1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân một trường hợp bướu nguyên bào võng mạc ở trẻ sinh đôi

6 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 584,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết báo cáo về một trường hợp bướu nguyên bào võng mạc ở trẻ sinh đôi. Trong đó có 1 trẻ xuất hiện thêm tổn thương ở não hay còn gọi là bướu nguyên bào võng mạc 3 bên. Nhóm nghiên cứu xem lại y văn về những trường hợp bướu nguyên bào võng mạc xảy ra ở trẻ sinh đôi và điều trị bướu nguyên bào võng mạc 2 bên và bướu nguyên bào võng mạc 3 bên.

Trang 1

 Ở TRẺ SINH ĐÔI 

Nguyễn Hoàng ViễnThanh*, Cung Thị Tuyết Anh*, Đinh Phạm Hải Đường**, Ngô Thị Thanh Thủy** 

TÓM TẮT 

Nhân một trường hợp Bướu nguyên bào võng mạc (BNBVM) ở trẻ sinh đôi. Trong đó có 1 trẻ xuất hiện  thêm tổn thương ở não hay còn gọi là BNBVM 3 bên. Chúng tôi xem lại y văn về những trường hợp BNBVM  xảy ra ở trẻ sinh đôi và điều trị BNBVM 2 bên và BNBVM 3 bên. 

Từ khóa: bướu nguyên bào võng mạc 

SUMMARY 

RETINOBLASTOMA IN TWINS: REPORT OF A CASE 

Nguyen Hoang Vien Thanh, Cung Thi Tuyet Anh, Dinh Pham Hai Duong, Ngo Thi Thanh Thuy 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 215 ‐ 220

We  reported  a  case  of  retinoblastoma  in  twins.  One  of  them  had  trilateral  retinoblastoma.  We  review  the  literature of retinoblastoma in twins and treatment of bilateral and trilateral retinoblastoma. 

Key word: retinoblastoma 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

BNBVM là bệnh lý ác tính của mắt gặp ở trẻ 

em.  Theo  ghi  nhận,  xuất  độ  trên  thế  giới  là 

1/18000  trẻ  tương  đương  với  30000  trường  hợp 

mỗi  năm.  Tại  Việt  Nam  xuất  độ  khoảng 

1,89/100000  trẻ.  BNBVM  gồm  các  thể  bệnh  sau: 

thể  đơn  lẻ  thường  ở  một  mắt  và  có  tiên  lượng 

tốt, thể di truyền xuất hiện ở cả 2 mắt và thể ba 

vị  trí  (trilateral)  gồm  tổn  thương  ở  2  mắt  và  ở 

tuyến tùng hoặc hố yên. BNBVM không phải là 

bệnh lý hiếm gặp nhưng việc điều trị BNBVM 2 

bên và BNBVM 3 bên trong điều kiện Việt Nam 

còn  nhiều  hạn  chế.  Nhân  một  trường  hợp 

BNBVM  xảy  ra  ở  trẻ  sinh  đôi  trong  đó  một  trẻ 

biểu  hiện  BNBVM  2  bên  và  BNBVM  3  bên, 

chúng tôi xin trình bày bệnh án và xem lại y văn 

về những trường hợp BNBVM xảy ra ở trẻ sinh 

đôi cũng như cập nhật những vấn đề mới trong 

việc điều trị bệnh lý này. 

TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG 

Bé B.P. và B. N. là chị em sinh đôi sinh vào 

tháng 2/2010, sinh thường. 

Lúc hai bé được 8 tháng tuổi, cả hai đều xuất  hiện  đốm  trắng  ở  hai  mắt.  Khám  tại  Bệnh  viện  Mắt thành phố Hồ Chí Minh được chẩn đoán là  BNBVM hai mắt ở hai trẻ sinh đôi. Bệnh viện đề  nghị múc bỏ nhãn cầu mắt phải, gia đình không  đồng ý và xin xuất viện. Một năm rưỡi sau, gia  đình  đưa  hai  bé  trở  lại  bệnh  viện  Mắt  với  tình  trạng  bé  B.  P.  bị  sưng  đau  mắt  phải  và  mất  thị  lực  cả  hai  mắt.  Bé  B.N.  cũng  sưng  và  đau  mắt  phải,  mất  thị  lực  mắt  phải,  mắt  trái  còn  nhìn  thấy được. 

Về tiền căn gia đình cha mẹ hai bé đều khỏe  mạnh,  có  1  con  trai  8  tuổi  với  thị  lực  bình  thường. 

Hai bé được chẩn đoán 

‐  Bé  B.P.:  BNBVM  2  mắt,  mắt  phải  xuất  ngoại, mắt trái giai đoạn E. 

‐  Bé  B.N.:  BNBVM  2  mắt,  mắt  phải  xuất  ngoại, mắt trái giai đoạn D. 

Vào ngày 17/4/2012, hai bé được nạo vét hốc 

* Khoa Xạ 4 – BV Ung Bướu Tp.HCM, ** Khoa Nội 3 – BV Ung Bướu Tp.HCM  

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Hoàng ViễnThanh   ĐT:     Email: vienthanh19@yahoo.com 

Trang 2

BNBVM biệt hóa trung bình xâm lấn củng mạc, 

xuất ngoại, xâm lấn thần kinh thị. 

Sau  đó  hai  bé  được  chuyển  sang  bệnh  viện 

Ung  Bướu  thành  phố  Hồ  Chí  Minh  để  điều  trị 

hỗ trợ, còn mắt trái của bé B.N. sẽ đánh giá khả 

năng bảo tồn mắt sau hóa trị 

Lúc nhập viện bệnh viện Ung Bướu Thành 

phố Hồ Chí Minh 

Bé B. P. 

Hốc mắt phải lành, đang lên mô hạt. 

Hạch ngoại vi không sờ thấy. 

Có đốm trắng đồng tử mắt trái, thị lực =0. 

CT scan sọ não ghi nhận vùng tăng đậm độ 

tại giao thoa thị. 

Hình 1: BNBVM ở vị trí thứ 3(vùng trên hố yên) 

Chẩn  đoán:  BNBVM  ba  vị  trí,  mắt  phải  đã 

phẫu thuật, mắt trái giai đoạn E. 

Bé B. N. 

Hốc mắt phải lành đang lên mô hạt. 

Hình 2: Đốm trắng mắt trái 

Hạch ngoại vi không sờ thấy. 

Có đốm trắng đồng tử mắt trái, thị lực giảm.  CTscan sọ não chưa ghi nhận bất thường.  Chẩn  đoán:  BNBVM  hai  mắt,  mắt  phải  đã  phẫu thuật, mắt trái giai đoạn D. 

Điều trị và diễn tiến 

Bé  B.P.  được  hóa  trị  VEC  6  chu  kỳ.  Tháng  9/2012 bé tử vong do tăng áp lực nội sọ. 

Bé B.N.: hóa trị VEC 6 chu kỳ. Xạ trị bổ túc  vào  hốc  mắt  phải  36  Gy/9  lần,  phân  liều  4Gy.  Đánh  giá  lâm  sàng  sau  điều  trị  thị  lực  mắt  trái  trở lại bình thường, hết đốm trắng đồng tử. Soi  đáy  mắt  trái  ghi  nhận  còn  bướu  ở  võng  mạc.  Hướng xử trí tiếp chuyển bệnh viện Mắt để điều  trị  bảo  tồn  mắt  trái.  Tuy  nhiên  bệnh  viện  Mắt  cũng không có hướng điều trị đặc hiệu gì thêm 

và bé được theo dõi định kỳ tại Bệnh Viện Ung  Bướu.  

Đến 2/2013 bé yếu hai chi dưới và đau đầu.  Chụp MRI tủy sống và sọ não phát hiện bé bị di  căn  tủy  sống  và  di  căn  não.  Điều  trị  hiện  tại  là  chăm sóc giảm nhẹ. 

Hình 3: Di căn tủy sống và não 

BÀN LUẬN 

BNBVM  được  mô  tả  lần  đầu  ở  trẻ  sinh  đôi  bởi WL Benedict(1)vào năm 1929. Đó là cặp sinh  đôi  gái  cùng  trứng,  phát  hiện  bệnh  lúc  hai  trẻ  được 4 tuổi rưỡi. Cha mẹ phát hiện đốm trắng ở  mắt  trái  và  thị  lực  giảm  mắt  phải  ở  em  gái,  người chị gái chỉ ghi nhận đốm trắng ở mắt trái. 

Cả  hai  chị  em  đều  được  múc  bỏ  nhãn  cầu  mắt  trái,  giải  phẫu  bệnh  là  bướu  nguyên  bào  võng 

Trang 3

mạc  chưa  xâm  lấn  thần  kinh  thị.  Sau  đó  một 

năm, bé em tử vong do di căn não, bé chị được 

điều  trị  bảo  tồn  thị  lực  mắt  phải  bằng  radium. 

Năm  1939  Duncan  và  Maynard(7)  cũng  báo  cáo 

một trường hợp BNBVM ở 2 mắt ở trẻ sinh đôi 

nhưng  không  xác  định  rõ  trẻ  sinh  đôi  là  cùng 

trứng hay khác trứng. Đến năm 1941 Macklin(11) 

cũng  mô  tả  hai  trẻ  gái  sinh  đôi  cùng  trứng  bị 

BNBVM,  phát  hiện  lúc  hai  trẻ  khoảng  7  tháng 

tuổi và tử vong sau 1 năm do di căn não. Năm 

1947 Falls(9) mô tả trường hợp trẻ sinh đôi cùng 

trứng  phát  hiện  BNBVM  ở  cả  hai  mắt.  Những 

báo  cáo  này  đều  ghi  nhận  trẻ  sinh  đôi  cùng 

trứng đều bị cùng một bệnh lý là BNBVM. Tuy 

nhiên  năm  1950  Norma  Ford  Walker(13)  tại 

Canada  báo  cáo  trường  hợp  trẻ  sinh  đôi  cùng 

trứng lại không xuất hiện cùng một bệnh lý mà 

1 trẻ sinh ra bị hở hàm ếch và 1 trẻ năm 2 tuổi 

phát  hiện  BNBVM  ở  mắt  trái.  Hai  trẻ  này  đều 

được theo dõi nhiều  năm  sau  đó  nhưng  không 

ghi nhận sự xuất hiện BNBVM ở mắt còn lại của 

trẻ  bị  BNBVM  1  bên  và  hai  mắt  của  trẻ  bị  hở 

hàm ếch thì vẫn bình thường. 

Câu  hỏi  được  đặt  ra  là  nguồn  gốc  bệnh  lý 

BNBVM xảy ra ở trẻ sinh đôi là từ đâu? Từ cha 

mẹ hay ngẫu nhiên? Ở trường hợp cặp sinh đôi 

BNBVM  báo  cáo  đầu  tiên  trên  thế  giới,  tác  giả 

Benedict sau khi tìm hiểu về gia đình của trẻ, 2 

trẻ này có 2 anh trai khỏe mạnh, trong họ hàng 

cũng  không  ghi  nhận  bệnh  lý  về  mắt.  Do  2  trẻ 

này  đều  xuất  hiện  BNBVM  ở  cùng  một  mắt  là 

mắt  trái  nên  tác  giả  cho  rằng  bướu  phát  triển 

trong lúc hình thành phôi thai. Trong những loạt 

ca sinh đôi bị BNBVM được báo cáo vào những 

năm sau đó, các tác giả cũng tìm hiểu về tiền căn 

gia đình của những trẻ sinh đôi này, thì hầu hết 

đều không ghi nhận tiền căn trước đó từ cha mẹ 

hoặc trong phả hệ. Nên các tác giả đều cho rằng 

do  đột  biến  xuất  hiện  trong  lúc  phôi  thai.  Vậy 

trường hợp không cùng xuất hiện BNBVM ở trẻ 

sinh đôi mà tác giả Norma Ford Walker báo cáo 

năm 1950 thì giải thích như thế nào? Những bài 

báo  cáo  của  tác  giả  trên  rải  rác  từ  những  năm 

1939 đến những năm 1950, trong giai đoạn này 

chưa ra đời giả thuyết Knudson và hiểu biết về 

sinh học phân tử còn hạn chế. Mãi đến năm 1971  dựa  trên  quan  sát  48  trường  hợp  BNBVM  tại  bệnh  viện  MD  Anderson  mà  tác  giả  Alfred  G.  Knudson(10) mới đưa ra giả thuyết về 2 cú đánh  (two hit hypothesis) tức là 2 sự kiện đột biến xảy 

ra  trên  một  tế  bào  võng  mạc  mới  gây  ra  BNNBVM. Đến năm 1986 Weinberg và Dryia đã  tìm  ra  một  loại  gen  có  tác  dụng  ức  chế  bướu  (tumor  suppressor  gene)  trong  BNBVM  và  đặt  tên  là  gen  Rb1.  Qua  đó  giả  thuyết  Knudson  đã  được chứng minh là đúng.  

Hình 4: Cơ chế di truyền của BNBVM 

Dựa  trên  những  quan  sát  lâm  sàng,  phân  tích  gen  và  phân  tích  phả  hệ  các  nhà  di  truyền 

đã phân ra các dạng BNBVM sau đây(4): 

‐ Thể di truyền gia đình (10%): nhận gen đột  biến Rb1 từ cha hoặc mẹ nên tất cả tế bào trong 

cơ thể hợp tử đều chứa gen đột biến. Sau sanh,  nếu  thêm  một  đột  biến  nữa  xảy  ra  trên  võng  mạc  thì  sẽ  biểu  hiện  BNBVM.  Phần  lớn  trường  hợp bướu biểu hiện ở cả hai mắt. 

‐  Thể  di  truyền  ngẫu  nhiên  (30%):  đột  biến  mới  xảy  ra  trên  tế  bào  mầm  của  hợp  tử,  di  truyền như BNBVM gia đình và xảy ra ở 2 mắt. 

‐ Thể không di truyền (60%): đột biến trên 2  allele  NST  thường  (NST  13)  ở  tế  bào  võng  mạc  nên không di truyền và thường chỉ xảy ra 1 bên  mắt. 

Trong  những  trường  hợp  lâm  sàng  đã  báo  cáo trên thế giới và cả trường hợp tại bệnh viện  Ung Bướu chúng tôi vừa trình bày, cha mẹ và họ 

Trang 4

hàng  hoàn  toàn  không  có  tiền  căn  gia  đình 

BNBVM. Các cặp song sinh đều bị BNBVM hai 

mắt có thể được xem là đột biến mới trên tế bào 

mầm  còn  gọi  là  thể  di  truyền  ngẫu  nhiên.  Còn 

trường  hợp  của  Norma  Ford  Walker  báo  cáo 

năm 1950 trẻ sinh đôi cùng trứng lại không cùng 

xuất hiện cùng một bệnh  lý  mà  1  trẻ  sinh  ra  bị 

hở  hàm  ếch  lúc  mới  sanh  và  1  trẻ  năm  2  tuổi 

phát hiện BNBVM ở mắt trái. Những năm theo 

dõi sau đó đều không xuất hiện BNBVM ở 2 trẻ 

sinh đôi này, có thể giải thích đây là thể đột biến 

ngẫu  nhiên  không  di  truyền  xảy  ra  trên  NST 

thường và chỉ xảy ra ở một bên mắt của một trẻ. 

Theo Yandell năm 1989(14) cũng nhấn mạnh rằng 

thể di truyền gia đình cũng bắt nguồn ban đầu 

từ đột biến ngẫu nhiên từ tế bào mầm. Về mặt di 

truyền  trong  cùng  1  thế  hệ,  theo  Draper(6)  ghi 

nhận  trên  48  gia  đình  có  con  bị  BNBVM  thì 

trong đó có 5 gia đình có trẻ sinh đôi cùng giới 

tính bị BNBVM và 3 cặp trong số này là sinh đôi 

cùng trứng. Tác giả tính toán rằng nếu một trẻ bị 

BNBVM  2  bên,  không  có  tiền  căn  gia  đình  thì 

nguy cơ cho chị em trong gia đình là 2% và nếu 

trẻ chỉ bị BNBVM 1 bên thì nguy cơ cho chị em 

trong gia đình là 1%. Ở những trẻ bị BNBVM 2 

bên do di truyền thì nguy cơ cho chị em là 45%, 

nếu chỉ 1 bên mắt thì nguy cơ cho chị em là 30%. 

Tại sao cần chú ý về mặt di truyền của  bệnh 

BNBVM? 

Trong  thể  di  truyền  gia  đình  hay  thể  di 

truyền  ngẫu  nhiên,  bướu  thường  ở  hai  mắt,  có 

khuynh  hướng  đa  ổ  cao  hơn  BNBVM  1  bên, 

điều  này  ảnh  hưởng  nhiều  đến  điều  trị  cũng 

như  tiên  lượng  bệnh.  Nhiều  báo  cáo  cho  thấy 

những trẻ sinh đôi bị BNBVM thường xảy ra cả 

hai  mắt  và  tiên  lượng  bệnh  thường  xấu  do  sau 

đó  có  di  căn  não  hoặc  phát  hiện  BNBVM  vị  trí 

thứ  ba.  Theo  Broaddus  E(3)  hồi  cứu  658  trường 

hợp  BNBVM  tại  Mỹ  từ  năm  1975  đến  2004  thì 

thấy  tỉ  lệ  sống  còn  không  bệnh  30  năm  của 

BNBVM  1  bên  là  71,9%  trong  khi  đó  2  bên  là 

26,7%. BNBVM 2 bên còn có nguy cơ xuất hiện 

BNBVM  vị  trị  thứ  3  là  5‐6%  so  với  BNBVM 

chung là 3%. 

BNBVM ba bên (8)  

BNBVM ba bên được định nghĩa khi có tổn  thương ở hai mắt và một vị trí tổn thương ở hố  yên  hoặc  tuyến  tùng.  Theo  y  văn  xuất  độ  xuất  hiện khoảng 3% trong tất cả bệnh nhân BNBVM,  5‐6% đối với BNBVM 2 bên, 10‐15% bệnh nhân 

có  tiền  căn  gia  đình.  Tuổi  trung  bình  23‐48  tháng.  Khoảng  thời  gian  từ  lúc  phát  hiện  BNBVM hai mắt đến khi phát hiện bướu ở não  khoảng 20 tháng. Tiên lượng bệnh rất ảm đạm,  bệnh nhân thường tử vong do gieo rắc trục não  tủy trong thời gian dưới 9 tháng từ lúc phát hiện  bệnh. Bướu tại vùng hố yên thường chẩn đoán  sớm hơn vị trí bướu tại vùng tuyến tùng trung  bình  1  tháng  sau  chẩn  đoán  BNBVM.  Theo  tác  giả  Blach  LE  và  Abramson  DH(2)  ghi  nhận  tại 

Mỹ, BNBVM 3 bên là nguyên nhân gây tử vong  chính  trong  nhóm  BNBVM  2  bên  trong  suốt  những năm đầu đời. Điều trị chủ yếu là hóa trị  dẫn đầu và hóa trị củng cố sau khi ức chế tủy và  ghép tế bào máu gốc(8). 

Điều trị 

Điều trị BNBVM hai bên cũng có chút khác  biệt so với BNBVM 1 bên vì yêu cầu bảo tồn mắt  cao hơn. Trước đây việc điều trị thường là múc 

bỏ mắt bệnh  nặng  hơn  khi  có  ít  hoặc  không  có 

cơ hội giữ thị lực và xạ trị bảo tồn cho mắt còn  lại.  Tuy  nhiên  việc  điều  trị  này  đã  không  còn  được áp dụng do hai lí do sau: khi xạ trị vào hốc  mắt trong suốt khoảng thời gian đang phát triển  của  trẻ  nhỏ  sẽ  dẫn  tới  giảm  sự  phát  triển  đáng 

kể của hốc mắt và xương gò má hoặc phát triển  không  đều  giữa  hai  nửa  khuôn  mặt.  Và  một  lí 

do quan trọng là nguy cơ phát triển ung thư thứ  hai  lên  đến  40%  ở  những  dạng  BNBVM  thể  di  truyền sau khi xạ trị tăng 100 lần khả năng ung  thư  sarcôm,  tăng  10  lần  nguy  cơ  ung  thư  vú  phổi, tuyến giáp và ung thư vùng đầu cổ. Do đó  việc  điều  trị  hiện  nay  là  phối  hợp  giữa  hóa  trị  dẫn đầu để giảm tối đa kích thước bướu còn khu  trú trong hốc mắt sau đó là áp dụng các phương  pháp điều trị khu trú. Việc phối hợp điều trị như  vậy  thực  sự  tăng  khả  năng  bảo  tồn  thị  lực  và  giảm tối đa việc múc nhãn cầu hay xạ trị ngoài(9). 

Trang 5

Các phương pháp điều trị tại chỗ bảo tồn 

Quang đông: kĩ thuật làm tắc các mạch máu 

nuôi võng mạc. Phương pháp này áp dụng khi 

kích  thước  bướu  ngang  đến  4,5mm  và  bề  dày 

2,5mm,  bướu  không  gần  hoàng  điểm  hoặc  gai 

thị. Khả năng kiểm soát bướu tại chỗ là 70%. 

Laser: phương pháp này sử dụng đầu diode 

laser, bướu sẽ được đốt nóng từ 420C‐ 600C trong 

5‐20  phút,  thường  phối  hợp  với  carboplatin 

nhằm tăng nhiệt độ vào bướu. Kết quả đạt được 

70‐80%. Biến chứng hay gặp là dính võng mạc. 

Áp lạnh: mục đích gây tắc nghẽn tuần hoàn, 

mất nước, phá vỡ tuần hoàn bằng que tỏa lạnh 

nitrit  oxide.  Áp  lạnh  ‐800C  đến  khi  bướu  được 

bao hoàn toàn bởi thể thủy tinh đông lạnh. Qui 

trình này lập đi lập lại ít nhất 3 lần. Chỉ định khi 

bướu  ở  trước  xích  đạo,  không  gieo  rắc  pha  lê 

thể. Khả năng kiểm soát bướu tới 90%. 

Đĩa xạ: sử dụng I 125 hoặc Ru 106 áp sát vào 

bướu, tổn thương đến mô lành giới hạn và tỉ lệ 

kiểm  soát  tại  chỗ  cao.  Tuy  nhiên  phương  pháp 

này  chỉ  áp  dụng  khi  bướu  đơn  độc.  Điều  kiện 

thực hiện đòi hỏi bác sĩ phẫu thuật viên có kinh 

nghiệm. 

Hóa  trị  khu  trú  quanh  hốc  mắt:  bơm  thuốc  hóa  chất  vào  dưới  kết  mạc  hoặc  dưới  lớp  xơ  nhưng  hiệu  quả  không  cao  so  với  những  phương pháp vừa kể trên. 

Tại  Việt  Nam  phương  pháp  điều  trị  tại  chỗ  đang áp dụng để điều trị bảo tồn mắt là sử dụng  laser kết hợp với truyền carboplatin. Tuy nhiên 

đa phần bệnh nhân tại các nước đang phát triển  đến vào giai đoạn trễ, bướu không còn khu trú  trong hốc mắt nên việc điều trị chính vẫn là múc  mắt,  sau  đó  hóa  trị  và  xạ  trị  bổ  túc  nếu  bệnh  nhân thuộc nhóm nguy cơ cao.  

KẾT LUẬN 

BNBVM ở trẻ sinh đôi thường xảy ra trên cả  hai mắt, tiên lượng bệnh thường xấu do di căn  não hoặc xuất hiện thêm BNBVM ở vị trí thứ ba.  Việc  điều  trị  bảo  tồn  mắt  trong  điều  kiện  Việt  Nam còn nhiều hạn chế.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Benedict WL (1929). Homologous Retinoblastoma in identical  twins. Trans Am Ophthalmol Soc, 27: 173–176. 

2 Blach  LE,  MB,  Abramson  DH,  Ellsworth  RMT  (1994).  Trilateral  retinoblastoma  ‐incidence  and  outcome:  decade  of  experience. Int J Radiat Oncol Biol Phys, Vol 29, pp.729‐733  

3 Broaddus  E,  Singh  AD  et  al  (2009).  Survival  with 

retinoblastoma in the USA: 1975‐2004. Br J Ophthalmol Vol 93 

(1), pp. 24‐31. 

4 Clark  RD  et  al  (2007).  Retinoblastoma  genetic  testing  and  counseling. In: Arun D.Singh, Bertil E. Damato (eds). Essential 

of ophthalmic oncology, Slach incorporated, pp184‐186. 

5 Dimaras. H, Gallie BL (2010). Genetics of retinoblastoma and  genetic  counseling.  In:  C.Rodriguez‐Galindo  and  M.W.  Wilson  (eds).  Retinoblastoma,  Pediatric  oncology,  chapter  4,  41‐52. 

6 Draper  GJ,  Sander  BM,  Lennox  EL  et  Brownbill  PA  (1996).  Patterns  of  childhood  cancer  among  siblings.  British  journal 

of cancer 74, 152‐158. 

7 Duncan,  WJL,  Maynard  RBM  (1939).  Bilateral  glioma  in  twins. Tr.Ophth.Soc. Australia, 1:125 

8 Dunkel  IJ,  Jubran  RF,  Gururangan  S  et  al  (2010).  Trilateral  retinoblastoma  potentiallly  curable  with  intensive  chemotherapy. Pediatr Blood Cancer, 54(3):384‐7. 

9 Falls  HF  (1947).  Inheritance  of  retinoblastoma,  two  families  supplying evidence. J. Am. M. Ass 138:171‐174. 

10 Knudson  AG  et  al  (1971).  Mutation  and  Cancer:  Statistical  Study of Retinoblastoma. Proc. Nat. Acad. Sci. USA, Vol. 68, 

No. 4, pp. 820‐823. 

11 Macklin  MT  (1941).  Tumors  in  Monozygous  and  Dizygous  twins. Can Med Assoc J.,44(6): 604–606 

12 Rodriguez  GC,  Jeffrey  CB  (2012).  Retinoblastoma.  In:  Gunderson  &  Tepper  (eds).  Clinical  Radiation  Oncology. 

Trang 6

13 Walker  NF  (1950).  Discordant  Monozygotic  Twins  with 

retinoblastoma and cleft palate, Am J Hum Genet, 2(4): 375–

384. 

14 Yandell DW, Campell TA, Dayton SH et al (1989). Oncogenic 

point  mutations  in  the  human  retinoblastoma  gene:  their 

application  to  genetic  counseling.  N  Engl  J  Med  321:  1689‐

1695. 

 

Ngày nhận bài báo      16‐06‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  23‐06‐2013  Ngày bài báo được đăng:   17–07‐2013 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 15:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w