1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả ban đầu của phẫu thuật cắt đốt nội soi bổ sung sớm trong điều trị bướu bàng quang nông bằng phẫu thuật cắt đốt nội soi bổ sung sớm

5 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 385,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm xác định hiệu quả của phẫu thuật cắt đốt nội soi bổ sung sớm trong điều trị ung thư bàng quang nông. Nghiên cứu tiến hành từ tháng 1/2011, tại Bệnh viện Bình Dân, bệnh nhân phù hợp với tiêu chuẩn chọn mẫu được phân bố ngẫu nhiên vào nhóm bệnh và nhóm chứng.

Trang 1

BỔ SUNG SỚM TRONG ĐIỀU TRỊ BƯỚU BÀNG QUANG NÔNG BẰNG 

PHẪU THUẬT CẮT ĐỐT NỘI SOI BỔ SUNG SỚM 

Vũ Lê Chuyên*, Trần Ngọc Khắc Linh, Nguyễn Tuấn Vinh * , Đào Quang Oánh * ,   Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng * , Nguyễn Tiến Đệ * , Nguyễn Vĩnh Tuấn * , Nguyễn Văn Ân * ,   Chung Tuấn Khiêm * , Trần Thanh Nhân * , Lê Văn Hiếu Nhân * , Nguyễn Phước Vĩnh **  

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật cắt đốt nội soi bổ sung sớm trong 

điều trị ung thư bàng quang nông. 

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Từ tháng 1/2011, tại Bệnh viện Bình Dân, bệnh nhân phù hợp 

với tiêu chuẩn chọn mẫu được phân bố ngẫu nhiên vào nhóm bệnh và nhóm chứng. Các trường hợp nhóm bệnh 

sẽ được thực hiện cắt đốt nội soi bổ sung sớm trong vòng 4‐6 tuần. Các trường hợp trong nhóm chứng sẽ được 

theo dõi thường quy bằng nội soi bàng quang tiêu chuẩn. 

Kết  quả:  Có 30 trường hợp được đưa vào nghiên cứu, trong đó có 14 trường hợp được CĐNS bổ sung 

sớm, có 4/14 (28,5%) phát hiện còn mô bướu tại sẹo cắt cũ. Trong đó, có 2/4 (50%) trường hợp từ chuyển giai  đoạn từ Ta lên T1. Tuy nhiên, không có trường hợp nào thay đổi độ biệt hóa. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi  kiểm định bằng phép kiểm Chi bình phương có hiệu chỉnh. Trong 16 trường hợp theo dõi thường quy, chỉ có 1/16  (6,3%) trường hợp phát hiện tái phát qua nội soi thường quy và không có trường hợp nào chuyển độ biệt hóa 

cũng như giai đoạn. 

Kết luận: Cắt đốt nội soi bổ sung sớm trong điều trị bướu bàng quang xâm lấn lớp cơ nông cho thấy một số 

kết quả khả quan trong chẩn đoán, điều trị, tiên lượng bệnh. 

Từ khóa: cắt đốt nội soi bổ sung sớm, ung thư bàng quang nông, thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có 

nhóm chứng  

ABSTRACT 

THE ROLE OF EARLY RE‐TRANSURETHRAL RESECTION OF SUPERFICIAL BLADDER TUMOR – 

A RANDOMIZED TRIAL CONTROL AT BINH DAN HOSPITAL 

Vu Le Chuyen, Tran Ngoc Khac Linh, Nguyen Tuan Vinh, Dao Quang Oanh,   Nguyen Phuc Cam Hoang, Nguyen Tien De, Nguyen Vinh Tuan, Chung Tuan Khiem,  

Nguyen Van An, Tran Thanh Nhan, Le Van Hieu Nhan, Nguyen Phuoc Vinh  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 268 ‐ 272 

Introduction and objectives: To evaluate the usefulness of early second transurethral resection for newly 

diagnosed superficial bladder tumors. 

Patients  and  methods:  From  1‐2011,  new  patients  diagnosed  with  superficial  bladder  tumors  in  first 

completely  transurethral  resection  of  bladder  tumor  has  randomly  assigned  into  two  groups:  early  re‐TURBP  within 4‐6 weeks and routinely follow up by standard cystoscopy each 3 months in first year. Variables analyzed 

Trang 2

points were overall and disease‐specific survival. Patients with incomplete primary resections were excluded. 

Results:  We  included  30  patients,  including  14  in  early  re‐TURBP  group  and  16  in  routine  follow‐up 

group, adapted with inclusion criteria. Residual disease was present in 4/14 (28.6%) patients undergoing early  re‐resection and 1 (6.3%) patients in the routine check cystoscopy group. Upstaging of tumours from T1 to T2  was demonstrated in 2/4 (50%) and no case within these respective groups. Grade of operating surgeon was not a  predictor of adequacy of resection or tumour persistence/recurrence. Survival was not statistically different for 

patients who underwent an early re‐TURBP versus those who were followed by standard cystoscopy. 

Conclusions: A second transurethral bladder for resection may be warranted for superficial tumor and and 

Restaging transurethral resection identifies better patients with T1 bladder cancer who are at high risk for early 

tumor progression, justifying immediate cystectomy or intra‐vesical chemotherapy 

Key words: early re‐transurethral resection, superficial bladder cancer, randomized trial control 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Ung  thư  bàng  quang  là  bệnh  thường  gặp 

nhất trong các ung thư đường Tiết Niệu tại Việt 

Nam. Trên thế giới, bệnh đứng hàng thứ 2 trong 

các  ung  thư  đường  Tiết  Niệu  với  tần  suất  mới 

mắc  là  10,1/100.000  cho  nam  và  2,5/100.000  cho 

nữ giới. Tại thời điểm chẩn đoán, có khoảng 75‐

85%  các  trường  hợp  ung  thư  bàng  quang  còn 

khu  trú  tại  lớp  niêm  mạc  (giai  đoạn  Ta,  CIS) 

hoặc lớp dưới niêm (giai đoạn T1). Vì vậy, việc 

chẩn đoán đúng giai đoạn và tìm ra một phác đồ 

điều  trị  hợp  lý  cho  bệnh  lý  giai  đoạn  này  rất 

quan  trọng  nhằm  kéo  dài  thời  gian  tái  phát  và 

giảm độ tiến triển của bệnh(2).  

Phẫu thuật cắt đốt nội soi qua ngả niệu đạo 

là  điều  trị  chuẩn  cho  các  bướu  bàng  quang 

nông.  Mục  đích  điều  trị  là  lấy  đi  toàn  bộ  mô 

bướu  đại  thể  nhằm  làm  sạch  bướu  và  định 

chính  xác  giai  đoạn  để  có  chẩn  đoán  và  tiên 

lượng điều trị bệnh chính xác. Đây cũng là yếu 

tố  quan  trọng  nhất  ảnh  hưởng  đến  hiệu  quả 

điều trị về mặt ung thư học(4). 

Nhiều  phương  pháp  ra  đời  nhằm  nâng  cao 

hiệu quả điều trị của phẫu thuật cắt đốt nội soi 

bướu  bàng  quang  nông  như:  kết  hợp  ánh  sáng 

huỳnh quang xanh, chuẩn hóa kỹ thuật cắt đốt 

nội  soi  (CĐNS),  kết  hợp  hình  ảnh  có  độ  tương 

phản cao, v.v…Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu của 

các  tác  giả  gần  đây  cho  thấy,  ngay  khi  đã  thực  hiện kỹ thuật CĐNS chuẩn, vẫn còn một lượng  đáng kể bướu còn sót lại trong từ 30‐50% trường  hợp,  trong  đó  có  từ  5  đến  20%  ở  giai  đoạn  cao  hơn. Điều này sẽ dẫn đến hệ quả  là  chẩn  đoán  giai đoạn cũng như tiên lượng và dự hậu không  đúng(3,4,12,13,14,15,16). 

Mục tiêu nghiên cứu 

Đánh  giá  hiệu  quả  của  phẫu  thuật  cắt  đốt  nội soi bổ sung sớm trong điều trị ung thư bàng  quang nông. 

Tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ 

Ung thư tế bào chuyển tiếp của bàng quang,  giai đoạn bướu nông (Ta, T1 hoặc T2a). 

Thể tích bướu không quá lớn (<2cm) và có có  thể cắt trọn trong lần phẫu thuật đầu tiên.  Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Ung  thư  bàng  quang  không  phải  tế  bào  chuyển tiếp. 

Ung  thư  bàng  quang  xâm  lấn  lớp  cơ  sâu.  Ung thư bàng quang tái phát. 

Bệnh nhân không tham gia nghiên cứu. 

Trang 3

Quy trình thực hiện 

Bệnh  nhân  phù  hợp  với  tiêu  chuẩn  chọn 

mẫu được phân bố ngẫu nhiên vào nhóm bệnh 

và nhóm chứng. Tất cả các trường hợp đưa vào 

mẫu nghiên cứu đều được thực hiện phẫu thuật 

cắt đốt nội soi chuẩn làm 2 phần riêng biệt gồm: 

(1) mặt cắt bướu, (2) chân bướu. Các trường hợp 

nhóm bệnh sẽ được thực hiện cắt đốt nội soi bổ 

sung sớm trong vòng 4‐6 tuần lễ tại các vị trí: (1) 

đáy  sẹo  cắt  cũ;  (2)  rìa  sẹo  cắt  cũ;  (3)  vị  trí  nghi 

ngờ tái phát. Các trường hợp trong nhóm chứng 

sẽ được theo dõi thường quy bằng nội soi bàng  quang  tiêu  chuẩn  mỗi  ba  tháng  trong  vòng  1  năm  đầu  và  mỗi  6  tháng  trong  năm  tiếp  theo.  Ngoài ra, tất cả các trường hợp trong cả 2 nhóm  nghiên  cứu  đều  được  hoá  trị  chu  phẫu  bằng  Mitomycine C trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật. 

KẾT QUẢ  

Tổng  cộng  có  30  trường  hợp  đưa  vào  mẫu  nghiên  cứu  từ  1/2011  đến  tháng  6  năm  2012,  trong đó có 14 trường hợp đưa vào nhóm bệnh 

và 16 trường hợp được đưa vào nhóm chứng. 

Bảng 1. Đặc điểm dịch tể và lâm sàng của nhóm nghiên cứu ở lần CĐNS đầu 

CĐNS bổ sung sớm (n=14) Theo dõi thường quy (n=16)

p

Số trường hợp Tỉ lệ % Số trường hợp Tỉ lệ % Trung bình ± độ lệch chuẩn Trung bình ± độ lệch chuẩn

Giai đoạn

>0,05

Độ biệt hóa

>0.05

Nhận  xét:  sự  khác  biệt  không  có  ý  nghĩa 

thống  kê  giữa  các  đặc  điểm  lâm  sàng  và  cận 

lâm sàng trong nhóm bệnh và nhóm chứng. 

Trong 14 trường hợp được CĐNS bổ sung 

sớm,  có  4/14  (28,5%)  phát  hiện  còn  mô  bướu 

tại  sẹo  cắt  cũ.  Trong  đó,  có  2/4  (50%)  trường 

hợp  từ  chuyển  giai  đoạn  từ  Ta  lên  T1.  Tuy 

nhiên,  không  có  trường  hợp  nào  thay  đổi  độ 

biệt hóa. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi 

kiểm  định  bằng  phép  kiểm  Chi  bình  phương 

có hiệu chỉnh Yates. 

Trong 16 trường hợp theo dõi thường quy, 

chỉ  có  1/16  (6,3%)  trường  hợp  phát  hiện  tái 

phát  qua  nội  soi  thường  quy  và  không  có 

trường hợp nào chuyển độ biệt hóa cũng như  giai đoạn. 

BÀN LUẬN 

Cắt  đốt  nội  soi  bướu  bàng  quang  không  phải  là  phẫu  thuật  “dễ”.  Yêu  cầu  quan  trọng  nhất là phải lấy đi toàn bộ các mô ung thư để  hạn chế tái phát. Ngoài ra, để tạo thuận lợi cho  nhà  giải  phẫu  bệnh,  mẫu  mô  cắt  ra  phải  có  chất lượng tốt, lấy được trọn bướu  và  đầy  đủ  các  lớp  của  thành  bàng  quang,  kể  cả  toàn  bộ  lớp  cơ  nông  và  sâu  mà  không  làm  “thủng”  bàng  quang  nhằm  tạo  thuận  thợi  cho  hóa  trị 

hỗ trợ trong bàng quang chu phẫu và theo dõi  hậu  phẫu.  Điều  này  không  phải  lúc  nào  cũng 

Trang 4

thực  hiện  được  trong  lần  cắt  đầu  tiên.  Hơn 

nữa, phẫu thuật viên cũng cần phải hạn chế tối 

đa khả năng “thủng” ra khỏi thanh mạc bàng 

quang cả về mặt đại thể và vi thể. Bướu nhỏ < 

1cm có  thể  được  cắt  nguyên  khối  (phần  bướu 

và  chân  bướu),  trong  khi  bướu  lớn  hơn  cần 

được cắt từng phần, bao gồm phần bướu nhô 

ra ngoài, phần chân bướu có cả các lớp cơ bàng 

quang  và  phần  rìa  của  tổn  thương(2).  Tuy 

nhiên, nghiên cứu cho thấy, hầu hết các trường 

hợp  tái  phát  sớm  trong  vòng  3  tháng  thường 

có nguyên nhân do phẫu thuật lần đầu không 

triệt để(11). 

Giá  trị  trong  chẩn  đoán  và  đánh  giá  giai 

đoạn 

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, 

tỷ lệ còn sót bướu ở lần cắt đầu là 28,5%, trong 

đó có 50% là chuyển độ nặng hơn (Ta Æ T1) và 

không có trường hợp nào thay đổi độ biệt hóa. 

Nghiên  cứu  của  Dalbagi  G.  và  cs  (2002)  thực 

hiện trên 701 trường hợp bướu bàng quang giai 

đoạn  T1  trong  lần  cắt  đốt  nội  soi  đầu  tiên.  Sau 

khi được cắt đốt nội soi bổ sung sớm, tác giả ghi 

nhận có 23% có Ta/CIS, 25% có T1 và có từ 15‐

30%  xâm  lấn  lớp  cơ  (kèm  hay  không  kèm  với 

xâm lấn lớp cơ trong lần cắt đầu tiên)(3). Nghiên 

cứu tiếp theo của tác giả Herr (2008) nhận thấy, 

trong  409  trường  hợp  bướu  bàng  quang  T1  thì 

thấy  đa  số  các  trường  hợp  có  độ  biệt  hóa  kém, 

kết hợp Ta và CIS. Trong đó có 1/3 trường hợp là 

còn  hiện  diện  tế  bào  ung  thư  trong  cắt  đốt  nội 

soi  bổ  sung  sớm(11).  Nghiên  cứu  của  Jonathan 

J.Aning  –  trong  344  trường  hợp  CĐNS  lần  đầu 

có 110 (32%) trường hợp không thấy lớp cơ trên 

giải  phẫu  bệnh.  Hơn  nữa,  khi  thực  hiện  CĐNS 

bổ sung sớm cho 76 trường hợp thì ghi nhận có 

50% vẫn còn tế bào bướu sót lại và 7% là có giai 

đoạn cao hơn (pT2). Tỷ lệ này ở nhóm chỉ theo 

dõi đơn thuần bằng soi bàng quang 3 – 6 tháng 

là 40% và 5%. Ngoài ra, tác giả cũng không ghi 

nhận  yếu  tố  kinh  nghiệm  PTV  có  ảnh  hưởng  đến kết quả CĐNS(1).  

Nhiều  nghiên  cứu  khác  cũng  cho  kết  quả  tương tự với tỷ lệ phát hiện bướu trong lần cắt  đốt  nội  soi  bổ  sung  sớm  ít  nhất  là  50%  các  trường hợp, với tỷ lệ từ 44% Æ 86% bướu hiện  diện  tại  vị  trí  cắt  đốt  cũ  và  14%  Æ  56%  bướu  phát  hiện  tại  vị  trí  cũ.  Ngay  cả  khi  được  thực  hiện với cùng một phẫu thuật viên thì tỷ lệ bướu  còn  sót  lại  ở  giai  đoạn  T1  cũng  còn  khoảng  17%(4,8,9,12).  

Giá trị trong điều trị 

Cắt  đốt  nội  soi  bổ  sung  sớm  giúp  nâng  cơ  hội làm sạch bướu trong lòng bàng quang, nhờ  vậy mà nâng cao được hiệu  quả  của  hóa  trị  hỗ  trợ  trong  bàng  quang.  Nghiên  cứu  lâm  sàng  ngẫu  nhiên  cho  thấy  thời  gian  tái  phát  và  thời  gian  phát  triển  bướu  lâu  hơn  ở  nhóm  được  cắt  đốt nội soi bổ sung sớm khi so với nhóm chỉ cắt  đốt  nội  soi  1  lần  duy  nhất(5,7).  Hơn  nữa,  khi  so  sánh  hiệu  quả  đáp  ứng  của  hóa  trị  trong  bàng  quang bằng BCG trong 2 nhóm, tác giả Herr và 

cs  cũng  ghi  nhận  đáp  ứng  lâu  dài  của  nhóm  được cắt đốt nội soi bổ sung sớm tốt hơn so với  nhóm còn lại(4,9,12). 

Giá trị trong tiên lượng 

Trong nghiên cứu của tác giả Herr và cs thực  hiện  CĐNS  bổ  sung  sớm  trên  409  trường  hợp  bướu bàng quang T1, có 67% trường hợp không  phát hiện tái phát khi và chỉ có 9% trường hợp  tiến triển khi theo dõi ở trong nhóm không phát  hiện bướu còn sót lại trong lần CĐNS bổ sung.  Ngược  lại  ở  trong  nhóm  phát  hiện  còn  bướu  trong  lần  CĐNS  bổ  sung,  có  78%  trường  hợp  bướu  tiếp  tục  phát  triển  trong  vòng  2  năm  cho 

dù  đã  hóa  trị  hỗ  trợ  trong  bàng  quang  bằng 

thấy tỷ lệ không tái phát trong nhóm được thực  hiện  CĐNS  bổ  sung  sớm  lần  lượt  là  86,3%,  77,7%,  68,7%  sau  1‐2‐3  năm.  Sự  khác  biệt  có  ý  nghĩ thống kê khi tỷ lệ này ở nhóm không được  cắt  đốt  nội  soi  bổ  sung  sớm  là  47,1%,  42,3%  và 

Trang 5

37,0%.  Tất  cả  các  trường  hợp  đều  được  hóa  trị 

trong bàng quang hỗ trợ trong vòng 24h sau khi 

cắt đốt nội soi(6). 

Giá trị tiên đoán bệnh sau điều trị 

Nhờ vào đánh giá giai đoạn bệnh chính xác 

hơn  cũng  như  khả  năng  làm  sạch  bướu  cao 

hơn,  phác  đồ  điều  trị  tiếp  theo  cũng  sẽ  chính 

xác và hiệu quả và vì vậy sẽ cải thiện được kết 

quả  điều  trị  chung  cũng  như  thời  gian  sống 

không ung thư. 

KẾT LUẬN 

Cắt  đốt  nội  soi  bổ  sung  sớm  trong  điều  trị 

bướu bàng quang xâm lấn lớp cơ nông cho thấy 

một số kết quả khả quan trong chẩn đoán, điều 

trị,  tiên  lượng  bệnh.  Tuy  nhiên,  vẫn  còn  nhiền 

vấn đề còn đặt ra như: (1) Kết hợp sử dụng nội 

soi  huỳnh  quang  có  kết  quả  như  thế  nào?  (2) 

Giai đoạn và độ biệt hóa nào là tốt nhất để ứng 

dụng quy trình trên? (3) Phác đồ điều trị sau khi 

có kết quả CĐNS bổ sung sớm. Vì vậy, cần thiết 

phải  có  những  công  trình  nghiên  cứu  với  số 

lượng mẫu lớn hơn và thời gian theo dõi dài hơn 

để giúp trả lời những câu hỏi trên. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Aning, J. J., Hotston, M., Pisipatti, S., Davenport, K., Goh, M., 

Walton, M., et al. (2011). Early re‐resection for T1 transitional 

cell carcinoma of the bladder—A study of current practice in 

the  South  West  of  England.  British  Journal  of  Medical  and 

Surgical Urology, 4(1), 18‐23. 

2 Babjuk, M., Oosterlinck, W., Sylvester, R., Kaasinen, E., Bohle, 

A.,  Palou‐Redorta,  J.,  et  al.  (2011).  EAU  guidelines  on  non‐

muscle‐invasive urothelial carcinoma of the bladder, the 2011 

update. Eur Urol, 59(6), 997‐1008. 

3 Dalbagni, G., Herr, H. W. & Reuter, V. E. (2002). Impact of a 

second  transurethral  resection  on  the  staging  of  T1  bladder 

cancer. Urology, 60(5), 822‐824; discussion 824‐825. 

4 Dalbagni,  G.,  Vora,  K.,  Kaag,  M.,  Cronin,  A.,  Bochner,  B., 

Donat, S. M., et al. (2009). Clinical outcome in a contemporary 

series of restaged patients with clinical T1 bladder cancer. Eur 

Urol, 56(6), 903‐910. 

5 Divrik, R. T., Sahin, A. F., Yildirim, U., Altok, M. & Zorlu, F. 

(2010). Impact of routine second transurethral resection on the 

long‐term  outcome  of  patients  with  newly  diagnosed  pT1 

urothelial  carcinoma  with  respect  to  recurrence,  progression  rate, and disease‐specific survival: a prospective randomised  clinical trial. Eur Urol, 58(2), 185‐190. 

6 Divrik,  R.  T.,  Yildirim,  U.,  Zorlu,  F.  &  Ozen,  H.  (2006).  The  effect  of  repeat  transurethral  resection  on  recurrence  and  progression  rates  in  patients  with  T1  tumors  of  the  bladder  who  received  intravesical  mitomycin:  a  prospective,  randomized clinical trial. J Urol, 175(5), 1641‐1644. 

7 Divrik,  T.,  Yildirim,  U.,  Eroglu,  A.  S.,  Zorlu,  F.  &  Ozen,  H.  (2006). Is a second transurethral resection necessary for newly  diagnosed pT1 bladder cancer? J Urol, 175(4), 1258‐1261. 

8 Harry  Herr  &  Guido  Dalbagni.  (2011).  Is  ‘second‐look’  (re‐ staging)  transurethral  resection  of  bladder  tumours  a  new  standard of care? Arab Journal of Urology, 9. 

9 Herr, H. W. (2005). Restaging transurethral resection of high  risk  superficial  bladder  cancer  improves  the  initial  response 

to bacillus Calmette‐Guerin therapy. J Urol, 174(6), 2134‐2137. 

10 Herr,  H.  W.  (2011).  Is  repeat  transurethral  resection  needed  for  minimally  invasive  T1  urothelial  cancer?  Pro.  J  Urol,  186(3), 787‐788. 

11 Herr,  H.  W.  &  Donat,  S.  M.  (2008).  Quality  control  in  transurethral resection of bladder tumours. BJU Int, 102(9 Pt  B), 1242‐1246. 

12 Herr,  H.  W.,  Donat,  S.  M.  &  Dalbagni,  G.  (2007).  Can  restaging  transurethral  resection  of  T1  bladder  cancer  select  patients  for  immediate  cystectomy?  J  Urol,  177(1),  75‐79;  discussion 79. 

13 Klan,  R.,  Loy,  V.  &  Huland,  H.  (1991).  Residual  tumor  discovered  in  routine  second  transurethral  resection  in  patients  with  stage  T1  transitional  cell  carcinoma  of  the  bladder. J Urol, 146(2), 316‐318. 

14 Miladi, M., Peyromaure, M., Zerbib, M., Saighi, D. & Debre, B.  (2003).  The  value  of  a  second  transurethral  resection  in  evaluating  patients  with  bladder  tumours.  Eur  Urol,  43(3),  241‐245. 

15 Schips,  L.,  Augustin,  H.,  Zigeuner,  R.  E.,  Galle,  G.,  Habermann,  H.,  Trummer,  H.,  et  al.  (2002).  Is  repeated  transurethral  resection  justified  in  patients  with  newly  diagnosed superficial bladder cancer? Urology, 59(2), 220‐223. 

16 Schwaibold,  H.  E.,  Sivalingam,  S.,  May,  F.  &  Hartung,  R.  (2006).  The  value  of  a  second  transurethral  resection  for  T1  bladder cancer. BJU Int, 97(6), 1199‐1201. 

 

Ngày nhận bài báo:      10‐05‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   30‐05‐2013  Ngày bài báo được đăng:     15–05‐2013 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w