1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm hội chứng ruột ngắn sau phẫu thuật cắt ruột non ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 và 2 từ 1/1/2005-31/12/2007

10 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 271,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định tỉ lệ các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, điều trị, các biến chứng của bệnh nhi hội chứng ruột ngắn sau phẫu thuật cắt ruột non. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM HỘI CHỨNG RUỘT NGẮN SAU PHẪU THUẬT CẮT RUỘT NON

Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1& 2 TỪ 1/1/2005-31/12/2007

Nguyễn Thị Thu Hậu*, Trần Thị Thanh Tâm**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, điều trị, các biến chứng của bệnh nhi HCRN sau

phẫu thuật cắt ruột non

Phương pháp nghiên cứu: mô tả hàng loạt ca

Kết quả: tại bệnh viện Nhi đồng 1 và 2 từ 1/1/2005-31/12/2007 có 51 bệnh nhân 84,3 % là sơ sinh, đa số do

bất thường giải phẫu đường tiêu hoá Tỉ lệ mất hồi tràng cao (88,4%), hậu môn tạm chủ yếu ở hỗng tràng Nuôi tĩnh mạch chưa đầy đủ, sử dụng catheter trung ương ít và phải rút bỏ sớm do nhiễm trùng Thời gian cho ăn đường miệng lại chậm do rối loạn vận động ruột Các can thiệp nội và ngoại khoa hỗ trợ chưa thường xuyên và chưa thống nhất Biến chứng chủ yếu là nhiễm trùng huyết (95,3% sơ sinh và 100% ngoài sơ sinh) do Staphylococus coagulase(-), Candida albicans, Klebsiella pneumoniae, ứ mật, hạ natri máu, rối loạn vận động ruột Tử vong 56,9%, do NTH chiếm 72,4%, có 33,3% tử vong trong hồi sức sau phẫu thuật Thời gian nằm viện và thời gian nuôi tĩnh mạch dài hơn ở nhóm mất van hồi manh tràng, đại tràng không nguyên vẹn, ngoài tuổi sơ sinh, có bất thường giải phẫu đường tiêu hoá, mất hồi tràng, được đặt catheter trung ương, nuôi qua sonde hỗ trợ Tỉ lệ tử vong cao hơn ở nhóm mất van hồi manh tràng, đại tràng không nguyên vẹn, ăn đường miệng trở lại muộn hơn, ngoài tuổi sơ sinh, mất hồi tràng, nằm hồi sức sau mổ lâu hơn, có hạ Na máu

Kết luận: HCRN sau phẫu thuật cắt ruột non chủ yếu xảy ra ở giai đoạn sơ sinh.Các can thiệp nội ngoại

khoa chưa thống nhất và chưa thường xuyên Biến chứng chủ yếu là nhiễm trùng huyết, ứ mật, hạ natri máu và rối loạn vận động ruột Tỉ lệ tử vong còn cao dù đã có nhiều tiến bộ Cần có phác đồ chăm sóc thống nhất và tích cực hơn trong điều trị HCRN trẻ em để cải thiện tiên lượng bệnh

ABSTRACT

CHARACTERISTICS OF SHORT BOWEL SYNDROME IN CHILDREN AFTER SMALL INTESTINE

RESECTION IN CHILDREN’S HOSPITAL No 1& 2 FROM 01/01/2005- 31/12/2007

Nguyen Thi Thu Hau, Tran Thi Thanh Tam

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 13 – Supplement of No 1 - 2009: 134 - 141

Objectives: to determine the rate of epidemiological, clinical characteristics, treatment and complications of

short bowel syndrome after small intestine resection

Methods: Case series study

Results: this study was conducted on 51 cases of children’s hospital 1 and 2 from 1.1.2005-31.12 2007

Neonates were 84.3 %, most of them had abnormal GI anatomy Ileal resection was approximately 88.4%, and stoma was mainly located at jejunum Parenteral nutrition supports seem to be inadequate, the use of central venous catheters was unusual and proportion of early withdrawed was high due to infection The introduction of oral feeding was delayed because of motility disorders Medical and surgical managements have not been applied adequately and consitently Significant complications are sepsis (95.3% in neonates and 100% in the others children) caused by Staphylococus coagulase(-), Candida albicans, Klebsiella pneumoniae, cholestasis, hyponatremia and motility disorders The mortality rate was 56.9%, in which sepsis was 72.4%, and 33.3%

post-* Bệnh viện Nhi đồng 2, post-*post-* Đại học Y dược TP HCM

Trang 2

operation children was died during intensive care period Children with ileocecum valve resection, colon resection, out of neonatal period, abnormal GI anatomy, ileum resection, using central venous catheters and enteral nutrition required longer duration of hospitalization and parenteral support Higher mortality was seen in patients with ileocecum valve resection, colon resection, delayed oral feeding, out of neonatal period, ileum resection, long stay in ICU and hyponatremia

Conclusions: Children SBS mainly occurs in neonatal period Medical and surgical managements have not

been applied adequately and consitently Significant complications are sepsis, cholestasis, hyponatremia and motility disorders The mortality rate was high in spite of recent improvements.It’s necessary to get a consensus and more active protocol in clinical care to improve the outcome

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng ruột ngắn (HCRN) đặc trưng bởi

tình trạng kém hấp thu các chất dinh dưỡng xảy

ra sau khi cắt phần lớn ruột non do các sang

thương bẩm sinh hay mắc phải(8,10,11) So với 30

năm trước, sự phát triển của nuôi ăn tĩnh mạch

và đường tiêu hoá trên thế giới giúp cải thiện

tiên lượng bệnh nhiều(4,9) Các kỹ thuật nuôi ăn

giúp bệnh nhi bị HCRN có thể phát triển bình

thường trong quãng thời gian dài chờ đợi sự

thích ứng của phần ruột non còn lại Ngoài ra,

bệnh nhi còn được hỗ trợ bằng các can thiệp nội

khoa và ngoại khoa để cải thiện chức năng của

đoạn ruột còn lại Tuy nhiên, việc chăm sóc, điều

trị bệnh nhân HCRN rất phức tạp và tốn kém(1,5)

Tại Việt nam, các công trình tổng kết về HCRN

còn rất ít, đặc biệt ở trẻ em Chúng tôi tiến hành

nghiên cứu này để bước đầu khảo sát đặc điểm

dịch tễ học, lâm sàng, các biến chứng, cách chăm

sóc điều trị trên bệnh nhân Việt nam Từ đó, có

thể định hướng cho các nghiên cứu sâu hơn về

bệnh lý này, để góp phần đem lại cho bệnh nhân

những cải thiện về tiên lượng bệnh và chất

lượng cuộc sống

ĐỐI TƯỢNG -PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhi sau phẫu thuật cắt ruột

non tại bệnh viện Nhi đồng 1 và Nhi đồng 2 trong

khoảng thời gian 1/1/2005-31/12/2007 có biểu hiện

HCRN (chọn từ sổ tường trình phẫu thuật)

Tiêu chuẩn nhận vào

Bệnh nhân mổ cắt ruột non có 1 trong 2

tiêu chuẩn

Dựa vào chiều dài hỗng hồi tràng còn lại sau phẫu thuật

* Sơ sinh

Chiều dài đoạn hỗng hồi tràng còn lại < 25% chiều dài hỗng hồi tràng ước đoán theo tuổi thai(8,9,12,14)

- Nếu phẫu thuật RN khi < 35 tuần tuổi thai: chiều dài hỗng hồi tràng còn lại ≤50cm

- Nếu phẫu thuật RN lúc ≥ 35 tuần tuổi thai: chiều dài hỗng hồi tràng còn lại ≤72 cm

* Nếu ngoài giai đoạn sơ sinh

-Từ 1 tuổi trở xuống: chiều dài hỗng hồi tràng còn lại ≤ 75 cm

-Trên 1 tuổi: chiều dài hỗng hồi tràng còn lại

≤ 100 cm

Dựa vào chức năng ruột sau phẫu thuật

Sau phẫu thuật cắt ruột non phải nuôi tĩnh mạch hỗ trợ trên 42 ngày do rối loạn chức năng ruột(13,15,16)

Tiêu chuẩn loại ra

- Hồ sơ không đầy đủ dữ liệu

- Có các bệnh lý đi kèm đòi hỏi phải nuôi tĩnh mạch dài ngày như bệnh tim bẩm sinh phức tạp, tràn dịch màng phổi dưỡng trấp, u vùng hầu họng không nuốt được, hội chứng giả tắc ruột mạn…

Thu thập và xử lý số liệu

Các bệnh nhân được theo dõi trong suốt thời gian nằm viện hoặc trong vòng 3 tháng kể từ khi nhập viện

Số liệu từ hồ sơ sẽ được thu thập theo phiếu thu thập Các biến số được mã hoá và xử lý bằng

Trang 3

phần mềm thống kê SPSS 10.0 for Windows Mô

tả đặc điểm mẫu nghiên cứu bằng tỉ lệ đối với

các biến định tính Tính trung bình và độ lệch

chuẩn với các biến định lượng

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

Có 51 trường hợp thoả tiêu chuẩn nhận

bệnh

Các đặc điểm dịch tễ học

-Có 28 bệnh nhân của bệnh viện Nhi đồng 1

(54,9%) và 23 bệnh nhân của bệnh viện Nhi đồng

2 (45,1%)

-Có 15 bệnh nhân của thành phố Hồ Chí

Minh (29,4%) và 36 bệnh nhân của tỉnh khác

(70,6%)

-Tuổi trung vị: 3 ngày tuổi, nhỏ nhất:1 ngày,

lớn nhất: 13 tuổi Đa số dưới 1 tuần tuổi 37/51 ca

(72,5%)

- Nam chiếm 56,9% (29/51 trường hợp), nữ

43,1% (22/51)

- Sơ sinh: 43/51 trường hợp (84,3%), ngoài sơ

sinh: 8/51(15,7%)

Trong đó, 30/43 bệnh nhân sinh đủ tháng

(69,7%) và 13/43 non tháng; tuổi thai từ 35 đến

dưới 37 tuần là 5/43 (11,6%), dưới 35 tuần là 8/43

(18,6%), không có trường hợp nào tuổi thai dưới

27 tuần

Tỉ lệ tình trạng dinh dưỡng bình thường khi

nhập viện là 80,4% (41/51 trường hợp), suy dinh

dưỡng hoặc nhẹ cân so với tuổi thai 19,6%

(10/51), và đều ở mức độ nhẹ

Các đặc điểm về lâm sàng

Nguyên nhân gây HCRN

Teo ruột non 21/51 bệnh nhân (41,2%), viêm

hoại tử ruột non 6/51 (11,8%), xoay ruột bất toàn

8/51 (15,7%), tắc ruột do dính 6/51(11,8%), hở

thành bụng 4/51 (7,8%), bệnh Hirschsprung 4/51

(7,8%), nguyên nhân khác 2/51 (3,9%)

Biểu đồ 1: Nguyên nhân gây HCRN (n=51)

Chiều dài đoạn hỗng hồi tràng còn lại

Chỉ có 47/51 bệnh nhân được ghi nhận chiều dài hỗng hồi tràng còn lại sau phẫu thuật trong tường trình phẫu thuật, trung bình 45,19 ± 20,13

cm, ngắn nhất là 5cm và dài nhất là 80 cm

Các đặc điểm về đoạn ruột cắt bỏ, van HMT, đại tràng, hậu môn tạm

-Có 7 BN mất hỗng tràng, 22 BN mất hồi tràng và 16 BN mất cả hỗng và hồi tràng (chỉ 43/51 bệnh nhân được ghi nhận đoạn ruột nào bị cắt bỏ trong tường trình phẫu thuật)

-Tỉ lệ hậu môn tạm: 19/51, chiếm 37,2%

HMT hỗng tràng: 15/51(29,4%), hồi tràng: 4/51 (7,8%)

-Có 30/51(58,8%) bệnh nhân còn van hồi manh tràng, 32/51(62,7%) bệnh nhân còn bảo tồn đại tràng

Các đặc điểm về chăm sóc và điều trị

Thời gian nằm hồi sức sau phẫu thuật, thời gian điều trị và số khoa điều trị

- Thời gian nằm hồi sức sau phẫu thuật

trung bình của nhóm bệnh nhân được xuất viện

là 12,57 ± 10,28 ngày và nhóm bệnh nhân tử vong hay bệnh nặng xin về là 22,2 ± 25,39 ngày

- Thời gian điều trị trung bình của bệnh nhân được xuất viện là 67,33 ± 69,63 ngày (10-304 ngày), của nhóm tử vong hoặc bệnh nặng xin về

là 35.66± 29.49 ngày

- Không tính khoa cấp cứu, trung bình một bệnh nhân HCRN phải điều trị tại 2,08 ± 0,74

Trang 4

Chăm sóc dinh dưỡng

Nuôi tĩnh mạch:

-Số ngày nuôi tĩnh mạch: 41,37 ± 46,3 ngày,

nuôi đủ nhu cầu: 20,13 ± 23,82 ngày, trên nhu

cầu cơ bản: 25,70 ± 22,14 ngày

-Các chất và năng lượng qua đường tĩnh

mạch: Số lượng dịch truyền tối đa trong hồi sức

và ngoài hồi sức, lượng tối đa các chất dinh

dưỡng cung cấp ở các nhóm bệnh nhân không

sự khác biệt nhiều Tuy nhiên, năng lượng có thể

cung cấp tối đa theo đường tĩnh mạch cho nhóm

xuất viện là 94,43 ± 22,5 kcal/kg/ngày, cao hơn

nhóm tử vong hoặc xin về là 82,33 ± 32,37

kcal/kg/ngày

-Chỉ có 26/51 bệnh nhân được đặt catheter

trung ương, nhóm xuất viện được đặt trung bình

1,92 ± 1,38 lần, cao hơn nhóm bệnh nặng xin về

hoặc tử vong là 1,14 ± 0,36 lần Số bệnh nhân còn

lại chỉ nuôi tĩnh mạch qua catheter ngoại biên Số

ngày dùng catheter trung ương ở nhóm xuất

viện là 28,64 ±30,43 ngày, cao hơn nhóm tử vong

và bệnh nặng xin về (18,57 ± 11,04 ngày)

Nuôi đường tiêu hoá

- Ăn đường tiêu hoá: Có 43 bệnh nhân có thể

ăn đường miệng trong thời gian nằm viện, ngày

có thể bắt đầu sớm nhất là 2 ngày và muộn nhất

là 51 ngày sau phẫu thuật, ở nhóm được xuất

viện sớm hơn so với nhóm tử vong hoặc bệnh

nặng xin về (8,9 ngày so với 19,9 ngày) Sự khác

biệt này có ý nghĩa thống kê với p= 0,01< 0,05

Những BN không ăn đường miệng được là do

tử vong trước đó

- Nuôi ăn hỗ trợ qua sonde: 29/43 bệnh nhân

được nuôi qua sonde, chiếm 65,1%, 15/43 không

nuôi hỗ trợ qua sonde, chiếm 34,9%

Biểu đồ 2: Các hình thức nuôi qua sonde hỗ trợ

Các biện pháp nội khoa hỗ trợ

Bảng 1: Tỉ lệ các biện pháp nội khoa hỗ trợ

Lo ạ i can thi ệ p Có s ử d ụ ng

Thu ố c gi ả m ti ế t Anti H2: 26/51(51%)

PI: 5 (9,8%) Thu ố c ứ c ch ế N Đ R 3/51 (5,9%) Cholestyramin 6/51 (11,8%)

Dung d ị ch bù Natri 13 (25,5%)

Vit B12 tiêm b ắ p 5/51 (9,8%) Ursodeoxycholic 3 (5,9%) Các bi ệ n pháp khác Vit K:18 Motilium 11

KS d ự phòng 1, DLDD 4

Các biện pháp ngoại khoa hỗ trợ

Tỉ lệ bệnh nhân có can thiệp ngoại khoa sau phẫu thuật đầu tiên: 18/51 trường hợp, chiếm 35,3% Can thiệp ngoại thường nhất là đóng HMT (11/18 trường hợp)

Tình trạng dinh dưỡng khi xuất viện

Trong 49 bệnh nhân có ghi nhận cân nặng khi xuất viện, chỉ có 4 ca lên cân đủ (8,2%), 18 ca

bị sụt cân (36,7%) và 27 ca không lên cân hoặc lên không đủ (55,1%)

Phân bố thời gian nằm viện và nuôi tĩnh mạch theo đặc điểm lâm sàng và biến chứng của

BN không tử vong trong giai đoạn hồi sức sau phẫu thuật

Thời gian nằm viện và thời gian nuôi tĩnh

mạch dài hơn ở nhóm mất van hồi manh tràng,

đại tràng không nguyên vẹn, ngoài tuổi sơ sinh,

có bất thường giải phẫu đường tiêu hoá, mất hồi tràng, được đặt catheter trung ương, nuôi qua sonde hỗ trợ

Các đặc điểm liên quan đến biến chứng

Nhiễm trùng huyết

41/43 sơ sinh (95,3%) và 8/8 (100%) ngoài lứa tuổi sơ sinh bị NTH trong thời gian nằm viện Loại vi khuẩn gây NTH: trong đó tỉ lệ cao nhất

do Staphylococus coagulase negative (17/51 trường hợp, chiếm 33,3%), Candida albicans (11/51, chiếm 21,6%), Klebsiella pneumoniae (5/51,chiếm 9,8%), Acenitobacter và nhóm Enterobacter (mỗi loại 4/51,

bolus 3/51

Nh ỏ gi ọ t /1h 10/51

Nh ỏ gi ọ t ch ậ m, liên t ụ c 16/51 Không nuôi qua sonde 15/51

Trang 5

chiếm 7,3%), Escherichia Coli (3/51, chiếm 5,9%)

Viêm mô tế bào và viêm khớp nhiễm trùng

Có 3/51 bệnh nhân, 2 do Staphylococcus

aureus và 1 do Klebsiella pneumoniae

Ứ mật

23/46 BN (50%) với 17/ 23 BN (73,9%) có

NTH đi kèm

-Thử Bilirubin máu, PAL và GGT chưa được

thực hiện thường xuyên để phát hiện biến

chứng

-Thời gian xuất hiện ứ mật: trung bình 18,48

± 23,13 ngày (5-90) Nhóm sơ sinh, trung bình

15,45 ± 18,27 ngày Nhóm ngoài tuổi sơ sinh,

trung bình 38,67 ± 44,86 ngày

Hạ natri máu

-Hạ natri máu nhẹ gặp trong 26 bệnh nhân,

hạ natri máu nặng gặp trong 13 bệnh nhân

-Mức Na máu thấp nhất của những bệnh

nhân có hạ Na là 119,65 ± 8,47 mEq/l (93-129)

Biến chứng ngoại khoa

- Sa HMT: 4 bệnh nhân bị 1 lần, 1 bệnh nhân

bị 2 lần, 1 bệnh nhân bị 3 lần

- Tắc ruột: 8 bệnh nhân bị 1 lần, 1 bệnh nhân

bị 2 lần, 1 bệnh nhân bị 3 lần

- Chậm vận động ruột: có 20 bệnh nhân

được ghi nhận có chậm vận động ruột

Tử vong

21/51 BN được xuất viện về (41,2%),

29/51(56,9%) BN tử vong hoặc xin về do bệnh

nặng, 1/51 bỏ điều trị (2%)

Bảng 2: Kết quả điều trị tại 2 bệnh viện

B ệ nh vi ệ n Đượ c xu ấ

vi ệ n

T ử vong,

b nh n ặ ng xin v ề

B ỏ đ i ề u tr ị T ổ ng s ố

Nhi đồ ng 1 8 (32,1%) 18 (64,3%) 1 (3,6%) 28 (100%)

Nhi đồ ng 2 12 (52,2%) 11 (47,8%) 0 23 (100%)

21 (41,2%) 29 (56,9%) 1 (2%) 51 (100%)

-Có 17/51 bệnh nhân tử vong trong thời gian

còn nằm hồi sức sau phẫu thuật, chiếm 33,3%

- Lý do xin về hoặc tử vong: có 21/29 trường

hợp do nhiễm trùng huyết (72,4%), 3/21 trường

hợp do suy hô hấp (10,3%), 4/21 do suy kiệt nặng

(13,8%) và 1/21 do nguyên nhân khác(3,4%)

Phân bố các đặc điểm lâm sàng và biến chứng theo kết quả điều trị

Tỉ lệ tử vong thấp hơn ở nhóm còn van hồi manh tràng, còn đại tràng và thời gian có thể ăn đường miệng trở lại sớm hơn.Tỉ lệ tử vong cao hơn ở nhóm ngoài tuổi sơ sinh, cắt đoạn dài ruột non, mất hồi tràng, nằm hồi sức sau mổ lâu hơn,

có hạ Na máu

Thời gian điều trị, thời gian nuôi tĩnh mạch, thời gian nuôi tĩnh mạch đủ nhu cầu, thời gian dùng catheter trung ương, năng lượng tối đa cung cấp qua đường tĩnh mạch cao hơn ở nhóm được xuất viện so với nhóm tử vong

BÀN LUẬN

Sơ sinh chiếm đa số, tương tự với kết quả của các tác giả khác trên thế giới Như vậy, nguy

cơ nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) và tử vong cao do khả năng đề kháng nhiễm trùng của lứa tuổi này chưa hoàn thiện (5) Tuổi thai trung bình của nhóm bệnh nhân sơ sinh của chúng tôi cao hơn Nguyên nhân tập trung ở các bệnh lý bẩm sinh đường tiêu hóa (chiếm 76,4% với 39/51 trường hợp) và viêm ruột hoại tử (6/51 trường hợp, chiếm 11,8%) Điều này cũng tương tự y văn: HCRN trẻ em đa số xảy ra ở tuổi sơ sinh và bắt nguồn từ bất thường bẩm sinh đường tiêu hóa và VHTRN Tuy nhiên trong nghiên cứu này, tỉ lệ do teo ruột non cao hơn hẳn, trong khi VHTRN và hở thành bụng thấp hơn nhiều so với thế giới, có lẽ do tỉ lệ trẻ sinh non thấp hơn Chúng tôi cũng ghi nhận nguyên nhân do bệnh Hirschsprung, tắc ruột do dính trong khi ít được các tác giả khác đề cập tới(9,11,12,13)

Bảng 3: Nguyên nhân gây HCRN ở trẻ em

Tác giả TRN VHTR

N

XRBT Gastroc hisis

Hirsprs ung

TRD

D khác

Nghiên

c ứ u này

41,2

%

11,8% 15,7

%

7,8% 7,8% 11,8

% 3,9% Quiros(12) 24,4

%

20,5% 19,2

% 24,4% 3,8% 7,7%

Spencer(13 ) 17,5

%

45% 17,5

%

% Wales(16) 21% 20% 7,5% 12,5% 19,8% 19,2

%

Trang 6

Galea 31,25

%

21,9% 31,25

% 15,6%

Goulet(11) 39% 14% 24% 14%

32/43 trường hợp (74,4%) và 88,9% trẻ sơ

sinh bị cắt đoạn dài ruột non mất đi hồi

tràng.Những trường hợp này tiên lượng xấu

hơn do hồi tràng có khả năng thích ứng cao hơn

hỗng tràng, ngoài ra chức năng hấp thu muối

mật và vitamin B12, tiết hormon ruột của hồi

tràng không thể thay thế được(6,15) Van hồi manh

tràng có vai trò đặc biệt quan trọng trong viêc

ngăn vi trùng xâm nhập lên ruột non gây quá

phát vi khuẩn ruột, đồng thời giúp thức ăn lưu

giữ lâu hơn để hấp thu tốt hơn Bảo tồn van hồi

manh tràng và đại tràng giúp rút ngắn thời gian

phải nuôi tĩnh mạch và giảm biến chứng, do đó

giảm tỉ lệ tử vong(8) Tỉ lệ giữ được van hồi manh

tràng và đại tràng trong mẫu nghiên cứu này

bằng hoặc cao hơn các nghiên cứu khác Tỉ lệ

hậu môn thấp hơn, nhưng đa số là ở hỗng tràng,

có thể do phân bố nguyên nhân gây bệnh khác

nhau, nhóm tuổi sinh non bị VHTRN cũng thấp

hơn, nhưng như vậy bệnh nhân sẽ dễ bị mất

nước điện giải hơn nhóm HMT thấp

Đa số các bệnh nhân nằm viện lâu và qua

nhiều khoa, do đó việc thống nhất phác đồ điều

trị rất cần thiết Thời gian nằm hồi sức và điều trị

của bệnh nhân HCRN dài hơn nhiều so với các

phẫu thuật tiêu hoá thông thường khác, tuy

nhiên, còn rất ngắn so với các nước khác(2,9,12). Tất

cả các bệnh nhân đều được nuôi tĩnh mạch

nhưng mức độ chưa đầy đủ, cả về lượng cung

cấp và thời gian Tác giả Phạm Duy Hiền báo

cáo thời gian truyền dịch sau mổ của nhóm bệnh

nhân mổ teo ruột non là 11.5 ± 15.6 ngày Tác giả

Quiros, sau 25 năm theo dõi bệnh nhân HCRN

nhận thấy chỉ 56% số bệnh nhân có thể cai nuôi

tĩnh mạch sau trung bình 1 năm (0.4-14.8 năm)

Thời gian nuôi tĩnh mạch trong nghiên cứu là

55,86 ± 64,87 ngày, dài hơn thời gian nuôi tĩnh

mạch của bệnh nhân không bị HCRN nhưng

ngắn hơn nhiều so với các nghiên cứu HCRN

trên thế giới Như vậy, ruột bệnh nhân chưa đạt

được sự thích ứng đầy đủ với nuôi ăn đường

miệng đơn thuần và khó có thể tăng trưởng tốt,

bệnh nhân phải tái nhập viện nhiều lần do suy kiệt, suy dinh dưỡng nặng cũng như mất nước

và điện giải trầm trọng Việc sử dụng catheter trung ương còn hạn chế trong khi tất cả đều có chỉ định Thời gian sử dụng cho 1 lần đặt catheter còn quá ngắn, chứng tỏ việc chăm sóc catheter chưa đúng cách và chưa đảm bảo vô trùng Để có thể sử dụng hiệu quả đường truyền này, cần huấn luyện kỹ thuật chăm sóc cho điều dưỡng cũng như tạo môi trường ít bị lây nhiễm cho bệnh nhân

Nuôi ăn đường tiêu hoá phù hợp sinh lý, đơn giản, ít biến chứng và có tác dụng kích thích

sự hồi phục của ruột sau mổ(8,15) Tuy nhiên, thời điểm bệnh nhân có thể ăn lại bằng đường tiêu hoá chậm so với các phẫu thuật đường tiêu hoá khác, do ảnh hưởng của rối loạn vận động ruột trong HCRN và nguyên nhân gốc gây phẫu thuật Tỉ lệ nuôi qua sonde và hình thức nuôi qua sonde vẫn chưa tối ưu để tránh tăng tải trọng thẩm thấu tại ruột gây tiêu chảy Các biện pháp điều trị nội và ngoại khoa đều chưa tích cực Việc sử dụng các thuốc hỗ trợ còn ít, chưa tiến hành các thủ thuật giúp kéo dài chiều dài đoạn ruột Tình trạng dinh dưỡng khi xuất viện chưa tốt do việc chăm sóc và điều trị chưa đáp ứng đủ nhu cầu bệnh nhân

Nhiễm trùng huyết và NHT liên quan đến catheter trung ương rất cao so với các nghiên

cứu nước ngoài (chỉ khoảng 1 đợt/ 2 tháng) Tác nhân gây bệnh tương tự các ghi nhận trong HCRN, gần giống các nghiên cứu có đối tượng

là sơ sinh và có sử dụng thiết bị lòng mạch nhiều, khác với những nghiên cứu trên dân số chung với chủ yếu là vi khuẩn gram âm(5,8) Tỉ lệ giảm Natri máu mức độ nhẹ và nặng đều cao, đặc biệt ở nhóm có HMT và mất hồi tràng, do đó cần chú ý bù dung dịch natri thích hợp cho bệnh nhân Kết quả này cũng phù hợp với việc sử dụng nước uống có Na và thuốc kháng tiết ở bệnh nhân HCRN chưa đầy đủ

Tổn thương gan do nuôi tĩnh mạch khá cao PAL và GGT là dấu hiệu rất nhạy, có thể dùng

để phát hiện sớm tổn thương gan do nuôi tĩnh

Trang 7

mạch chưa được các bác sĩ chú ý Thời gian xuất

hiện ứ mật cũng giống với các nghiên cứu của

các tác giả nước ngoài, thường vào khoảng 2-10

tuần sau khi bắt đầu nuôi tĩnh mạch, nhưng có

thể sớm hơn vào tuần lễ 1-2 với sơ sinh(7,12,13,16) Tỉ

lệ bị biến chứng tắc ruột sau mổ của HCRN cao

hơn các phẫu thuật bụng khác, ngoài ra chậm

vận động ruột cũng là biến chứng thường gặp

Biến chứng này cản trở việc cho ăn sớm bằng

đường miệng, dễ gây ra quá phát vi khuẩn ruột,

làm tăng nguy cơ tổn thương gan do nuôi tĩnh

mạch cũng như giảm khả năng phục hồi của

đường ruột

Tỉ lệ tử vong trong lô nghiên cứu này cao

hơn nhiều so với thế giới Điều này chứng tỏ

việc điều trị và chăm sóc bệnh nhân bị HCRN

sau phẫu thuật của chúng ta còn chưa tích cực, tỉ

lệ NKBV của chúng ta rất cao, thời gian nuôi

tĩnh mạch, năng lượng, các chất dinh dưỡng

cung cấp cho bệnh nhân đều chưa đủ

Bảng 4:So sánh tỉ lệ tử vong của HCRN sau phẫu

thuật

Tác gi ả N ă m S ố

b nh nhân

T ử vong

N i ti ế n hành

Galea

1978-1988

73 22% Anh &Scotland Wales

1997-1998

40 37,5% Toronto,Canada Anagnostopoulos 1990 59 20% Hy l ạ p

Quiros-Tejeira

1975-2000

78 27% Texas, M ỹ

Nguy ễ n Thuyên

1958-1973

21 80,9% Hà n ộ i, Vi ệ t nam

NC c ủ a chúng tôi

2005-2007

51 56,9% TP HCM,Vi ệ t

nam

Tỉ lệ tử vong của BN khi còn nằm trong hồi

sức sau phẫu thuật liên quan trực tiếp đến độ

nặng của bệnh nền và các bệnh lý kết hợp khác

Trong nghiên cứu này, tỉ lệ này là 33,3%, tức là

khoảng 1/3 số bệnh nhân không qua khỏi giai

đoạn hồi sức sau phẫu thuật Trong đó, tỉ lệ trẻ

sơ sinh chiếm 86,5% Điều này cũng phù hợp với

tỉ lệ trẻ sơ sinh trong mẫu nghiên cứu lên tới

84,3%

Bảng 5: Nguyên nhân gây tử vong trong HCRN

Tác gi ả Nhi ễ m

trùng huy ế

Suy gan do nuôi tm

Suy

ki ệ

Suy

t ạ ng ghép

Suy hô hâp

tu ầ n hoàn

Nguyên nhân khác

Nghiên c ứ u này

Anagnosto poulos

Quiros-Tejeira

38,1% 28,6% 9,52% 14,3% 9,52% Spencer 18,2% 63,6% 9,1% 9,1% 9,1% Vantini 50% 13,63% 36,3%

Nhiễm trùng huyết và suy gan do nuôi tĩnh mạch là 2 nguyên nhân chính gây tử vong trong

đa số các nghiên cứu Trong nghiên cứu này, tỉ lệ

tử vong do nhiễm trùng huyết cao hơn hẳn, chiếm trên 2/3 tổng số bệnh nhân tử vong và bệnh nặng xin về, ngoài ra do suy kiệt do bệnh nhân được nuôi tĩnh mạch chưa đủ và xuất viện sớm Chúng tôi không ghi nhận được nguyên nhân suy gan do nuôi tĩnh mạch Do tỉ lệ NKBV của chúng ta cao hơn, bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng tái đi tái lại, tử vong trước khi ruột kịp thích ứng để có thể cai nuôi ăn tĩnh mạch Do đó, suy gan do nuôi tĩnh mạch có thể chưa kịp biểu hiện, và một phần do chưa được các bác sĩ quan tâm để phát hiện

Phân bố các đặc điểm lâm sàng và phương pháp can thiệp theo kết quả điều trị

Bệnh nhân mất van hồi manh tràng, đại tràng không còn liên tục và khả năng ăn đường miệng trễ có tỉ lệ tử vong cao hơn Có thể giải thích van hồi manh tràng và đại tràng có vai trò trong sự thích ứng của đường ruột, vì vậy ảnh hưởng tới tiên lượng sống còn của bệnh nhân Tuy nhiên, các nghiên cứu của những tác giả nước ngoài thường ghi nhận đây là 2 yếu tố ảnh hưởng tới khả năng cai nuôi tĩnh mạch Chúng tôi cũng nhận thấy tỉ lệ tử vong cao hơn ở những bệnh nhân ngoài tuổi sơ sinh, mất hồi tràng, nằm hồi sức sau mổ lâu, có biến chứng hạ Na máu Nhóm bệnh nhân được xuất viện có thời

Trang 8

gian điều trị, thời gian nuôi tĩnh mạch, thời gian

nuôi tĩnh mạch đủ nhu cầu, thời gian dùng

catheter trung ương và năng lượng tối đa cung

cấp qua đường tĩnh mạch nhiều hơn so với

nhóm tử vong

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 51 trường hợp HCRN sau

phẫu thuật cắt ruột non điều trị tại bệnh viện

Nhi đồng 1 và bệnh viện Nhi đồng 2 từ

1/1/2005-31/12/2007 chúng tôi nhận thấy:

Dịch tễ học

Đa số trẻ ở tuổi sơ sinh (43/51, chiếm 84,3%)

Lâm sàng

Nguyên nhân: TRN 21/51 (41,2%), XRBT

8/51(15,7%), VHTRN 6/51(11,8%), TRDD

6/51(11,8 %) Tỉ lệ mất hồi tràng cao 88,4%, tỉ lệ hậu

môn tạm thấp (37,2%), nhưng chủ yếu ở hỗng tràng

Điều trị và chăm sóc

Thời gian nằm hồi sức sau phẫu thuật và

thời gian điều trị dài so với các phẫu thuật tiêu

hoá khác nhưng chưa đủ so với HCRN, bệnh

nhân phải xuất viện non Nuôi tĩnh mạch chưa

đầy đủ, sử dụng catheter trung ương ít và phải

rút bỏ sớm do nhiễm trùng Thời gian ăn đường

miệng lại chậm do chậm vận động ruột, ngày

bắt đầu 14,30 ± 13,68 ngày Nuôi qua sonde chưa

tối ưu (tỉ lệ nhỏ giọt chậm qua sonde thấp) Tình

trạng dinh dưỡng khi xuất viện chưa tốt, đa số

sụt cân và lên cân không đủ Cần có phác đồ

chuẩn và tích cực hơn trong chăm sóc bệnh nhi

HCRN sau phẫu thuật cắt ruột non

Biến chứng

Nhiễm trùng huyết ở 41/43 sơ sinh (95,3%)

và 8/8 (100%) ngoài sơ sinh Tác nhân gây bệnh

đa số là Staphylococus coagulase (-), Candida

albicans, Klebsiella pneumoniae Ứ mật: gặp trong

23/46 BN (50%) với 73,9% có NTH đi kèm Thử

Bil máu, PAL và GGT chưa được thực hiện

thường xuyên để phát hiện biến chứng Hạ natri

máu và chậm vận động ruột còn cao Tử vong

56,9%, do NTH chiếm 72,4% 17/51(33,3%) tử

vong trong hồi sức sau phẫu thuật Như vậy,

việc phòng ngừa nhiễm trùng là rất quan trọng

bên cạnh các biện pháp điều trị và hỗ trợ khác TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trương Quang Định(2002),” Tắc ruột sơ sinh: các yếu tố ảnh

hưởng đến biến chứng hậu phẫu và tỷ lệ tử vong,” Hội nghị KHKT bệnh viện Nhi đồng 2, tr.101-106

2 Phạm Duy Hiền, Nguyễn Duy Việt, Nguyễn Thanh Liêm (2006), “Kết quả điều trị sớm sau mổ 52

3. trường hợp teo ruột non bẩm sinh bằng nối ruột tận tận sau

khi tạo hình nhỏ bớt đầu trên”, Hội nghị ngoại nhi, tr.126-135

4 Nguyễn Thuyên, Tôn Thất Tùng (1973),”Di chứng cắt ruột

non rộng rãi”, Ngoại khoa, tập1, tr.142-146

5 Hà Mạnh Tuấn(2006), “Yếu tố nguy cơ và tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện tại khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện nhi đồng

1”, Luận án tiến sĩ y học

6 Buchman, A (1997) "The Clinical Management of SBS: Steps

to Avoid PN." Nutr.13(10):pp 907-1104

7 Campbell, K and W Balistreri (2006) "The liver and

parenteral nutrition." Hepatology -a textbook of liver diseases

Torronto, Saunder Elsevier 2:pp 1089-1098

8 Cohran, V C and S A Kocoshis (2007) "Short Bowel"

Pediatric Nutrition Support S S Baker NY, Jones and Bartlett

1:pp 477-492

9 Galea, M., H Holliday, et al (1992) "SBS: A Collective Review

" J Pediatr Surg 27(5):pp 592-596

10. Goulet, O (2004) "Short Bowel Syndrome" Textbook of Pediatric Gastroenterology and nutrition S Guandalini London,

Taylor and Francis 1:pp 461-78

11 Goulet, O and C Samson (2002) "Syndrome de grêle court"

Alimentation de l'Enfant en Situations Normale et Pathologique O

Goulet Paris Pediatrique 13:pp 283-294

12 Quiros-Tejeira, R., M Ament, et al (2004) " Long-term parenteral nutritional support and intestinal adaptation in

children with SBS: a 25-year experience." J Pediatr 145:pp 157–

163

13 Spencer, A U., A Neaga, et al (2005) "Pediatric Short Bowel

Syndrome: Redefining Predictors of Success." Ann Surg

242:pp 403-412

14 Touloukian, R, G Smith (1983) "Normal intestinal length in

preterm infants." J Pediatr Surg 18: pp 720–723

15 Vanderhoof, J., RJ.Young (2007) "Pathophysiololy of SBS in

children."UpToDate 15.3

16 Wales, P W., N.Silva, et al (2005) "Neonatal SBS: A cohort

study." J Pediatr Surg 40:pp 755-762

Ngày đăng: 20/01/2020, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w