Mục tiêu của bài viết là đánh giá ứng dụng và kết quả phẫu thuật nội soi (PTNS) ổ bụng điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh (PĐTBS). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu 76 BN dưới 36 tháng tuổi, chẩn đoán PĐTBS dựa vào kết quả sinh thiết tức thì trong mổ, có vị trí vô hạch từ trực tràng tới ĐT xích ma, được PTNS một thì tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 1/2008 đến tháng 1/2010.
Trang 1KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI Ổ BỤNG
ĐIỀU TRỊ BỆNH PHÌNH ĐẠI TRÀNG BẨM SINH MỘT THÌ
Hồng Anh *
Trường ĐH Y Dược - ĐH Thái Nguyên TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá ứng dụng và kết quả phẫu thuật nội soi (PTNS) ổ bụng điều trị bệnh phình đại
tràng bẩm sinh (PĐTBS)
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu 76 BN dưới 36 tháng tuổi, chẩn đoán PĐTBS dựa
vào kết quả sinh thiết tức thì trong mổ, có vị trí vô hạch từ trực tràng tới ĐT xích ma, được PTNS một thì tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 1/2008 đến tháng 1/2010
Kết quả: 76 BN được PTNS một thì gồm 63 nam và 13 nữ, tuổi trung bình là 5,5 ± 0,7tháng (từ
16 ngày đến 24 tháng), trọng lượng trung bình là 5,9 ± 2.2kg, 13 BN có vị trí vô hạch ở trực tràng (17,1%), 63 BN có vị trí vô hạch tới ĐT xích ma (82,9%) 76 BN đều được đặt 3 trocar 5mm và 1 trocar 3mm với áp lực bơm C0 2 bằng 1/10 trị số huyết áp động mạch BN Thời gian phẫu thuật trung bình 121 phút( từ 80 đến 180 phút), đoạn ruột cắt trung bình 22cm (từ 14 đến 40cm) Không
có tai biến trong mổ, không có BN phải chuyển mổ mở BN được ăn sau mổ 24 giờ, không có tử vong, không nhiễm trùng vết mổ, 3 BN bị lòi mạc nối khi rút dẫn lưu, 37 BN có đỏ da quanh hậu môn trong thời gian ngắn sau mổ Thời gian nằm điều trị sau mổ trung bình 5,7 ± 1 ngày, khi xuất viện các BN đều tự đại tiện Một BN bị rò miệng nối phải mổ lại Có 52 BN đến kiểm tra sau mổ với thời gian theo dõi trung bình 16,8± 6,9 tháng (từ 3,5 đến 29 tháng) và tuổi trung bình là 22,5 ± 9,5 tháng (từ 6 đến 50 tháng) Số lần đại tiện trung bình là 1,5 ± 0,6 lần/ngày (từ 1 đến 4 lần), 48
BN (92,3%) có số lần đi ngoài bình thường 50 BN (96,2%) đi ngoài phân thành khuôn, 8BN (15,4%) thỉnh thoảng bị són phân Có 5 BN bị viêm ruột Không BN nào bị táo bón tái phát, hẹp miệng nối và tắc ruột do dính sau mổ
Kết luận: PTNS ổ bụng điều trị bệnh PĐTBS một thì đảm bảo an toàn, thẩm mỹ, ít sang chấn
hoàn toàn có thể thực hiện được cho BN dưới 36 tháng tuổi có vị trí vô hạch từ trực tràng tới ĐT xích ma Sau mổ BN đều tự đại tiện, không táo bón, tuy nhiên cần tiếp tục theo dõi lâu dài để đánh giá chức năng kiểm soát đại tiện
Từ khóa: phẫu thuật nội soi, bệnh phình đại tràng bẩm sinh
ĐẶT VẤN ĐỀ*
Phẫu thuật nội soi với những ưu điểm vượt
trội như thẩm mỹ, ít gây chấn thương ổ phúc
mạc, quan sát rõ đoạn vô hạch, đoạn giãn và
ĐT lành, thời gian phục hồi sau mổ ngắn đã
được áp dụng trong điều trị PĐTBS tại một số
trung tâm phẫu thuật nhi lớn [5, 6, 8]
Nhiều nghiên cứu mô tả một số kết quả chưa
tốt qua theo dõi sau mổ như viêm ruột tái
phát, táo bón, són phân, không kiểm soát đại
tiện với tỷ lệ khác nhau bất kể tới áp dụng
phương pháp phẫu thuật nào Tuy nhiên,
nghiên cứu theo dõi kết quả lâu dài sau
PTNS chưa nhiều
Tại Việt Nam, PTNS điều trị PĐTBS bắt đầu
được thực hiện tại Viện Nhi Trung ương từ
năm 1997, đến năm 2001 PTNS mới được áp
dụng nhiều để điều trị PĐTBS Từ đó đến nay
mới có báo cáo nhận xét về kết quả bước đầu
*
Email : drhonganh70@yahoo.com
áp dụng kỹ thuật này trong điều trị bệnh PĐTBS [2], kết quả theo dõi xa sau mổ chưa được đề cập tới Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Kết quả PTNS ổ bụng điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh một thì” với mục tiêu:
1 Đánh giá ứng dụng PTNS ổ bụng điều trị bệnh PĐTBS
2 Đánh giá kết quả theo dõi sau phẫu thuât nội soi ổ bụng điều trị bệnh PĐTBS
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân bị
PĐTBS được PTNS một thì tại Bệnh viện Nhi
Trung ương
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
- Tuổi: Từ sơ sinh đến 36 tháng tuổi, cả nam
và nữ
- Tiêu chuẩn chọn: Bệnh nhân có vị trí đoạn
vô hạch ở trực tràng, ĐT xích ma Có kết quả
Trang 2sinh thiết trong mổ là không có tế bào hạch
thần kinh ở đoạn hẹp
- Tiêu chuẩn loại trừ: Đã mổ ở nơi khác thất
bại, mổ nhiều thì, bị bệnh PĐTBS đang có các
biến chứng viêm ruột, tắc ruột, viêm phúc mạc
Có các chống chỉ định của PTNS như rối loạn
đông máu, bệnh tim bẩm sinh nặng vv
Phương pháp nghiên cứu: Là nghiên cứu
mô tả tiến cứu
Phương pháp phẫu thuật trong nghiên cứu
* Chuẩn bị bệnh nhân: Thụt tháo ĐT sạch
trước mổ Kháng sinh tĩnh mạch trước mổ
(cephalosporine thế hệ thứ 3, gentamycin),
truyền Metronidazol trong mổ
* Kỹ thuật mổ: BN nằm ngửa có độn dưới
mông sát đến rìa hậu môn, nằm theo chiều
ngang bàn mổ Phẫu thuật viên chính, người
phụ mổ đứng phía đầu BN BN được phẫu
thuật theo kỹ thuật của Georgeson
Các chỉ tiêu nghiên cứu: Giới, tuổi (lúc phẫu
thuật), vị trí vô hạch Vị trí đặt trocar, áp lực
bơm hơi C02 Thời gian phẫu thuật, chiều dài
đoạn ruột cắt, tai biến trong mổ, biến chứng sau
mổ Thời gian nằm viện sau mổ, số lần đại tiện
khi ra viện Thời gian theo dõi sau mổ, số lần
đại tiện/ ngày, són phân, độ đặc của phân, sử
dụng thuốc hay các biện pháp can thiệp khi đi
đại tiện Tình trạng miệng nối, các biến chứng
xuất hiện trong thời gian theo dõi
Cách đánh giá:
- Phỏng vấn trực tiếp bố (mẹ) bệnh nhân
- Són phân là tình trạng dây ít phân ra quần
ngoài những lần đại tiện
Không són phân
Hiếm khi són phân: Trung bình són ≤ 2
lần/ tuần
Thỉnh thoảng són phân: Són phân 3- 4 lần/ tuần
Thường xuyên són phân: Ngày nào cũng bị
són phân
- Độ đặc của phân: Phân khuôn, phân nhão,
lúc thành khuôn lúc không
- Khám trực tiếp bệnh nhân đánh giá tình
trạng miệng nối
Miệng nối mềm mại, gờ mảnh, sần sùi,
vòng xơ
Miệng nối không hẹp: Khi kiểm tra hậu môn
nếu lọt que nong hậu môn số 11 hoặc 12 đối
với bệnh nhân trên 12 tháng tuổi, lọt que nong
số 10 đối với bệnh nhân ≤ 12 tháng tuổi Miệng nối hẹp khi không đạt tiêu chuẩn trên
- Viêm ruột sau mổ khi bệnh nhân có các triệu chứng sau: Ỉa phân lỏng mùi thối khẳm, bụng chướng, sôi bụng, có thể sốt hoặc không sốt
- Ghi nhận các biến chứng khi bệnh nhân nằm điều trị tại viện hoặc tới khám lại
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Các
số liệu được thu thập theo mẫu bệnh án được
mã hoá và xử lý trên phần mềm SPSS
KẾT QUẢ
76 BN gồm 63 nam (82,9%) và 13 nữ (17,1%), tuổi TB lúc mổ là 5,5 ± 0,7 tháng (16 ngày ÷ 24 tháng), 19 BN được mổ ở tuổi
sơ sinh
Bảng 1 Tuổi bệnh nhân lúc phẫu thuật Tuổi (tháng) Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)
Trọng lượng TB lúc mổ là 5,9 ± 2.2 kg(2,3kg
÷ 11kg), 13 BN vô hạch ở trực tràng (17,1%),
63 BN vô hạch tới ĐT xích ma (82,9%).Tất
cả các BN đều được đặt 3 trocar 5mm và 1 trocar 3mm với áp lực bơm C02 bằng 1/10 trị
số huyết áp động mạch BN Thời gian phẫu thuật TB 121 phút (80 ÷ 180 phút), đoạn ruột cắt trung bình 22cm (14 ÷ 40cm) Không có tai biến trong mổ, không có BN phải chuyển
mổ mở
BN được ăn sau mổ 24 giờ, không có tử vong, không nhiễm trùng vết mổ, 3 BN bị lòi mạc nối khi rút dẫn lưu, 37 BN có đỏ da quanh hậu môn (26 BN ≤ 3 tháng tuổi) Thời gian nằm viện sau mổ TB 5,7 ± 1 ngày, khi xuất viện các BN đều tự đại tiện trung bình là 6,67
± 2,1 lần/ ngày
* Kết quả theo dõi sau mổ :
Có 52 BN đến kiểm tra sau mổ với thời gian theo dõi TB 16,8± 6,9 tháng (từ 3,5 đến 29 tháng) Tuổi TB là 22,5 ± 9,5 tháng (từ 6 đến
Trang 350 tháng) Số lần đại tiện trung bình là 1,5 ±
0,6 lần/ngày (từ 1 đến 4 lần), số lần đại tiện
giảm dần qua thời gian theo dõi
Bảng 2 Thời gian phẫu thuật và chiều dài đoạn
ruột cắt Chiều
dài đoạn
ruột
cắt(cm)
Thời gian phẫu thuật (phút)
≤ 90 91-120 121-150 >150
Tổng 5(6,5%) 49(64,5%) 18(23,7%) 4(5,3%)
Bảng 3 Số lần đại tiện và thời gian theo dõi sau mổ
Thời
gian
theo dõi
sau mổ
(tháng)
Số lần đại tiện/ ngày
Tổng cộng 1lần 1 - 2 lần 3 - 4lần
<4
4-12
13-24
>24
2
3
16
6
4
2
15
0
0
2
2
0
6
7
33
6 Tổng
cộng 27(52%) 21(40,3%) 4(7,7%) 52
48 BN (92,3%) có số lần đi ngoài bình
thường
Trong 52 BN có 8 BN (15,4%) thỉnh thoảng
bị són phân, mức độ són phân giảm dần qua
thời gian theo dõi (bảng 4)
Bảng 4 Tình trạng són phân và thời gian theo dõi
sau mổ Thời gian
(Tháng)
Són phân Không
són Hiếm thoảng Thỉnh
<4
4- 12
13- 24
>24
4
3
20
4
0
3
8
2
2
2
4
0 Tổng
cộng 31(59,6%) 13(25%) 8(15,4%)
Có 3 BN (5,8%) trên 36 tháng tuổi còn són
phân sau mổ 50/52BN (96,2%) đi ngoài phân
thành khuôn 47/52 BN khám thấy miệng nối
mềm mại không hẹp hoặc đã xóa hết 4 BN
thấy miệng nối gờ mảnh, không hẹp, 1 trường
hợp miệng nối hơi sần
* Biến chứng sau mổ:
- Không có BN nào bị nhiễm trùng vết mổ Không có trường hợp nào tử vong
- Ba trường hợp bị lòi mạc nối ra ngoài khi rút ống dẫn lưu, đã được gây tê tại chỗ, đưa mạc nối vào ổ bụng và khâu lại thành bụng
Có 37/76BN(48,6%) bị đỏ da quanh hậu môn một thời gian ngắn sau mổ, thời gian đỏ da kéo dài trung bình 3 tuần
- Một BN bị rò miệng nối sau mổ 3 tuần
- Có 5/52BN(9,6%) bị viêm ruột sau mổ, 2
BN cần điều trị tại viện
- Không có BN nào bị táo bón tái phát, hẹp miệng nối và tắc ruột do dính sau mổ
- Tất cả các BN được theo dõi đều không có rối loạn tiểu tiện, 45 BN nam đều có khả năng cương dương vật
Bàn luận :
Trong nghiên cứu, có 56/76 BN (73,7%) phẫu thuật dưới 7 tháng, 10 BN phẫu thuật lúc trên
12 tháng tuổi, trung bình tuổi phẫn thuật là 5,5 ± 0,7 tháng Kết quả này cao hơn nghiên cứu của Georgeson là 2,5 tháng và Jona là 7 tuần [6, 8] PTNS ở tuổi nhỏ có một số ưu điểm đáng kể là: ĐT giãn ít, mạch máu mạc treo nhỏ, việc giải phóng ĐT và cầm máu mạc treo khá thuận lợi Có 19 BN được mổ ở giai đoạn sơ sinh, BN nhỏ nhất là 16 ngày tuổi, kết quả này phù hợp với một số tác giả khác Trong nghiên cứu này cũng như một số nghiên cứu khác không gặp tai biến, biến chứng trong mổ cho BN kể cả ở độ tuổi sơ sinh Đối với BN trên 12 tháng tuổi, ĐT giãn
to, phân ứ đọng nhiều, cần phải chuẩn bị ĐT thật sạch trước mổ Một số nghiên cứu đã PTNS cho BN ở lứa tuổi lớn hơn nhưng gặp nhiều biến chứng hơn như rò miệng nối, viêm ruột sớm sau mổ [3, 7, 10]
63/76 BN (82,9%) có vị trí vô hạch tới ĐT xích ma được PTNS Cũng giống như các nghiên cứu khác, chỉ định PTNS là phù hợp khi vị trí vô hạch tới ĐT xích ma Tất cả các
BN đều được đặt 4 trocar như kỹ thuật mô tả Với vị trí đặt trocar này thì việc sinh thiết, giải phóng trực tràng, ĐT xích ma và ĐT xuống thuận lợi Thực tế 70 – 80% các trường hợp có
vị trí vô hạch ở trực tràng và ĐT xích ma Nếu
Trang 4vô hạch cao hơn, cần phải giải phóng ĐT góc
lách, ĐT ngang thì vị trí đặt trocar này không
thuận lợi cho phẫu tích Trong PT qua đường
hậu môn, sẽ gặp khó khăn khi giải phóng mạc
treo 1/3 trên ĐT xích ma và tính toán đủ cung
mạch cấp máu cho miệng nối [1]
BN có trọng lượng 2,3kg đến 11kg, thành
bụng mỏng, đặc biệt là trẻ sơ sinh, do vậy
việc áp dụng kỹ thuật đặt trocar theo phương
pháp mở đã tránh được tai biến ở thì đặt
trocar Áp lực bơm hơi CO2 không quá 1/10
trị số huyết áp tối đa của BN, không thấy có
tai biến liên quan đến bơm hơi CO2 Tuy vậy
trong phẫu thuật có lúc phải phối hợp nâng
thành bụng bằng chính trocar để tăng thêm
không gian cho quá trình phẫu tích
Kỹ thuật sinh thiết cơ đại trực tràng qua nội
soi không khó khăn Tuy nhiên có 3 trường
hợp bị thủng niêm mạc, có thể do tình trạng
viêm ruột trước mổ gây dính lớp thanh cơ với
lớp dưới niêm mạc Lỗ thủng được khâu kín
bằng chỉ PDS 5/0 Sau mổ BN không có biến
chứng gì Chúng tôi thấy PTNS là kỹ thuật
cho phép chủ động tính toán mạch máu, vì
vậy miệng nối không bị căng, phẫu tích trực
tràng xuống sâu nên khi phẫu tích ở thì hậu
môn dễ dàng hơn là khi phẫu tích qua đường
hậu môn đơn thuần Quan sát rất rõ các tạng ở
tiểu khung vì vậy đã không làm tổn thương
các thành phần này trong quá trình phẫu tích
đặc biệt là ống dẫn tinh
Thời gian phẫu thuật TB 121 phút So với
một số tác giả khác thời gian phẫu thuật của
chúng tôi ngắn hơn Cũng tại Bệnh viện Nhi
Trung ương, trong thời gian 2002-2004 thời
gian phẫu thuật trung bình là 140 phút Như
vậy, khi PT trở thành thường qui sẽ rút ngắn
thời gian phẫu thuật, tuy có lâu hơn so với PT
qua đường hậu môn đơn thuần[1, 4]
Kết quả sớm sau mổ:
Sau PTNS, BN phục hồi nhanh Thời gian có
hơi và phân qua ống thông trung bình 8,86 ±
2,8 giờ Không gặp trường hợp nào bị bục
miệng nối, nhiễm trùng vết mổ, viêm ruột
sớm sau mổ Kết quả này phù hợp với các
nghiên cứu khác[6, 8]
Có bệnh nhân bị lòi mạc nối lớn ra ngoài khi rút ống dẫn lưu Chúng tôi nhận thấy những
BN này có lỗ đặt troca rộng, khi đặt dẫn lưu chỉ cố định dẫn lưu mà không khâu hẹp bớt lỗ đặt troca, sau khi rút kinh nghiệm không có bệnh nhân nào bị lòi mạc nối nữa
Thời gian nằm viện sau mổ TB là 5,7 ngày, so với Georgeson là 4 ngày và Jona là 2- 3 ngày[6, 8] Sở dĩ thời gian nằm viện kéo dài
vì BN của chúng tôi từ khắp các tỉnh của miền Bắc về điều trị, nhiều bệnh nhân ở vùng sâu nên không thể cho BN ra viện sớm được
vì gia đình BN và thầy thuốc không yên tâm Tuy nhiên, qua theo dõi chúng tôi không ghi nhận thấy biến chứng gì, như vậy có thể cho
BN ra viện sớm hơn nếu trong quá trình hậu phẫu không có gì đặc biệt
Khi ra viện các BN tự đại tiện TB là 6,67 lần/ ngày (1 ÷ 12 lần) Vì phần lớn các BN được phẫu thuật ở lứa tuổi bú mẹ, đồng thời bị cắt mất đoạn ĐT nên sau mổ BN đi đại tiện nhiều lần là tất yếu 37 BN bị đỏ da quanh hậu môn trước khi ra viện trong đó có 26 BN dưới 3 tháng tuổi Có thể do ảnh hưởng của độ PH của phân đã gây nên tổn thương này Những
BN này được bôi mỡ Penexillin quanh hậu môn để giảm bớt tổn thương da quanh hậu môn Một số tác giả cho biết đỏ da quanh hậu môn sẽ giảm dần khi số lần đại tiện của BN giảm xuống [3, 5, 7]
Kết quả theo dõi xa sau mổ:
Có 52/76BN (68,4%) đến kiểm tra sau mổ có tuổi TB 22,5 ± 9,5 tháng (6 ÷ 50 tháng), thời gian theo dőiTB lŕ 16,8 ± 6,9 tháng (3,5 ÷ 29 tháng), số lần đại tiện TB là 1,5 lần/ngày(1 lần ÷ 4 lần) Đối với trẻ bình thường, khi lớn lên số lần đại tiện/ngày giảm xuống Qua theo dõi chúng tôi nhận thấy số lần đại tiện/ ngày giảm dần qua thời gian theo dõi sau mổ (bảng 3) Tuy nhiên, 2 BN sau mổ trên 12 tháng nhưng đại tiện 3 đến 4 lần/ngày, khi hỏi cha
mẹ BN chúng tôi thấy đó là những trẻ không được ngồi bô khi đại tiện hoặc ỉa đùn, vì không đại tiện hết phân trong ĐT nên trẻ đi nhiều lần Khi cha mẹ BN được tư vấn về cách tạo thói quen đại tiện đúng giờ cho trẻ
Trang 5thì tình trạng này được cải thiện Phần lớn các
tác giả đều thấy số lần đại tiện giảm dần qua
thời gian theo dõi Sau mổ, BN đại tiện từ 5
đến 8 lần/ ngày, trong vòng 3 tháng đầu sau
mổ số lần đại tiện giảm xuống còn 3-5 lần/
ngày Từ lúc 3 tháng cho tới 1 năm số lần đại
tiện từ 2-3 lần / ngày Xu hướng đại tiện duy
trì 2 lần / ngày trong năm tiếp theo [3]
Són phân thường thấy ở BN sau mổ chữa
PĐTBS, mức độ són phân tùy thuộc vào độ
đặc của phân, tình trạng cơ thắt hậu môn ,
tần suất són phân sẽ giảm khi trẻ lớn lên và
đại tiện phân có khuôn Trong nghiên cứu
này, có 59,6% không còn són phân đến thời
điểm đánh giá Chỉ có 7/50 BN đại tiện phân
thành khuôn thỉnh thoảng bị són phân, phần
lớn những BN này phẫu thuật chưa được một
năm Theo Resecorla và cộng sự, 12% BN
dưới năm tuổi còn són phân, tỉ lệ này giảm
xuống còn 6% trong độ tuổi 10-15, không còn
trường hợp không kiểm soát đại tiện khi trên
15 tuổi [10] Trong nghiên cứu này, chỉ có
5,8% BN trên 36 tháng tuổi có són phân, đây
là kết quả đáng được ghi nhận Tuổi BN còn
nhỏ, cần phải tiếp tục theo dõi để đánh giá
khả năng kiểm soát đại tiện vì đây là một
trong những tiêu chí quan trọng đánh giá chất
lượng cuộc sống BN sau mổ chữa PĐTBS
Táo bón là vấn đề thường gặp của BN sau
phẫu thuật hạ ĐT Táo bón thường xuất hiện
trong thời gian ngắn và cải thiện cùng với
thời gian Tỉ lệ táo bón từ 5-20% tùy theo tác
giả [4, 9] Nghiên cứu này không gặp BN nào
bị táo bón sau mổ, kết quả này đem lại sự hài
lòng cho gia đình bệnh nhân vì phần lớn trước
mổ BN đến viện vì táo bón
Biến chứng sau mổ:
Viêm ruột là biến chứng thường gặp sau mổ,
tỷ lệ viêm ruột sau mổ khác nhau từ
12%-34% [7, 10] Khoảng 50% số ca tử vong liên
quan trực tiếp tới PĐTBS do viêm ruột 5BN
(9,6%) bị viêm ruột, trong đó 3 BN điều trị
ngoại trú, chỉ có 2 BN điều trị tại viện với
kháng sinh Cephalosporin, metronidazole và
thụt tháo, sau 4 đến 6 ngày BN được ra viện
Sau khi ra viện, cha mẹ BN được tư vấn kỹ về
biến chứng viêm ruột và cách nong hậu môn
làm xẹp hơi trong ĐT khi chướng bụng hoặc bất thường về phân
Một BN bị rò miệng nối, được dẫn lưu hồi tràng nhưng không kết quả và phải phẫu thuật lại để hạ ĐT Khi phân tích chúng tôi nhận thấy BN 21 tháng tuổi, bị táo bón kéo dài, lòng ĐT không được thụt sạch như các bệnh nhân khác, khi mổ phần ĐT nối với ống hậu môn tương đối giãn, có thể đây là lí do gây rò miệng nối sau mổ Trong trường hợp này nếu khâu nối và để mỏm thừa sẽ an toàn cho BN, tránh được rò miệng nối
Không BN nào bị tắc ruột sau mổ, đây cũng
là một ưu điểm vượt trội của PTNS so PT kinh điển Không có hẹp miệng nối không có
BN bị rối loạn tiểu tiện, các BN nam đều có biểu hiện cường dương Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu khác [7, 10]
Kết luận: PTNS ổ bụng điều trị bệnh PĐTBS
một thì có thể áp dụng cho BN dưới 36 tháng tuổi có vị trí vô hạch từ trực tràng tới ĐT xích
ma đảm bảo an toàn, thẩm mỹ, ít sang chấn, hồi phục sau mổ nhanh Sau mổ BN đều tự đại tiện, không còn táo bón, tuy nhiên BN cần được theo dõi tiếp để đánh giá chức năng kiểm soát đại tiện
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6[1] Bùi Đức Hậu (2006), "Nghiên cứu ứng dụng
phẫu thuật một thì qua đường hậu môn để điều trị
bệnh phình ĐT bẩm sinh", Luận văn tốt nghiệp bác
sỹ chuyên khoa cấp II, Hà nội
"Điều trị bệnh phình ĐT bẩm sinh bằng PTNS: Kinh
nghiệm với 113 trường hợp", Y học thực hành, 506 ,tr
119
[3] Erdek M., Wilt E (1994), "Hirschsprung's
disease: one institution's ten year experience and
long- term follow- up", Am Surg, 60, pp 625-628
[4] Essam A., Elhalabi A., Hashish M et al
(2004), "Transanal one- stage Endorectal
pull-through for Hirschsprung's disease : A multicenter
Study", J Pediatr Surg, 39 (3), pp 345-351
[5] Ghirardo V., Betalli P., Mognato G et al
(2007), "Laparotomic versus laparoscopic Duhamel
pull-through for Hirschsprung disease in infants and
children", J Laparoendosc Adv Surg Tech A, 17 (1),
pp
"Laparoscopic-assisted approachs for the definitive
surgery for Hirschsprung's disease", Semen Pediartr Surg, 13 (4), pp 256-262
[7] Ikeda K., Goto S (1984), "Diagnosis and treatment of Hirschsprung’s disease in Japan An
analysis of 1628 patients", Ann Surg 199, pp
400-405
[8] Jona J.D (2005), "Laparoscopic Pull-through
for Hirschsprung's disease in infants", J Indian Asso Pediatr Surg, 10 (1), pp 28-30
al (2007), "Are the long-term results of the Transanal pull-through equal to those of the transabdominal pull-through? A comparision of the approaches for
Hirschsprung's disease", J Pediatr Surg, 42, pp
41-47
[10] Rescorla F., Morrision A., Engles D et al (1992), "Hirschsprung's disease Evaluation of
Mortality and long-term function in 260 cases", Arch Surg, 127, pp 934-941
SUMMARY
RESULTS OF LAPAROSCOPIC SURGERY FOR TREATMENT OF CONGENITAL
COLON ANEURYSM
Vu Thi Hong Anh *
College of Medicine and Pharmacy - TNU
Purpose: To evaluate the feasibility and medium term results of primary laparoscopic endorectal colon
pull-through for Hirschsprung's disease in infants
Material and method: Prospective review of the infants with Hirschsprung's disease treated by primary
laparoscopic endorectal colon pull-through proceduce from January 2008 to January 2010 was carried out according to Georgeson's technique We left a short rectal seromuscular sleeve 2cm from dentate line These patients were evaluated with regard to age, position and length of the aganglionic segment, intraoperative details, postoperative complications and medium term functional outcomes
Results: Seventy six patients (63 boys and 13 grirls) underwent a curative surgery with average age 5.5±0.7
months ( range, 16 days to 24 months) The aganglionic segment was located in the rectum in 13 patients, in the sigmoid colon in 63 patients (82,9%) The mean operating time was 121 minutes (range, 80 to 180 minutes), the average length of resected bowel was 22 ± 5.4 cm(range, 14 to 40 cm), there was no intraoperative complication, no patient required conversion, no death Mean postoperative stay was 5.7 ± 1 days (range, 4 to 9 days), oral intake were started 24 hours after operation Thirty seven patients had temporary perianal excoriation (26 patients were ≤ 3 months of age) Spontaneous defecation was achieved
in all patients before discharge Anatomotic leakage occurred in one patient ( three weeks after operated) requiring redo pull- through after enterostomy 52 patients were followed-up at 22.5 ± 9.5 months of mean age Mean follow-up time was 16.8 ± 6.9 months(range, 3.5 to 29 months), mean time of defecation was 1.5
± 0.6 (range,1 to 4), normal defecation was noted in 47 of 52 (91.4%), 50/52 (96.2%) patients had normal stool consistency Occasional soiling occurred in 8 (15.4%) Recurrent episodes of enterocolitis occurred in
5 of those patients (9.6%), three of which improved without hospitalization Recurrent constipation, anatomotic stricture, tight sphincter, adhesive bowel obstruction was not noted in any patient
Conclusion: Primary laparoscopic - assisted endorectal colon pull-through is a safe and an effective for
Hirschsprung's disease in infants The patient need continuing follow-up
Key words: Laparoscopic, Hirschsprung's disease.
*
Email : drhonganh70@yahoo.com