1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Limphôm ngoài hạch: Đặc điểm giải phẫu bệnh và hóa mô miễn dịch

6 61 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 272,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này thực hiện trên 98 trường hợp limphôm không Hodgkin ngoài hạch được chẩn đoán tại Bộ môn Giải phẫu bệnh - Đại học Y dược TP.HCM và Khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Chợ Rẫy TPHCM trong thời gian từ năm 2001 đến 2004. Tất cả các trường hợp đều đượcxếp loại lại theo bảng phân loại thực hành Working Formulation, nghiên cứu hóa - mô - miễn dịch và xếp loại theo bảng phân loại REAL.

Trang 1

LIMPHÔM NGOÀI HẠCH:

ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU BỆNH VÀ HÓA-MÔ-MIỄN DỊCH

Hứa Thị Ngọc Hà*, Phan Anh Kiệt**, Trần Minh Thông***, Phan Chiến Thắng*

TÓM TẮT

Nghiên cứu này thực hiện trên 98 trường hợp limphôm không Hodgkin ngoài hạch được chẩn đoán tại Bộ môn Giải phẫu bệnh – Đại học Y dược TP.HCM và Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện Chợ Rẫy TPHCM trong thời gian từ năm 2001 đến 2004 Tất cả các trường hợp đều đượcxếp loại lại theo bảng phân loại thực hành Working Formulation, nghiên cứu hóa – mô – miễn dịch và xếp loại theo bảng phân loại REAL

Kết quả: Tuổi phân bố từ 4 đến 84 tuổi, nhóm tuổi thường gặp nhất là 41-50t (24,49%), tuổi trung

bình 46 tuổi, tỷ lệnam/ nữ, 1 Vị trí thường gặp nhất là đường tiêu hóa (34,8%), kế đến là vùng đầu cổ 29,5% Phân loại theo bảng phân loại Working Formulation, limphôm độ ác thấp chiếm 10,2%, độ vừa, 71,4% và độ cao 18,4% Limphôm T chiếm 31%, tương tự các nghiên cứu khác ở Châu Á, cao hơn nhiều

so với các nước ở phương Tây Loại limphôm B thường gặp nhất là loại lan tỏa tế bào lớn (40,8%), trong khi loại thường gặp nhất của limphôm T là loại không đặc hiệu

SUMMARY

EXTRANODAL LYMPHOMAS:

MICROSCOPICAL AND IMMUNOHISTOLOGICAL APPERANCES

Hua Thi Ngoc Ha, Phan Anh Kiet, Tran Minh Thong, Phan Chien Thang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 129 – 134

Objective and method: Ninety eight extranodal Non-Hodgkin's lymphoma (NHL) collected from

pathology department of medicine and pharmacy University at HCMC, and Cho Ray hospital from 2001 to

2004 All of cases were histologically reclassified according to the Working formulation, immunohistochemically studied and classified according to the R.E.A.L classification

Result: The ages ranged from 4 to 84, with a median of 46 years Out of 98 patients, 50 were male

and 48 were female, the M/F ratio: 1 The most common presentation was gastrointestinal tract (34,8%), followed by head and neck sites (29,5%) According to the Working Formulation classification, low, intermediate, and high-grade lymphomas comprised 10.2%, 71.4%, and 18.4%, respectively T-cell lymphoma occupied 31% of extranodal NHL in this study and showed a quite comparable incidence to that of Asia, but it was much higher than in Western countries The most common histologic subtype of B cell lymphoma was diffuse large cell type, whereas the most common subtype of T cell lymphoma was nonspecific type

ĐẶT VẤN ĐỀ

Limphôm là bệnh lý ác tính thường gặp nhất

của hệ tạo huyết Đối với trẻ em dưới 15 tuổi,

limphôm không Hodgkin (LKH) là một trong 3 loại

u ác tính thường gặp nhất và thường xảy ra ở vị trí ngoài hạch Trong tất cả các bệnh lý limphôm, hơn 40% - 60% trường hợp xuất phát từ vị trí ngoài hạch( , , )10 13 26 Vị trí thường gặp nhất là đường tiêu hóa( ) 24, vùng đầu cổ( , ) 17 23, các vị trí khác có thể gặp

* Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

như tuyến giáp, tuyến nước bọt, hệ thần kinh

trung ương, da và phần phụ

Việc lựa chọn phác đồ điều trị cũng như tiên

lượng của limphôm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,

trong đó việc xếp loại mô học và giai đoạn bệnh đóng

vai trò rất quan trọng, do đó đòi hỏi chẩn đoán phải

có độ chính xác cao Từ đó cho thấy việc dùng các

phương pháp hóa-mô-miễn dịch (HMMD) để xác

định chẩn đoán là vô cùng cần thiết

Limphôm ngoài hạch đã được nghiên cứu ở

nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam đã có một số

công trình nghiên cứu về limphôm hạch, còn

limphôm ngoài hạch thì chỉ được nghiên cứu về lâm

sàng, dịch tễ học, chưa có công trình nào nghiên cứu

một cách có hệ thống về mặt giải phẫu bệnh Do đó,

chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm các mục

tiêu sau:

ƒ Khảo sát các đặc điểm lâm sàng về tuổi, giới

và vị trí của LKH ngoài hạch

ƒ Khảo sát các đặc điểm vi thể của LKH ngoài

hạch, xếp lọai theo bảng phân loại Working

Formulation

ƒ Khảo sát đặc điểm hóa-mô-miễn dịch, đối

chiếu đặc điểm vi thể và hóa-mô-miễn dịch

ƒ Xếp loại theo bảng phân loại R.E.A.L

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Vật liệu

Hồ sơ, tiêu bản và khối nến của 98 bệnh nhân

được chẩn đoán giải phẫu bệnh là limphôm ngoài

hạch tại khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Chợ Rẫy và

Bộ môn Giải phẫu bệnh – Đại học Y Dược TPHCM từ

năm 2001 đến năm 2004

Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cắt ngang dựa trên phiếu trả lời kết quả giải

phẫu bệnh, tiêu bản và khối nến của 98 trường hợp

limphôm ngoài hạch được chẩn đoán tại khoa Giải

phẫu bệnh – Bệnh viện Chợ Rẫy và Bộ môn Giải

phẫu bệnh – Đại học Y dược TPHCM

Từ tiêu bản HE, đánh giá các đặc điểm vi thể và

đọc kết quả theo phân loại Working Formulation (WF)( ) 25

Từ khối nến cắt mỏng, nhuộm HMMD với kháng thể chống tế bào limphô chung (LCA), kháng thể chống tế bào limphô B (CD20), kháng thể chống tế bào limphô T (UCLH-1), xếp loại theo bảng phân loại R.E.A.L.( ) 25

Đối chiếu, so sánh các kết quả thu được, xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Phân bố LKH theo tuổi và giới

2

4

3

1 7

7

5

3 12

0 5 10 15 20 25

12

11

8

3

7

5

6

2

nữ nam

4-10t

11-20t

21-30t

31-40t

41-50t

51-60t

61-70t

71-80t

81-84t

Biểu đồ 1: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi và giới

Tổng số bệnh nhân trong nghiên cứu này gồm

50 nam và 48 nữ, tỷ lệ nam/nữ là tương đương nhau Bệnh nhân có tuổi nhỏ nhất trong nghiên cứu này là

4 tuổi và lớn nhất là 84 tuổi, tuổi trung bình là 46 tuổi Nhóm tuổi thường gặp nhất là từ 41-50 tuổi (24,49%), nhóm tuổi nhiều thứ hai là 51-60 tuổi (19,39%) Số bệnh nhân > 80 tuổi chiếm ít nhất với tỷ lệ 2,04% Các nhóm tuổi còn lại chiếm tỷ lệ tương đối thấp xếp theo tỷ lệ giảm dần như sau: 21-30 tuổi 14,29%; 71-80 tuổi 11,22%; 61-70 tuổi 10,20%; 31-40 tuổi 8,16%; 4-10 tuổi 6,12% và 11-20 tuổi 4,08% Trong nghiên cứu này, tuổi trung bình tương đương với các nghiên cứu ở Ấn Độ: 45 tuổi( ) 16, Gabun:

44 tuổi( ) 30, hơi thấp hơn so với nghiên cứu của Lê Tấn Đạt: 49,1 tuổi( )17 và tuổi trung bình theo y văn là 50 tuổi( , ) 8 12 Không có sự khác biệt về tỷ lệ nam và nữ trong nghiên cứu này, điều này phù hợp với nghiên cứu tổng kết của Lê Văn Xuân và cộng sự tại Bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh( )18, theo Lê Tấn Đạt tỷ lệ nam/nữ là 1,33/1( ) 17, theo đa số các nghiên cứu khác thì tỷ lệ bệnh thường chiếm ưu thế

Trang 3

hơn ở giới nam( , , ) 8 13 19 với tỷ lệ nam/nữ từ 1,3-2 /1

Khảo sát đặc điểm hóa-mô-miễn dịch

Bảng 1: Xếp loại LKH theo phenotyp miễn dịch

Hầu hết các trường hợp đều dương tính với hoặc

kháng thể chống tế bào B, hoặc kháng thể chống tế

bào T, có 12 trường hợp (12,2%) các tế bào u cùng

dương tính với cả 2 loại kháng thể nên chúng tôi xếp

vào loại limphôm B, giàu T hoặc T, giàu B

Theo y văn ở các nước Âu, Mỹ, limphôm B chiếm

từ 85-95% và limphôm T chiếm 5-15% tất cả limphôm

không Hodgkin( , , ) 9 12 31 Trong nghiên cứu này, tỷ lệ

limphôm T chiếm đến 30,6%, cũng giống như nhận

định của Sukpanichnant S trong một nghiên cứu về

LKH tại Thái Lan (24,5%) với cỡ mẫu lớn (n = 1983, p

= 0.05)( ) 28 và các nước Châu Á khác như Nhật( ) 11, Hàn

quốc( , ) 13 19, Đài Loan, Trung Quốc (33,9%)( , ) 22 31, cao hơn

ở các nước châu Âu

Phân bố LKH theo vị trí

Bảng 2: Phân bố LKH theo vị trí và đặc điểm hóa mô

miễn dịch

Tiêu hoá

34 ca (34,8%)

Đại tràng 13 (13.3) 11 2

Mũi – xoang 7 (7.1) 0 7

Tuyến nước bọt 1 (1.0) 1 0

Vùng đầu cổ

29 ca (29,5%)

Sinh dục nữ (buông trứng, cổ

Sinh dục nam (tinh hoàn) 2 (2.0) 2 0

Bệnh phân bố chủ yếu ở ống tiêu hóa (chiếm 34,8%) và vùng đầu cổ (chiếm 29,5%), trong đó tập trung nhiều nhất tại ruột non, đại tràng và amiđan

Kế đến là các cơ quan khác như hệ thần kinh trung ương, phần mềm và da … Nhìn chung, có nhiều sự khác biệt về phân bố bệnh theo từng vị trí khi so sánh giữa các tác giả với nhau, tuy nhiên 2 vị trí thường gặp nhất trong hầu hết các nghiên cứu vẫn là đường tiêu hóa và vùng đầu cổ( , ) 6 7

Đối với limphôm ở đường tiêu hóa, theo đa số các

tác giả nước ngoài thì vị trí thường gặp nhất là dạ dày (chiếm 45-75%), kế đến là ruột non (chiếm 20-40%), vùng hồi manh tràng (chiếm 12-20%), đại trực tràng (chiếm 3-15%) và ít nhất là thực quản (ít hơn 1%)( , , ) 2 5 20 Trong khi đó một số khảo sát trong nước cũng như khảo sát này đều ghi nhận limphôm ở 2 vị trí ruột non và đại tràng gặp nhiều hơn, tương tự với một nghiên cứu ở Trung quốc, limphôm ruột non đứng đầu, theo sau là dạ dày( ) 32

- Limphôm vùng đầu cổ là vị trí gặp nhiều thứ

hai trong khảo sát này (chiếm 29,5%), trong đó vòng Waldeyer là vị trí gặp nhiều nhất: 20,4% (bảng 3.1 và 4.1) Cũng theo đa số các tác giả khác, đây là vị trí gặp nhiều thứ 2 sau limphôm đường tiêu hóa( ) 3 Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với khảo sát của tác giả Lê Tấn Đạt( ) 17 Theo nghiên cứu của tác giả này, tỷ lệ tính chung cho vùng đầu cổ lên đến

Trang 4

50% (trong đó vòng Waldeyer chiếm đa số với

35,9%)( ) 17 Theo các tác giả khác thì vùng đầu cổ là vị

trí thường gặp nhất trong các limphôm ngoài

hạch( ) 23 Lý giải cho sự khác nhau rất lớn này, chúng

tôi cho rằng: có thể do mỗi bệnh viện (nơi chúng tôi

thu thập số liệu nghiên cứu) có những đặc thù riêng

để nhận bệnh nhân, do đó dẫn đến có sự tương quan

chéo về tỷ lệ mắc bệnh ở 2 vị trí thường gặp nhất

(đường tiêu hóa và vòng Waldeyer) (xem bảng 4.1)

Đối chiếu kết quả hóa mô miễn dịch

và vị trí

Limphôm B chiếm đa số ở đường tiêu hóa, vòm

hầu, amiđan, hệ thần kinh trung ương, mô mềm ,

chúng tôi không ghi nhận trường hợp limphôm T nào

ở dạ dày, đường tiết niệu, sinh dục nam, sinh dục nữ,

vú, tuyến nước bọt, hốc mắt Ngược lại trong nghiên

cứu này không thấy limphôm B ở da, mũi xoang (bảng

2) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,002)

Xếp loại theo phân loại WF

Bảng 3: Phân bố LKH theo phân loại WF và đặc

điểm hóa mô miễn dịch

Limphôm ác tính thấp 10 10,2 7 3

Nang, tế bào nhỏ nhân khía 1 1,0 1 0

Limphôm ác tính vừa 70 71,4 50 20

Lan tỏa, tế bào nhỏ nhân

Lan tỏa, hỗn hợp tế bào 21 21,4 15 6

Lan tỏa, tế bào lớn không

Limphôm ác tính cao 18 18,4 11 7

Nguyên bào miễn dịch 2 2,0 2 0

Lan tỏa, tế bào nhỏ không

Trong khảo sát này, limphôm ác tính vừa chiếm

tỷ lệ cao nhất (71,4%), kế đến là limphôm ác tính cao

(18,4%) và limphôm ác tính thấp (10,2%)

Kết quả khảo sát về phân bố độ ác của LKH ngoài

hạch trong nghiên cứu này phù hợp với các khảo sát

của các tác giả khác trong nước như Lê Tấn Đạt( )17, Phan Chiến Thắng( ) 25, Lê Văn Xuân và cs( ) 18; và một số nghiên cứu ở nước ngoài như Ý, Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, bao gồm cả những tác giả nghiên cứu chung về LKH và những tác giả nghiên cứu riêng về LKH ngoài hạch( , , ) 14 15 22 Tần suất phân bố của từng loại độ ác trong mỗi nghiên cứu có khác nhau, tuy nhiên mức độ chênh lệch là không đáng kể Đặc biệt số liệu phân bố rất phù hợp với một nghiên cứu cũng thực hiện tại TP.HCM về LKH ngoài hạch với cỡ mẫu lớn (n = 142) của tác giả Lê Tấn Đạt, điều này càng khẳng định thêm độ tin cậy về xác suất phân bố độ ác của LKH ngoài hạch tại TP.HCM nói riêng và miền Nam nói chung

Xét riêng về từng dạng vi thể thì loại limphôm lan tỏa tế bào lớn chiếm tỷ lệ nhiều nhất (40,8%), tiếp theo là limphôm lan tỏa loại hỗn hợp tế bào (21,4%), limphôm lan tỏa loại tế bào nhỏ nhân khía (9,2%), limphôm limphô bào nhỏ và limphôm nguyên bào limphô chiếm tỷ lệ tương đương nhau (8,2% mỗi loại), các dạng còn lại chiếm tỷ lệ rất thấp Limphôm limphô dạng tương bào và limphôm nang loại tế bào nhỏ nhân khía chỉ gặp 1 trường hợp cho mỗi loại Đặc biệt có 5 trường hợp (chiếm 5,1%) chúng tôi xếp vào dạng limphôm không xếp loại vì hình thái và cách sắp xếp tế bào không theo những dạng limphôm đã được mô tả như

- Tế bào sáng (30/98 trường hợp) là loại tế bào có kích thước lớn, nhân lớn hoặc trung bình, chất nhiễm sắc thô, bào tương nhiều, sáng, viền tế bào rõ Tế bào sáng có thể chiếm toàn bộ khối u hoặc hiện diện cùng với các loại tế bào khác

- Tế bào không điển hình: có hình dạng rất thay đổi, nhân hình thoi, méo mó, có góc cạnh, chất nhiễm sắc vón cục, màng nhân không đều, bào tương nhiều hoặc ít Các tế bào này nằm riêng lẽ giữa các tế bào khác hoặc bào tương có đuôi cắm vào vách mô liên kết sợi giống hình ảnh sarcôm cơ vân dạng nang

- Tế bào nhiều nhân: là tế bào kích thước lớn, có hai hay nhiều nhân với chất nhiễm sắc thô, thường tập trung giữa tế bào, bào tương nhiều hoặc ít và thường có giới hạn rõ

Trang 5

- Tế bào u thực bào các tế bào khác: trong bào

tương chứa nhiều mảnh vụn của những tế bào khác,

mật độ tế bào thường dày đặc, hay gây hoại tử trong

u Loại tế bào này thường hiện diện trong limphôm

đường tiêu hóa, biểu hiện bệnh cảnh lâm sàng rất ác

tính, thường gây thủng tại vị trí u Trong nghiên cứu

này chúng tôi ghi nhận có 3 trường hợp hiện diện

loại tế bào này tại các vị trí dạ dày và đại tràng

Đối chiếu kết quả hóa mô miễn dịch

và đặc điểm vi thể

Limphôm B chiếm ưu thế ở hầu hết các loại

limphôm, riêng limphôm nghuyên bào limphô có tỷ

lệ limphôm T cao hơn (bảng 3), nhưng sự khác biệt

này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,062)

Các tế bào đặc biệt mô tả trên cũng không có đặc

điểm hóa mô miễn dịch đặc trưng, có thể cho phản

ứng dương tính với kháng thể chống tế bào B, hoặc tế

bào T

Xếp loại theo phân loại R.E.A.L

Bảng 4: Phân bố LKH theo phân loại R.E.A.L

I Limphôm nguyên bào limphô

II Limphôm B ngoại biên

1 Limphôm limphô bào

2 Limphôm tế bào rìa

3 Limphôm B vùng rìa (típ MALT)

4 Limphôm nang

5 Limphôm lan tỏa tế bào lớn

6 Limphôm Burkitt

2

6

7

5

1

44

3

2,0 6,1 7,1 5,1 1,0

44,9

3,1

I Limphôm nguyên bào limphô

II Limphôm T ngoại biên

1 Limphôm limphô bào T

2 Limphôm limphô bào dạng tương bào

3 Limphôm T ngoại biên không đặc hiệu

4 Limphôm T ở ruột

6

2

1

16

5

6,1 2,0 1,0

16,3

5,1

Kết quả khảo sát trong bảng 4 cho thấy 2 loại mô

học chiếm tỷ lệ cao nhất là limphôm tế bào B lớn lan

tỏa (44,9%) và limphôm T ngoại biên không đặc hiệu

(16,3%) Các loại tiếp theo xếp theo tỷ lệ giảm dần là:

limphôm tế bào rìa 7,1%, limphôm limphô bào B 6,1%,

limphôm nguyên bào limphô T 6,1%, limphô B vùng

rìa (típ MALT) 5,1%, limphôm T ở ruột 5,1%, limphôm

Burkitt 3,1%, limphôm nguyên bào limphô B 2%, limphôm limphô bào T 2%, limphôm limphô dạng tương bào tế bào T 1% và limphôm nang tế bào nhỏ nhân khía 1% Kết quả này phù hợp với y văn về đa số các dạng thường gặp( , ) 1 4, theo nghiên cứu của Sukpanichnant S.( ) 28,: limphôm tế bào B lớn lan tỏa, limphôm T ngoại biên không đặc hiệu, limphôm nang, limphôm tế bào B vùng rìa, limphôm nguyên bào limphô và limphôm Burkitt chiếm 84,3% tất cả LKH

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 98 trường hợp limphôm ngoài hạch, chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau: tỷ lệ mắc bệnh ở giới nam = nữ, tuổi trung bình 46, nhóm tuổi thường gặp nhất là 41-50t (24,49%), vị trí thường gặp nhất là đường tiêu hóa (34,8%), limphôm lan tỏa tế bào lớn là loại chiếm tỷ lệ cao nhất (40,8%) Ngoài ra chúng tôi nhận thấy trong limphôm ngoài hạch còn hiện diện một số tế bào đặc biệt như tế bào không điển hình (71,43%), tế bào sáng (30,61%), tế bào nhiều nhân (12,24%), tế bào u thực bào (3,06%), đôi lúc các tế bào u sắp xếp theo những cấu trúc giống sarcôm cơ vân hoặc giống carcinôm đối với các thực thể này thì chẩn đoán xác định phải dựa vào HMMD

Về đặc điểm hóa- mô – miễn dịch: limphôm B chiếm 69%, limphôm T chiếm 31% Hai dạng mô học thường gặp nhất xếp theo phân loại R.E.A.L là limphôm lan tỏa tế bào B lớn (44,9%) và limphôm T ngoại biên không đặc hiệu (16,3%)

TÀI LIỆU TAHM KHẢO

1 Arican A., Dincol D., Akbulut H., Onur H., Demirkazik A., Cay F., Icli F (1999): “Clinicopathologic features and prognostic factors of primary extranodal non-Hodgkin's

lymphomas in Turkey”, Am J Clin Oncol, 1999 Dec,

22(6): p587-592

2 Busch E, Rodriguez-Bigas M, Mamounas E, Barcos M, Petrelli NJ (1994): Primary colorectal non-Hodgkin's lymphoma Ann Surg Oncol May;1(3):222-8

3 d'Amore F, Christensen BE, Brincker H, Pedersen NT, Thorling K, Hastrup J, Pedersen M, Jensen MK, Johansen P, Andersen E (1991): “Clinicopathological features and prognostic factors in extranodal non-Hodgkin lymphomas Danish LYFO Study Group” Eur J Cancer.;27(10):1201-8

4 Economopoulos T., Asprou N., Stathakis N., Papageorgiou

E., Dervenoulas J., Xanthaki K., Raptis S (1996):”

Primary extranodal non-Hodgkin's lymphoma in adults:

Trang 6

clinicopathological and survival characteristics”, Leuk

Lymphoma, 1996 Mar, 21(1-2): p131-136

5 Fenoglio-Preiser C.M (1999): “Hematopoietic Lesions of

the Gastrointestinal Tract” In: Gastrointestinal

Pathology Plus: An Atlas and Text, (CD-ROM)

6 Freeman C, Berg JW, Cutler SJ (1972): “Occurrence and

prognosis of extranodal lymphomas”, Cancer, 29: p

252-260

7 Hahn J.S., Lee S., Chong S.Y., Min Y.H., Ko Y.W (1997):

“Eight-years experience of malignant lymphoma –

survival and prognostic factors”, Yonsei Med J, 38(5):

p270-284

8 Ioachim H.L (1994): “Non-Hodgkin lymphoma” In:

Lymph node pathology, 2nd edition, J B Lippincott

company, Philadelphia, p339–343

9 Isaacson P.G., Norton A.J (1999): “General features of

extranodal lymphomas” In: Extranodal lymphomas,

Churchill Livingstone, Edinburg, UK, 1999, p1-4

10 Isikdogan A, Ayyildiz O, Buyukcelik A, Arslan A, Tiftik

N, Buyukbayram H, Muftuoglu E (2004): Non-Hodgkin's

lymphoma in southeast Turkey: clinicopathologic features

of 490 cases Ann Hematol May;83(5):265-9

11 Isobe K, Tamaru J, Harigaya K, Mikata A, Ito H (1999):

Clinicopathological evaluation of the Revised

European-American Classification of Lymphoid Neoplasms (REAL)

in Japan Leuk Lymphoma Jun;34(1-2):143-9

12 Jaffe E.S., Harris N.L., Stein H., Vardiman J.W (2001):

“Tumours of haematopoietic and lymphoid tissues”,

International Agency for Research on Cancer Press,

p109–235, 255–271

13 Kim CW, Kim I, Ko YH, Cho H, Yang WI, Kwon GY, Lee

DG, Moon HB, Suh CH, Juhng SW (1992)

Clinicopathologic and immunophenotypic study of

non-Hodgkin's lymphoma in Korea Lymphoreticular Study

Group of the Korean Society of Pathologists J Korean

Med Sci Sep;7(3):193-8

14 Ko Y.H., Lee J.D., Kim C.M., Kim I.S., Lee M.J (1992):

“Malignant lymphomas of the nasal cavity and

Waldeyer's ring clinicopathologic and

immunohistochemical study”, J Korean Med Sci, 1992

Dec; 7(4): p314-324

15 Koh P.K., Horsman J.M., Radstone C.R., Hancock H.,

Goepel J.R., Hancock B.W (2001): “Localised extranodal

non-Hodgkin's lymphoma of the gastrointestinal tract:

Sheffield Lymphoma Group experience (1989-1998)”, Int

J Oncol 2001 Apr,18(4): p743-748

16 Kushwaha M.R.S., Chandra D., Misra P.K and Agarwan

S.S (1985), “Leukemia and lymphomas at Lucknow,

India” Leu Research, 9(6): 799-802

17 Lê Tấn Đạt (2004): “Limphôm không Hodgkin ngoài

hạch nguyên phát ở người lớn: dịch tễ, chẩn đoán và điều

trị”, Luận văn tốt nghiệp nội trú, Đại học Y dược,

TP.HCM

18 Lê Văn Xuân, Nguyễn Quốc Dũng, Aâu Nguyệt Diệu và

cộng sự (1995) “Phân loại lymphôm không Hodgkin theo

hệ thống Working Formulation tại Trung tâm Ung bướu

TP Hồ Chí Minh: ghi nhận tương quan lâm sàng – giải

phẫu bệnh”, Hình thái học, số đặc biệt chuyên đề Giải Phẫu Bệnh, Tập 5, số 2: 10-12

19 Lee S.S., Cho K.J., Kim C.W., Kang Y.K (1999):

“Clinicopathological analysis of 501 Non-Hodgkin's lymphomas in Korea according to the Revised European-American Classification of lymphoid neoplasms”,

Histopathology Oct; 35(4): p345-354

20 Lopez M, Rinaldi M (1994): "Primary gastric lymphoma” Riv Eur Sci Med Farmacol Sep-Dec;16 Suppl 1:31-7

21 McGee J.’D., Isaacson P.G., Wright N.A (1992):

“Lymphoreticular tissues” In: Oxford textbook of pathology – volume 2b, Oxford University Press, p1743–

1793

22 Ng CS, Chan JK, Lo ST, Poon YF (1986): mmunophenotypic analysis of non-Hodgkin's lymphomas

in Chinese A study of 75 cases in Hong Kong Pathology Oct;18(4):419-25

23 Onakoya PA, Adeyi OA, Nwaorgu OG, Ojemakinde KO, Thomas JO (2003): Primary extranodal non-Hodgkin's lymphoma of the upper aerodigestive tract a descriptive analysis of the pattern seen in the University College Hospital, Ibadan Afr J Med Med Sci Mar;32(1):59-63

24 Otter R, Gerrits WB, vd Sandt MM, Hermans J, Willemze R (1989): Primary extranodal and nodal non-Hodgkin's lymphoma A survey of a population-based registry Eur J Cancer Clin Oncol Aug;25(8):1203-10

25 Phan Chiến Thắng (2001): “Nghiên cứu đặc điểm tế bào

và di truyền tế bào của limphôm không Hodgkin”, Luận

án tiến sĩ Y học, Đại học Y dược, TP.HCM

26 Sarpel SC, Paydas S, Tuncer I, Varinli S, Koksal M, Akoglu T (1988): Non-Hodgkin's lymphomas in Turkey Cancer Oct 15;62(8):1653-7

27 Sobin L.H., Wittekind C et al (2002): “Hodgkin and

non-Hodgkin lymphoma” In: TNM classification of malignant tumours, 6th edition, Wiley-Liss, New York, USA, p357–

369

28 Sukpanichnant S, Sonakul D, Piankijagum A, Wanachiwanawin W, Veerakul G, Mahasandana C, Tanphaichitr VS, Suvatte V (1998): Malignant lymphoma in Thailand: changes in the frequency of malignant lymphoma determined from a histopathologic and immunophenotypic analysis of 425 cases at Siriraj Hospital Cancer Sep 15;83(6):1197-204

29 Sutcliffe S.B., Gospodarowicz M.K (1998): “Primary extranodal lymphomas” In: Canellos G.P., Lister T.A.,

Sklar J.L et al: The lymphomas, W.B Saunders

Company, Pennsylvania, USA, p449-479

30 Walter P.R., Klotz F., Alfy G., Minko-Mi-Etoua d, Nguembi-Mbina C (1991), “Malignant lymphomas in Gabon (Equatorial Africa): A morphologic study of 72 cases”, Hum Pathol, 22: 1040-1043

31 Yang K (1993): A histopathologic and immunopathologic study of 209 malignant lymphoma cases from four regions of China: Suzhou, Nanjing, Qingdao and Shenyang Zhonghua Zhong Liu Za Zhi Mar;15(2):86-90

32 Zhang YJ (1993): Pathologic and immunohistochemical study of non-Hodgkin's lymphoma Zhonghua Bing Li Xue Za Zhi Oct;22(5):275-8

Ngày đăng: 20/01/2020, 15:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w