm phúc mạc chiếm ưu thế so với nữ giới. Trong nhiều nghiên cứu, tuổi càng cao thì tỷ lệ viêm phúc mạc càng cao(3), tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ viêm phúc mạc cũng có thể không bị ảnh hưởng đơn thuần theo tuổi(11). Vì vậy, cần có thêm những khảo sát để tìm hiểu thêm về tỷ lệ viêm phúc mạc cao của nữ giới ở bệnh viện chúng tôi.
Các khuyến cáo về tỷ lệ cấy vi khuẩn âm tính đối với mẫu dịch viêm phúc mạc của một trung tâm CAPD đều được đề nghị dưới 20%(9). Cấy vi khuẩn trong nghiên cứu chúng tôi được tiến hành ngay khi nhập viện và trước khi ngâm kháng sinh cho kết quả 37,1% dương tính. Tỷ lệ cấy âm tính cao làm thay đổi tỷ lệ các vi khuẩn trong nghiên cứu của chúng tôi so với các nghiên cứu khác. Do đó, tỷ lệ cấy âm tính cần
Trang 6được cải thiện để giảm thấp hơn, giúp điều trị
hiệu quả hơn. Cấy vi khuẩn tại bệnh viện Chợ
Rẫy hiện nay được tiến hành bằng kỹ thuật quay
ly tâm 100 – 150 ml dịch thẩm phân. Tuy nhiên,
vào thời điểm khảo sát trong nghiên cứu của
chúng tôi, các mẫu dịch chưa được quay ly tâm,
hoặc chỉ quay ly tâm một phần nhỏ lượng dịch
trước khi cấy do chưa có máy quay ly tâm phù
hợp. Trong cùng thời điểm nghiên cứu của
chúng tôi khảo sát, có một nghiên cứu sử dụng
hai mẫu cấy dịch thẩm phân, một mẫu cấy theo
phương pháp cũ và một mẫu cấy dịch thẩm
phân bằng chai môi trường Bactec để cấy máu.
Tuy nhiên trong quá trình thu thập số liệu,
chúng tôi không ghi nhận được trường hợp nào
khác nhau giữa hai phương pháp cấy dịch thẩm
phân này.
Trong các nghiên cứu khác, tỷ lệ vi khuẩn
gram dương luôn chiếm ưu thế so với vi khuẩn
gram âm. Điểm đặc biệt là trong các nghiên cứu
của các tác giả khác, kết quả cấy thường cho tỷ lệ
Staphylococcus rất cao(10) (50 – 60% tổng số các
trường hợp cấy dương tính). Trong nghiên cứu
của chúng tôi Staphylococcus chỉ chiếm 11,1%.
Như vậy có thể do tỷ lệ cấy âm tính cao làm tỷ lệ
vi khuẩn trong nghiên cứu chúng tôi khác với
các kết quả khác. Vì vậy, cần xem xét điều kiện
cấy nào dễ tạo điều kiện để Staphylococcus mọc
để giúp giảm tỷ lệ cấy âm tính. Kết quả cấy vi
khuẩn âm tính cao trong nghiên cứu của chúng
tôi cũng tương tự như trong nghiên cứu của tác
giả Sirivongs(14). Vấn đề cấy âm tính có lẽ là vấn
đề chung của vùng Đông Nam Á, chưa có đầy
đủ các phương tiện để cho kết quả cấy cao hơn.
Tỷ lệ viêm phúc mạc có kết quả cấy vi khuẩn
âm tính hiện nay trên thế giới đã giảm với các
cải tiến trong kỹ thuật nuôi cấy. Khuyến cáo của
ISPD là tỷ lệ cấy âm tính tại các trung tâm thẩm
phân phúc mạc nên thấp hơn 20%, nếu tỷ lệ cấy
âm tính cao hơn cần xem lại kỹ thuật nuôi cấy(12).
Cấy nhiều lần đôi khi giúp cho kết quả dương
tính. Có nhiều cuộc tranh luận về các nguyên
nhân của kết quả cấy âm tính, nhưng trong
nhiều nghiên cứu cho thấy đa số là do các vi khuẩn gram dương.
Trong có nghiên cứu trước đây, có khoảng 60% đến 90% những đợt viêm phúc mạc được điều trị khỏi bằng kháng sinh(8). Trong nghiên cứu của chúng tôi điều trị nội khoa với các loại kháng sinh cho tỷ lệ đáp ứng 86% trong nghiên cứu của chúng tôi, tương tự như với các nghiên cứu khác, mặc dù kết quả cấy âm tính của nghiên cứu chúng tôi cao hơn các nghiên cứu của các tác giả khác.
Cặp kháng sinh cephazolin và ceftazidim cho hiệu quả đáp ứng 66,3% trong tổng số các trường hợp được sử dụng. Đây là hai kháng sinh rẻ tiền, ít tác dụng phụ hơn so với các kháng sinh khác. Cặp kháng sinh ciprofloxacin
và imipenem có tỷ lệ đáp ứng cao hơn 71,4% được dành cho những trường hợp nặng và là cặp kháng sinh thay thế cho cặp cephazolin và fortum khi có tình trạng không đáp ứng.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 321 bệnh nhân viêm phúc mạc ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối được điều trị thay thế thận bằng phương pháp CAPD, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ viêm phúc mạc hiện nay là khoảng 0,575 đợt/bệnh nhân‐năm.
Và tỷ lệ này đang tăng dần lên. Cấy dịch thẩm phân có tỷ lệ dương tính thấp (36,4%). Vi khuẩn thường gặp nhất là vi khuẩn gram âm. Kháng sinh hiệu quả, có lợi và kinh tế nhất là cặp kháng sinh cephazoline và ceftazidime. Tỷ lệ đáp ứng khi sử dụng cặp kháng sinh này là 66,3%. Sử dụng kháng sinh có đáp ứng đối với 86% trường hợp, chứng tỏ kháng sinh là biện pháp hữu hiệu
để điều trị viêm phúc mạc ở bệnh nhân thẩm phân phúc mạc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Davenport A (2009) ʺPeritonitis remains the major clinical complication of peritoneal dialysis: the London, UK, peritonitis audit 2002‐2003ʺ. Peritoneal dialysis international: journal of the International Society for Peritoneal Dialysis,
2009. 29(3): pp. 297‐302.
2. Ghali JR, et al. (2011) ʺMicrobiology and outcomes of peritonitis in Australian peritoneal dialysis patientsʺ. Peritoneal dialysis international: journal of the International Society for Peritoneal Dialysis, 2011. 31(6): pp. 651‐62.
Trang 73. Holley JL, et al. (1994) ʺA comparison of infection rates among
older and younger patients on continuous peritoneal
dialysisʺ. Peritoneal dialysis international: journal of the
International Society for Peritoneal Dialysis, 1994. 14(1): pp.
66‐9.
4. Kavanagh D, et al. (2004) ʺPeritoneal dialysis‐associated
peritonitis in Scotland (1999‐2002)ʺ. Nephrology, dialysis,
transplantation: official publication of the European Dialysis
and Transplant Association ‐ European Renal Association,
2004. 19(10): pp. 2584‐91.
5. Keane WF, et al. (2000) ʺAdult peritoneal dialysis‐related
peritonitis treatment recommendations: 2000 updateʺ.
Peritoneal dialysis international: journal of the International
Society for Peritoneal Dialysis, 2000. 20(4): pp. 396‐411.
6. Kim DK, et al. (2004) ʺChanges in causative organisms and
their antimicrobial susceptibilities in CAPD peritonitis: a
single centerʹs experience over one decadeʺ. Peritoneal
dialysis international: journal of the International Society for
Peritoneal Dialysis, 2004. 24(5): pp. 424‐32.
7. Kofteridis DP, et al. (2010) ʺPeritoneal dialysis‐associated
peritonitis: clinical features and predictors of outcomeʺ.
International journal of infectious diseases: IJID: official
publication of the International Society for Infectious
Diseases, 2010. 14(6): pp. e489‐93.
8. Krishnan M, et al. (2002) ʺPredictors of outcome following
bacterial peritonitis in peritoneal dialysisʺ. Peritoneal dialysis
international: journal of the International Society for
Peritoneal Dialysis, 2002. 22(5): pp. 573‐81.
9. Li PK, et al. (2010) ʺPeritoneal dialysis‐related infections
recommendations: 2010 updateʺ. Peritoneal dialysis
international: journal of the International Society for Peritoneal Dialysis, 2010. 30(4): pp. 393‐423.
10. Mujais S (2006) ʺMicrobiology and outcomes of peritonitis in North Americaʺ. Kidney international Supplement, 2006(103):
pp. S55‐62.
11. Nessim SJ, et al. (2009) ʺImpact of age on peritonitis risk in peritoneal dialysis patients: an era effectʺ. Clinical journal of the American Society of Nephrology: CJASN, 2009. 4(1): pp. 135‐41.
12. Piraino B, et al. (2005) ʺPeritoneal dialysis‐related infections recommendations: 2005 updateʺ. Peritoneal dialysis international: journal of the International Society for Peritoneal Dialysis, 2005. 25(2): pp. 107‐31.
13. Santoianni JE, et al. (2008) ʺA 15 year‐review of peritoneal dialysis‐related peritonitis: microbiological trends and patterns of infection in a teaching hospital in Argentinaʺ. Revista Argentina de microbiologia, 2008. 40(1): pp. 17‐23.
14. Sirivongs D, et al. (2006) ʺRisk factors of first peritonitis episode in Thai CAPD patientsʺ. Journal of the Medical Association of Thailand = Chotmaihet thangphaet, 2006. 89 Suppl 2: pp. S138‐45.
15. Van Bui P (2008) ʺHow peritoneal dialysis has developed in Vietnamʺ. Peritoneal dialysis international: journal of the International Society for Peritoneal Dialysis, 2008. 28 Suppl 3:
pp. S63‐6.
Ngày nhận bài báo 16‐09‐2012 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 23‐03‐2013 Ngày bài báo được đăng: 20–04‐2013