Trong thời gian từ tháng 8/1997 đến tháng 8/1999 chúng tôi đã thực hiện một nghiên cứu đoàn hệ trên 808 sản phụ tại quận 4 thành phố Hồ Chí Minh. Có 32 sản phụ bị đái tháo đường trong thai kỳ. Sau sanh 24 tháng (8/2001) 32 phụ nữ này được thực hiện nghiệm pháp dung nạp 75g glucose-2 giờ, phân loại dung nạp glucose theo tiêu chuẩn của WHO, NDDG 1979 và ADA 1997. Kết quả ghi nhận 12,5% trường hợp rối loạn dung nạp glucose, 9,5% rối loạn đường huyết đói và 6,2% đái tháo đường típ 2 theo ADA 1997.
Trang 1Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG DUNG NẠP GLUCOSE SAU SANH
TRÊN 32 PHỤ NỮ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRONG THAI KỲ
TẠI QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngô Thị Kim Phụng*
TÓM TẮT
Trong thời gian từ tháng 8/1997 đến tháng 8/1999 chúng tôi đã thực hiện một nghiên cứu đoàn hệ trên 808 sản phụ tại quận 4 thành phố Hồ Chí Minh Có 32 sản phụ bị đái tháo đường trong thai kỳ Sau sanh 24 tháng (8/2001) 32 phụ nữ này được thực hiện nghiệm pháp dung nạp 75g glucose-2 giờ, phân loại dung nạp glucose theo tiêu chuẩn của WHO, NDDG 1979 và ADA 1997 Kết quả ghi nhận 12,5% trường hợp rối loạn dung nạp glucose, 9,5% rối loạn đường huyết đói và 6,2% đái tháo đường típ 2 theo ADA 1997 50% trường hợp rối loạn dung nạp glucose có đường huyết đói bình thường; do đó sẽ bỏ sót > 50% phụ nữ có những bất thường này nếu chỉ dựa vào đường huyết đói mà không làm nghiệm pháp dung nạp Cần tư vấn cho các phụ nữ có tiền căn ĐTĐTTK để họ có thể kiên trì theo dõi nhằm phát hiện và điều trị sớm những bất thường dung nạp glucose
SUMMARY
POSTPARTUM GLUCOSE TOLERANCE OF 32 WOMEN WITH GESTATIONAL DIABETES MELLITUS AT THE FOURTH DISTRICT OF HCMC
Ngo Thi Kim Phung* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 135 – 139
From August 1997 to August 1999 we carried out a follow-up study on 808 pregnant women at the 4 th district, HCMC 32/808 (3,9%) pregnant women with GDM performed an OGTT 24 months after delivery(August 2001) They were classified according to WHO, NDDG 1979 and ADA 1997 criteria 12,5% were impaired glucose tolerance, 9,5% were impaired fasting glucose and 6,2% diabetes type2 according
to ADA 1997 criteria 50% of women who had impaired glucose tolerance had normal fasting glucose So
we can miss more than 50% of the abnormal glucose tolerance women if we only use the fasting glucose Counselling for the women with GDM is very important to make them patiently to be followed-up for a long time to detect and treat early the abnormal glucose tolerance
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đưởng trong thai kỳ (ĐTĐTTK) là tình
trạng rối loạn dung nạp glucose với nhiều mức độ
khác nhau được khởi phát hay phát hiện đầu tiên
trong thai kỳ, chiếm tỷ lệ từ 1-14% các thai kỳ Tuy
chưa ảnh hưởng trực tiếp trong thai kỳ này nhưng đã
có nhiều nghiên cứu tại các nước cho thấy 50% các
phụ nữ đã từng bị ĐTĐDTTK có thể trở thành ĐTĐ
thực sự trong vòng 20 năm sau(6,10,16) và tỷ lệ con của
các bà mẹ bị ĐTĐDTTK bị ĐTĐ cũng cao hơn con của
những bà mẹ không bị ĐTĐTTK Những phụ nữ có
tiền căn ĐTĐTTK và có rối loạn dung nạp glucose sau
sanh có tỷ lệ hiện mắc của ĐTĐ hàng năm cao hơn
so với những người có rối loạn dung nạp glucose từ dân số chung(16) ĐTĐTTK là một yếu tố nguy cơ trở thành ĐTĐ và là một trong các nhóm cần phải được tầm soát ĐTĐ hàng năm
Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO: World Health Organization) từ 1985 đã khuyến cáo nghiệm pháp dung nạp glucose uống 75g-2 giờ để đánh giá tình trạng dung nạp glucose sau sanh ở các sản phụ bị ĐTĐTTK Nhóm Dữ Kiện ĐTĐ Quốc Gia Mỹ (NDDG: The National Diabetes Data Group) 1979 và Hiệp Hội ĐTĐ Mỹ (ADA: The American Diabetes Association)
1997 cũng đưa ra tiêu chuẩn phân loại tình trạng
Trang 2của tình trạng dung nạp glucose sau sanh 24 tháng
theo các tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO, NDDG
1979 và ADA 1997
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: cắt dọc tiền cứu
Đối tượng: 32/808 phụ nữ bị ĐTĐTTK tại quận 4
thành phố Hồ Chí Minh
Phương pháp tiến hành: từ tháng 8/1997 đến
tháng 8/1999 chúng tôi tiến hành nghiệm pháp tầm
soát 50g glucose uống-1 giờ vào tuần lễ 24-32 của
thai kỳ với ngưỡng dương tính là 140mg% cho 808
sản phụ tại quận 4 thành phố Hồ Chí Minh Những
sản phụ có nghiệm pháp tầm soát dương tính sẽ được
làm nghiệm pháp chẩn đoán của WHO 75g glucose-2
giờ với tiêu chuẩn chẩn đoán dương tính khi có ít
nhất hai giá trị bằng hay lớn hơn các giá trị trình bày
trong bảng 1
Bảng 1: Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTTK theo WHO (8)
0 95
1 180
2 155
Những sản phụ có đường huyết đói < 105mg%
và đường huyết sau ăn 2 giờ < 120mg% được xếp vào
nhóm A1 theo phân loại White về ĐTĐ thai kỳ;
những sản phụ nào cần thiết phải điều trị Insulin để
ổn định đường huyết được xếp nhóm A2
Sau sanh 24 tháng, những phụ nữ bị ĐTĐTTK sẽ
được khám và làm bệnh án theo mẫu thống nhất,
chú ý các vấn đề:
-Thông tin cá nhân (tuổi, PARA, nghề nghiệp,
tiền căn gia đình về ĐTĐ, tiền căn sản khoa bất
thường , chiều cao, cân nặng)
-Phân loại ĐTĐ thai kỳ theo White
-Thực hiện nghiệm pháp 75g glucose-2 giờ của
WHO: những phụ nữ này được hướng dẫn chế độ ăn
trong 3 ngày trước khi tiến hành nghiệm pháp,
không ăn chế độ ăn có quá nhiều glucid cũng như
không kiêng khem quá, với ít nhất 150g carbohydrate
uống bất kỳ loại thức ăn, thức uống gì trong vòng
8-12 giờ trước đó Chỉ tiến hành nghiệm pháp khi đối tượng ở trong tình trạng ổn định về thể chất và tinh thần như không bị sốt cao, căng thẳng, không dùng các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiệm pháp.ï Nghiệm pháp được tiến hành vào buổi sáng, 7-
8 giờ Đo đường huyết đói Cho đối tượng uống 75g glucose pha trong 250ml nước lạnh và ít chanh trong vòng 5-10 phút Đo lại đường huyết 1 giờ, 2 giờ
Trong quá trình tiến hành, đối tượng được ngồi nghỉ, không lên xuống cầu thang, không hút thuốc
-Phân loại thành các nhóm rối loạn dung nạp glucose hoặc ĐTĐ theo WHO(bảng 2), NDDG 1979 (bảng 3) và ADA 1997 (bảng 4)
Bảng 2: Dung nạp glucose theo WHO (5)
phần
Huyết tương
Đái tháo đường
Lúc đói hay/và 2 giờ sau nạp glucose
≥ 6.7 (120)
≥ 10.0 (180)
≥ 7.8 (140)
≥ 11.1 (200) Rối loạn
dung nạp glucose
Lúc đói hay/và 2 giờ sau nạp glucose
< 6.7 (120) 6.7-10.0 (120-180)
< 7.8 (140) 7.8-11.1 (140-200)
Bảng 3: Phân loại đường huyết sau sanh theo NDDG
1979 (15)
Đường huyết (mg%) Tình trạng dung nạp
Bảng 4: Phân loại đường huyết sau sanh theo ADA
1997 (8)
Đường huyết (mg%)*
Tình trạng dung nạp
Đường huyết huyết tương tĩnh mạch (nghiệm pháp 75g glucose uống-2 giờ) @ Hoặc đường huyết đói hoặc đường huyết 2 giờ sau nghiệm pháp 75g đều được dùng để chẩn đoán • Chẩn đoán ĐTĐ chỉ dựa vào đường huyết đói thì cần phải được xác định hai lần
Trang 3Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm Epi
Info 6.0
KẾT QUẢ
Qua tầm soát và chẩn đoán từ tháng 8/1997 đến
tháng 8/1999 chúng tôi phát hiện 32/808 trường hợp
ĐTĐTTK chiếm tỷ lệ 3,9%
Bảng 5: Một số đặc điểm của 32 trường hợp ĐTĐTTK
Tuổi
< 25
25-29
30-34
≥ 35
Trình độ học vấn
≤ cấp 1
Cấp 2-3
Đại học
Nghề nghiệp
Nội trợ
Buôn bán + Tự do
Công nhân
Công nhân viên
Tiền căn gia đình về ĐTĐ
Có
Không
Chỉ số khối lượng cơ thể
16-17,9
18-19,9
20-25
> 25
Phân loại White
A1
A2
4
7
12
9
9
23
0
16
6
9
1
5
27
9
4
18
1
32
0
12,5 21,9 37,5 28,1 28,1 71,9
0
50 118,7 28,1 3,2 15,6 84,4 28,1 12,5 56,3 3,1
100
0
Phân tích 32 trường hợp ĐTĐTTK chúng tôi
nhận thấy 87,5% trường hợp có tuổi >25; tuổi trung
bình là 31, nhỏ nhất là 23 và lớn nhất là 38 84,4%
trường hợp không có tiền căn gia đình về ĐTĐ Chỉ
có 3,1% trường hợp có chỉ số khối lượng cơ thể > 25;
2/3 có trình độ trung học, 1/3 có trình độ cấp 1 32/32
(100%) trường hợp là nhóm A1 theo phân loại White
(bảng 5)
Dựa vào kết quả đường huyết đói và đường huyết
2 giờ sau nghiệm pháp, đối tượng được phân loại tình
trạng dung nạp glucose thành các nhóm ĐTĐ, rối
loạn đường huyết đói (IFG: impaired fasting glucose),
rối loạn dung nạp glucose (IGT: impaired glucose
tolerance), không chẩn đoán được và dung nạp
glucose bình thường theo các tiêu chuẩn chẩn đoán của WHO, NDDG 1979 và ADA 1997 (bảng 6)
Bảng 6: Phân loại các phụ nữ bằng đường huyết sau
sanh theo tiêu chuẩn WHO, NDDG 1979 và ADA 1997
n % n % n %
ĐTĐ 2/32 6,2 2/32 6,2 2/32 6,2 IFG 3/32 9,3 IGT 2/32 6,2 2/32 6,2 4/32 12,5
Nhận xét:
-Tỷ lệ ĐTĐ là 6,2% theo cả ba tiêu chuẩn chẩn đoán
-Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 6,2% (WHO - NDDG), 12,5% (ADA)
-9,3% rối loạn đường huyết đói theo ADA 1997 Theo tiêu chuẩn của WHO có 12,4% phụ nữ có bất thường dung nạp glucose trong đó có 2/32 (6,2%) là ĐTĐ và 2/32 (6,2%) là rối loạn dung nạp glucose Tuy nhiên theo NDDG 1979 có thêm 2/32 (6,2%) trường hợp không chẩn đoán được vì có đường huyết đói >115mg% và đường huyết 2 giờ < 140mg% Nếu theo tiêu chuẩn phân loại mới của ADA 1997 thì có 2/32 (6,2%) là ĐTĐ, 3/32 (9,3%) tăng đường huyết đói (≥ 110mg%, <126mg%), 5/32 (15,6%) rối loạn dung nạp glucose 2/5 trường hợp này là 2 trường hợp không chẩn đoán được theo NDDG và bình thường theo WHO (bảng 6)
BÀN LUẬN
Sau khi thực hiện nghiệm pháp 75g-2 giờ trên 32/32 phụ nữ bị ĐTĐTTK trong lô nghiên cứu của chúng tôi 24 tháng sau sanh, kết quả ghi nhận có 2/18 (6,2%) trường hợp ĐTĐ theo cả ba tiêu chuẩn phân loại dung nạp glucose ở phụ nữ không có thai của WHO, NDDG 1979 và ADA 1997 Trường hợp thứ nhất 32 tuổi, sanh lần thứ hai (con 4100g, sanh thường), không có tiền căn gia đình về ĐTĐ, BMI =
25 Trường hợp thứ hai 39 tuổi, sanh lần thứ ba, tiền căn gia đình có một người cháu ruột (họ ngoại) bị ĐTĐ phát hiện do bị biến chứng nhiễm trùng bàn chân, BMI = 26; người phụ nữ này có giá trị đường
Trang 4huyết 1 giờ của nghiệm pháp 50g ≥ 200mg% là một
trong những yếu tố tiên lượng cho tình trạng bất
dung nạp glucose sau sanh ở những phụ nữ bị
ĐTĐTTK
Các sản phụ trong nghiên cứu của chúng tôi
thuộc nhóm A1 theo phân loại của White và thời
diểm phát hiện ĐTĐTTK sau 24 tuần Kết luận của
Svare(17) là những phụ nữ được chẩn đoán ĐTĐTTK
trước tuần lễ thứ 20 của thai kỳ có nhu cầu điều trị
Insulin nhiều hơn so với nhóm được phát hiện muộn
phù hợp với kết quả của chúng tôi Vả lại, ở một số
sản phụ ĐTĐTTK tiết chế thích hợp cũng đã có thể
kiểm soát tốt đường huyết(2) Tỷ lệ 6,2% ĐTĐ của
chúng tôi phù hợp với nhận định của Damm(12) Tác
giả nhận thấy những phụ nữ có tiền căn ĐTĐTTK
nhóm A1 cũng có gia tăng nguy cơ ĐTĐ về sau
Khi so sánh tình trạng dung nạp glucose sau sanh
với các tác giả khác chúng tôi có được kết quả trình bày
trong bảng7 Tỷ lệ ĐTĐ cũng như rối loạn dung nạp
glucose sau sanh thay đổi do khác nhau về chủng tộc,
thời điểm xét nghiệm nhưng cùng nói lên được sự
cần thiết phải theo dõi những sản phụ có tiền căn
ĐTĐTTK nhằm phát hiện sớm và hướng dẫn điều trị
thích hợp để tránh được các biến chứng về sau
Bảng 7: Tỷ lệ bất thường dung nạp glucose sau
sanh theo một số tác giả (tiêu chuẩn chẩn đoán
của NDDG 1979)
Ngô Thị Kim Phụng
Catalano (7)
Dacus (11)
Kjos (15)
Greenberg (13)
Metzer (13)
Farell (13)
18
103
145
246
Việt Nam
Da trắng
Da đen Hispanic Úc
6,2%
2,9%
10%
9%
16%
38%
26%
6,2%
7%
5%
10%
18%
19%
7,3%
Nhiều nghiên cứu khác(13) trên phụ nữ bị
ĐTĐTTK cũng cảnh báo rằng những phụ nữ này, đặc
biệt là phụ nữ Á châu, có tỷ lệ ĐTĐ cao cho thấy sự
cần thiết có một chiến lược tầm soát ĐTĐ, ĐTĐTTK ở
phụ nữ Á châu
Năm 1997 dưới sự bảo trợ của ADA, các chuyên
gia về chẩn đoán và phân loại ĐTĐ đã đưa ra một
chuẩn chẩn đoán của NDDG 1979 Những thay đổi trong tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ típ 2 nhằm mục đích phát hiện bệnh ở những giai đoạn sớm hơn, chọn lựa những ngưỡng chẩn đoán có ảnh hưởng tốt hơn trên nguy cơ bệnh lý mạch máu về sau Theo phân loại mới của ADA 1997 chúng tôi có 28% trường hợp có bất thường dung nạp glucose sau sanh, trong đó 6,2% là ĐTĐ tương tự như phân loại của WHO và NDDG 1979 Tuy nhiên tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose lại cao hơn (12,5%) so với phân loại của WHO (6,2%) và NDDG 1979 (6,2%) 2/4 (50%) trường hợp rối loạn dung nạp glucose có đường huyết đói bình thường, phù hợp với Conway (65%) (9) 6,2% trường hợp không chẩn đoán theo NDDG 1979 đều là nhóm rối loạn đường huyết đói theo ADA 1997 Kết quả của chúng tôi phù hợp với Conway (bảng 8)
Bảng 8: Dung nạp glucose sau sanh qua nghiệm
pháp 75g-2 giờ theo tiêu chuẩn chẩn đoán của NDDG
1979 và ADA 1997
Tình trạng dung
Rối loạn đường
Do đó khi áp dụng tiêu chuẩn ADA 1997 thì tỷ lệ bất thường dung nạp glucose sau sanh tăng hơn hai lần, chẩn đoán được nhiều phụ nữ hơn với mức độ rối loạn dung nạp glucose nhẹ hơn Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào đường huyết đói mà không làm nghiệm pháp dung nạp glucose sẽ bỏ sót > 50% phụ nữ có những bất thường này
Nghiên cứu của chúng tôi cũng như của nhiều tác giả đã nêu trên xác định được một tỷ lệ có ý nghĩa những phụ nữ bị ĐTĐTTK vẫn tiếp tục có những bất thường dung nạp glucose sau sanh sớm hoặc muộn Những phụ nữ được chẩn đoán ĐTĐ sẽ được điều trị thích hợp để ổn định đường huyết Những phụ nữ có rối loạn đường huyết đói hoặc rối loạn dung nạp glucose sẽ được cảnh báo có thể diễn tiến đến ĐTĐ Tất cả những phụ nữ này sẽ được hướng dẫn và động
Trang 5Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
viên trong vấn đề thay đổi cách sống hay thói quen
ăn uống cũng như đánh giá lại tình trạng dung nạp
glucose Việc chẩn đoán sớm hoặc cảnh báo nguy cơ
của bất thường dung nạp glucose sẽ có ảnh hưởng tốt
cho sức khỏe của những phụ nữ này(1,14)
KẾT LUẬN
Từ kết quả nghiên cứu 24 tháng sau sanh chúng
tôi ghi nhận 12,5% trường hợp rối loạn dung nạp
glucose, 9,5% rối loạn đường huyết đói và 6,2% là
ĐTĐ típ 2 theo tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ típ 2 của
ADA 1997 Do đó, chúng ta cần phải tăng cường giáo
dục về tầm quan trọng của ĐTĐTTK, một trong
những yếu tố nguy cơ của ĐTĐ típ 2 là một bệnh lý
thường được phát hiện muộn với rất nhiều biến
chứng Cần tư vấn thêm cho các phụ nữ có tiền căn
ĐTĐTTK, cảnh báo nguy cơ thành ĐTĐ thực sự về
sau để họ biết và kiên trì theo dõi nhằm phát hiện và
điều trị sớm những bất thường dung nạp glucose
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phượng, Lại thị Phương Quỳnh (1998),″ Thông tin y
học: Dịch tễ học của ĐTĐ type 2 không được chẩn
đoán”, Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, số đặc biệt
chuyên đề nội tiết,Tập 2, Phụ bản số 3, tr 49 – 50
2 Đoàn Hữu Hậu (1997), Tầm soát đái tháo đường trong
thai kỳ tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Luận văn
tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú
3 Nguyễn Thy Khuê (2000), ″Bệnh Đái Tháo Đường”,
Nội tiết học đại cương, Nhà xuất bản Thành Phố Hồ
Chí Minh, tr 467 – 519
4 Nguyễn Duy Tài, Trần Sơn Thạch (2001),″ Kết quả
điều trị tiểu đường thai kỳ tại Bệnh viện Hùng
Vương”, Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh, số đặc biệt
Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Dược
Thành Phố Hồ Chí Minh, chuyên đề Sản Niệu, Phụ
bản số 4, Tập 5, tr 32 – 37
5 Mai Thế Trạch (1995),″ D1- Định nghĩa bệnh đái tháo
đường: Ai bị đái tháo đường?” Từ điển thực hành Đái
Tháo Đường, Nhà xuất bản Y Học, tr 32 – 34
6 Buchanan T.A., Xiang A., Kjos S.L., Lee W.P., Trigo
E., Nader I et al, (1998), “Gestational diabetes
antepartum glucose tolerance and Type 2 diabetes in
latino women”, Diabetes, 47, pp 1302-1310
7 Catalano P.M., Bermstein I.M., Wolfe R.R., Srikanta S., Tyzbir E., Sims EA (1986),″Subclinical abnormalities of glucose metabolism in subjects with
previous gestational diabetes”, Am J Obstet Gynecol,
155:pp.1255 – 1262
8 Committee Report (2000), ″Report of the Expert Committee on the Diagnosis and Classification of Diabetes Mellitus – The Expert Committee on the Diagnosis and Classification of Diabetes Mellitus”,
Diabetes Care, 21(suppl 1), American Diabetes
Association: Clinical Practice Recommendations 2000, pp.1-30
9 Conway D.L., Langer O (1999), ″Effects of new criteria for type 2 diabetes on the rate of postpartum glucose intolerance in women with gestational
diabetes”, Am J Obstet Gynecol, 181:pp 610 – 4
10 Coustan D.R., Carpenter M.W., O Sullivan P.S., Carr S.R., (1993),”Gestational diabetes predictors of
subsequent disordered glucose metabolism”, Am J Obstet Gynecol, 168, pp 1139-1145
11 Dacus J.V., Meyer N.L., Muram D., Stilson R., Phipp S., Peggy, Sibai B.M.(1994),″Gestational diabetes:
postpartum glucose tolerance testing”, Am J Obstet Gynecol, 171:pp 927 – 31
12 Damm P., Kuhl C., Bertelsen A., Molsted-Pedersen L
(1992),″Predictive factors for the development of
diabetes in women with previous gestational diabetes
mellitus”, Am J Obstet Gynecol, 167:pp 607 – 16
13 Hsu-Hage B.H., Yang X (1999),″ Review Article: Gestational Diabetes Mellitus and its complications”,
Asia Pacific J Clin Nutr, 8(1):pp.82 – 89
14 R.C., Schleyhaln F.T., Huffman D.G., Amanwak K.S., (1995), Gestational diabetes diagnostic criteria:
long-term maternal follow-up”, Am J Obstet Gynecol,
172:pp 621 – 5
15 Kjos S.L., Buchanan T.A., Greenspoon J.S., Montoro M., Bernstein G.S., Mestman J.H (1990), ″Gestational diabetes mellitus: the Prevalence of glucose intolerance and diabetes mellitus in the first two
months postpartum”, Am J Obstet Gynecol, 163:pp 93
– 98
16 Kjos S.L., Peters R.K., Xiang A., Henry O.A., Montoro M., Buchanan T.A.,(1995), “ Predicting future diabetes
in latino women with gestational diabetes Utility of
early postpartum glucose tolerance testing”, Diabetes,
44: pp.586-591