Mục đích nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả kháng viêm, giảm đau của laser công suất thấp (AMD LASERS®, Dentsply) sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng với thiết kế nửa miệng được thực hiện trên 30 bệnh nhân khỏe mạnh có hai răng khôn hàm dưới mọc lệch đối xứng nhau.
Trang 1HIỆU QUẢ CỦA LASER CÔNG SUẤT THẤP TRONG KIỂM SOÁT ĐAU, SƯNG VÀ KHÍT HÀM SAU PHẪU THUẬT NHỔ RĂNG KHÔN HÀM
DƯỚI LỆCH
Đoàn Thị Mỹ Chi*, Nguyễn Thị Bích Lý**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mục đích nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả kháng viêm, giảm đau của Laser công suất thấp
(AMD LASERS®, Dentsply) sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng với thiết kế nửa
miệng được thực hiện trên 30 bệnh nhân khỏe mạnh có hai răng khôn hàm dưới mọc lệch đối xứng nhau Nhóm thử nghiệm được chiếu Laser có bước sóng 810nm trong miệng, cách vùng nhổ răng khôn 1cm ngay sau phẫu thuật với chế độ liên tục, công suất 0,5W, trong thời gian 30 giây, chiếu 2 lần cách nhau 1 phút Nhóm chứng, cũng được đặt đầu chiếu Laser trong miệng tại vùng phẫu thuật nhưng không kích hoạt tia Laser Đánh giá đau, sưng và khít hàm được thực hiện sau phẫu thuật
Kết quả: Mức độ đau sau phẫu thuật ở nhóm có sử dụng Laser thấp hơn so với nhóm chứng có ý nghĩa
thống kê Ở nhóm có sử dụng Laser có cải thiện độ há miệng, giảm sưng và khít hàm đáng kể so với nhóm chứng
Kết luận: Chiếu Laser công suất thấp tại vùng can thiệp sau phẫu thuật với các thông số dùng trong nghiên
cứu này cho thấy có hiệu quả trong giảm đau, sưng và khít hàm sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch
Từ khóa: Laser công suất thâp, phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch
ABSTRACT
THE EFFECT OF LOW-LEVEL LASER THERAPY ON PAIN, SWELLING AND TRISMUS
MANAGEMENT AFTER THE SURGICAL REMOVAL OF THE IMPACTED MANDIBULAR WISDOMS
Doan Thi My Chi, Nguyen Thi Bich Ly
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 254 - 260
Objectives: Pain, swelling, and trismus are the most common complications after the surgical removal of the
impacted lower third molars The aim of this study was to evaluate the anti-inflammatory and analgesic effects of a low-level laser therapy (AMD LASERS®, Dentsply) applied to the wound appeared after the surgical removal of the impacted lower third molars.
Method: A randomized clinical experimental study with split- mouth design was undertaken in 30 healthy
patients with two symmetrically impacted lower third molars The experimental sides were irradiated by a laser with 810nm wavelength, 0.5W output power, immediately after surgery, intraorally, 1cm from the involved area
in continuous mode for 30 seconds The second irradiation was applied after 1 minute with the same dose On the control side, a handpiece was applied in the same manner without laser activation Pain, trismus, and swelling were assessed postoperatively
Results: The pain level was lower in the experimental side than in the control side with statistically
significant difference The improvement of the interincisal opening and the remarkable reduction of trismus, swelling were observed when the patients were applied low-level laser therapy
* BS RHM khóa 2008-2014- Khoa RHM, Đại học Y Dược TP HCM
** Bộ môn Phẫu thuật miệng- Khoa RHM, Đại học Y Dược TP HCM
Trang 2Conclusion: The application of a low-level laser with the parameters used in this study showed beneficial
effects in reducing pain, swelling, and trismus after the removal of the impacted lower third molars
Keywords: low-level laser, removal of impacted lower third molars
MỞ ĐẦU
Phẫu thuật răng khôn hàm dưới mọc lệch là
một trong những phẫu thuật thường gặp nhất
trong thực hành nha khoa, nhằm giải quyết và
phòng ngừa các biến chứng gây ra bởi răng
này(2,6) Đây là một can thiệp xâm lấn gây nhiều
triệu chứng đau, sưng hậu phẫu Thông thường,
sử dụng các loại thuốc như giảm đau, thuốc
kháng viêm không steroid, corticosteroids tại
chỗ hoặc toàn thân giúp kiểm soát các biến
chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân sau can thiệp nhưng lại có thể gây ra
những tác dụng phụ như kích thích tiêu hóa,
phản ứng dị ứng, nhất là trên những bệnh nhân
có cơ địa đặc biệt(1,4) Do đó, việc phát triển
những phương pháp thay thế hoặc bổ sung
không xâm lấn, an toàn, ít tác dụng phụ ngày
càng được các nhà lâm sàng quan tâm Và một
trong những phương pháp mới chính là liệu
pháp laser công suất thấp hay còn gọi là laser trị
liệu Gần đây, nhiều nghiên cứu đã chứng minh
hiệu quả của laser công suất thấp trong giảm
sưng, đau, khít hàm sau phẫu thuật nhổ răng
khôn nhưng kết quả còn nhiều tranh cãi; điều
này có thể là do sự thay đổi trong thiết kế nghiên
cứu, khác biệt trong đo lường các biến chứng
hậu phẫu cũng như việc sử dụng nhiều loại máy
laser với các loại đầu chiếu và các thông số kỹ
thuật khác nhau(4,6)
Với mong muốn tìm được một phương thức
điều trị hỗ trợ tốt nhất cho bệnh nhân nhằm
giảm đi những khó chịu sau phẫu thuật nhổ
răng khôn hàm dưới, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả của
laser công suất thấp trong kiểm soát đau, sưng và khít
hàm sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch”
với những mục tiêu sau:
1- Xác định cường độ đau sau phẫu thuật
nhổ răng khôn hàm dưới lệch ở nhóm có sử
2- Xác định mức độ sưng, khít hàm sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch ở nhóm có sử dụng laser sau phẫu thuật so với nhóm chứng
3- Đánh giá hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch của việc điều trị với laser công suất thấp sau phẫu thuật 4- Đánh giá hiệu quả giảm sưng và khít hàm sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch của việc điều trị với laser công suất thấp sau phẫu thuật
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP Đối tượng nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu: Chọn mẫu thuận tiện gồm các bệnh nhân ở cả hai giới có nhu cầu và chỉ định nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch đến khám và điều trị tại bộ môn Phẫu thuật miệng-Khoa Răng Hàm Mặt-Đại học Y Dược thành phố
Hồ Chí Minh từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2014 Bệnh nhân thõa các tiêu chí chọn mẫu như sau:
độ tuổi từ 18-35 tuổi, có sức khỏe toàn thân tốt,
có 2 răng khôn hàm dưới lệch tương đương nhau về mức độ khó với độ khó thuộc loại II, III
và vị trí độ sâu B, C dựa theo phân loại của Pell
và Gregory, đánh giá sự tương đương giữa 2
răng được xác định trên phim toàn cảnh
Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi nghe giải thích rõ về mục đích và yêu cầu của nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng máy AMD LASERS® công suất thấp của Hãng Denstply với các thông
số kỹ thuật như sau: Laser diode GaAlAs (Gallium Aluminium Arsen)- Bước sóng: 810nm
± 10 nm- Công suất phát: 0,1 – 7,0 Watts ± 20%- Chế độ phát: xung hay liên tục- Đường kính đầu chiếu: 400 μm
Trang 3Hình 1: Máy AMD lasers ®
Phương pháp nghiên cứu
Đây là nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng
ngẫu nhiên có nhóm chứng với thiết kế nửa
miệng
Chuẩn bị bệnh nhân
- - Bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên
cứu được giải thích, thông báo đầy đủ về mục
đích nghiên cứu, qui trình phẫu thuật, yêu cầu
ghi nhận thông tin, tái khám và ký tên vào mẫu
đồng ý tham gia nghiên cứu
Thực hiện phẫu thuật
- Bệnh nhân được đánh dấu các điểm mốc
trên mặt và ghi nhận các số đo trước phẫu thuật:
khoảng cách chân dái tai_khóe miệng, góc
hàm_góc mắt ngoài, độ há miệng tối đa
- Tất cả bệnh nhân đều được phẫu thuật
theo đúng qui trình kỹ thuật bởi một bác sĩ có
kinh nghiệm của bộ môn phẫu thuật miệng và
ghi nhận các thông tin trong quá trình phẫu
thuật gồm: Lượng thuốc tê sử dụng- Thời gian
phẫu thuật
Đối với nhóm thử nghiệm: Ngay sau phẫu
thuật, bệnh nhân được mang kính bảo vệ mắt,
chiếu laser diode ở vị trí cách ổ răng khôn 1cm,
kích thước đầu chiếu 400 m, di chuyển vòng
tròn để chiếu trên diện tích có đường kính 2
cm Các thông số kỹ thuật bao gồm: bước sóng
810nm, công suất chiếu là 0,5 W ± 20% với chế
độ liên tục trong 30 giây Tổng số năng lượng
thực sự phát ra được 12,8 J và mật độ năng
lượng thực sự là 4 J/cm2 Chiếu 2 lần sau phẫu
thuật và giữa 2 lần cách nhau 1 phút để mô giảm nhiệt
Đối với nhóm chứng: Bệnh nhân được mang kính bảo vệ mắt, đầu laser được đưa vào
ví trí phẫu thuật, giữ trong cùng thời gian như ở nhóm thử nghiệm nhưng không kích hoạt tia
- Hướng dẫn hậu phẫu: Tất cả các bệnh nhân đều được kê toa thuốc giống nhau gồm: Amoxicillin 500mg * 15 viên, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên và Ibubrofen 400mg * 9 viên, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên Bệnh nhân được dặn
dò làm theo hướng dẫn chăm sóc vết thương sau phẫu thuật, hẹn tái khám vào ngày thứ 1 và ngày thứ 2 sau phẫu thuật và cắt chỉ sau 1 tuần
- Đánh giá sau phẫu thuật
Đo lường đau: Sau phẫu thuật, bệnh nhân
được phát phiếu kiểm soát đau và được hướng dẫn để ghi lại tình trạng và mức độ đau của mình theo thang Likert 7 điểm và thang VAS vào mỗi 2 giờ trong 6h đầu tiên sau khi hết cảm giác
tê môi và 24 giờ, 48 giờ sau phẫu thuật, số lượng
viên thuốc giảm đau đã uống
Đo lường sưng: Mức độ sưng mặt của bệnh
nhân được xác định bằng cách dùng thước dây
đo theo độ lồi má khoảng cách theo chiều dọc: từ
góc mắt ngoài đến góc hàm dưới và theo chiều
ngang: từ chân dái tai đến khóe miệng
Đo lường khít hàm: Đánh giá bằng cách đo
lường độ há miệng tối đa của bệnh nhân
Xử lí và phân tích số liệu
Các thông tin và số liệu thu thập được phân tích và xử lý theo phương pháp thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu
Giới tính Nam
Nữ
17 (56,7%)
13 (43,3%) Tuổi trung bình 22 ± 2,51 (18-28)
Trang 4Mẫu nghiên cứu
Phân loại Pell &
Gregory
I
II III
A
B
C
0
29 (96,67%)
1 (3,33%)
0
29 (96,67%)
1 (3,33%)
Phân loại Winter
Nghiêng gần Thẳng Nằm ngang Nghiêng xa
22 (73,33%)
3 (10%)
5 (16,67%)
0
Bảng 2: Liều lượng thuốc tê và thời gian phẫu thuật
Nhóm có sử dụng laser Nhóm chứng p
(*)
Liều lượng thuốc tê
(ống) 9,87 ± 3 10,18 ± 2,79 0,559
Thời gian phẫu
thuật (phút) 1,76 ± 0,16 1,69 ± 0,17 0,152
(*) Kiểm định t-test bắt cặp
Để giảm tối đa những yếu tố ảnh hưởng và
giúp cho việc đánh giá chính xác hơn mức độ
sưng, đau, khít hàm giữa 2 nhóm sau phẫu thuật
nhổ răng khôn hàm dưới mọc lệch chúng tôi
thực hiện nghiên cứu với thiết kế nửa miệng
Với thiết kế nghiên cứu này thì sự phân bố bệnh
nhân theo tỉ lệ nam: nữ, độ tuổi, phân loại răng
khôn giống nhau cho cả nhóm chứng và nhóm
thử nghiệm (Bảng 1) Hơn nữa, tất cả bệnh nhân
đều được phẫu thuật bởi một phẫu thuật viên có
kinh nghiệm nên thời gian phẫu thuật trung
bình giữa 2 nhóm và lượng thuốc tê sử dụng gần
như tương đương nhau (Bảng 2) Điều này tạo
thuận lợi cho việc đánh giá chính xác mức độ
đau của bệnh nhân sau phẫu thuật
Đánh giá mức độ đau
Theo thang Likert 7 điểm
Trong 6h đầu sau khi hết cảm giác tê môi,
mức độ đau cao nhất là mức độ 5 (đau rất nhiều)
cho cả 2 nhóm Tuy nhiên, ở nhóm có sử dụng
laser số bệnh nhân ở mức độ đau nhiều và rất
nhiều (mức độ 4 và mức độ 5) thấp hơn cũng
như số bệnh nhân ở mức độ không đau và đau
rất nhẹ (mức độ 0 và mức độ 1) cao hơn so với
nhóm chứng Sự khác biệt này không có ý nghĩa
thống kê (kiểm định 2, p= 0,246, 0,068, 0,439
tương ứng với các thời điểm 2h, 4h, 6h sau khi hết cảm giác tê môi)
Trong 2 ngày tiếp theo sau phẫu thuật, ở nhóm có sử dụng laser có 1 bệnh nhân có mức
độ đau nhiều (mức độ 4), còn lại là không đau đến đau nhẹ (mức độ 0 đến mức độ 2) Ở nhóm chứng, số bệnh nhân không đau và đau rất nhẹ (mức độ 0 và mức độ 1) ít hơn, số bệnh nhân đau nhẹ đến trung bình (mức độ 2 đến mức độ 3) nhiều hơn so với nhóm có sử dụng laser Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống
kê (kiểm định 2, p= 0,287, 0,09 tương ứng với
các thời điểm T1, T2)
Như vậy, đánh giá đau theo thang Likert 7 điểm trong 2 ngày sau phẫu thuật cho thấy ở cả 2 nhóm đều có mức độ đau nhiều nhất là mức độ
5 (đau rất nhiều) Tuy nhiên, nhóm có sử dụng laser thì số bệnh nhân ở mức độ này thấp hơn so với nhóm chứng (3,3% so với 13,4%) và số bệnh nhân đau nhiều nhất ở mức độ 1 (đau rất nhẹ) cao hơn so với nhóm chứng (16,7% so với 0 %),
sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Kết quả này cũng đồng nhất với kết quả nghiên cứu của Neckle Claus(9)
Theo thang tương đồng nhìn được VAS Bảng 3: Mức độ đau giữa 2 nhóm theo thang VAS
Thời
Nhóm có
sử dụng laser
31,23 ± 23,7
24,23 ± 17,1
20,73 ± 13,7 9,7 ± 12,8
3,9 ± 9,25 Nhóm
chứng
41,43 ± 23,8
36,13 ± 18,5
30,27 ± 18,1
15,03 ± 15,56
8,57 ± 11,4
(*) Kiểm định t-test bắt cặp
Khi đánh giá đau theo thang VAS cho thấy cường độ đau ở nhóm có sử dụng laser thấp hơn nhóm chứng đáng kể (Bảng 3) Điều này giống với nghiên cứu của Hakki Oguz Kazancioglu(3), Neveen Abou El-Soud(10), nhưng trong nghiên cứu của Marta López-Ramírez(6), Maurizio Ferrante(7), E Darío Amarillas-Escobar(1) lại không ghi nhận sự khác biệt đáng kể này Trong nghiên cứu của những tác giả này, nhóm thử
Trang 5chứng nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê Sự khác biệt về kết quả này có thể do
sự khác nhau về thông số chiếu laser sau phẫu
thuật và thiết kế nghiên cứu song song của
Maurizio Ferrante, E Darío Amarillas-Escobar
cũng phần nào cho thấy yếu tố cơ địa đã ảnh
hưởng đến việc đánh giá cảm giác đau
Số lượng thuốc giảm đau đã uống
Sau phẫu thuật, đa số bệnh nhân không
uống thuốc giảm đau (24 bệnh nhân (80%) ở
nhóm có sử dụng laser và 22 bệnh nhân (73,4%)
ở nhóm chứng), chỉ có 4 bệnh nhân (13,4%) ở
nhóm có sử dụng laser và 3 bệnh nhân (10%) ở
nhóm chứng đã uống 1 đến 2 viên Chỉ có 1
người uống 4 viên và 1 người uống 6 viên ở
nhóm chứng và không có ai ở nhóm có sử dụng
laser uống nhiều hơn 3 viên giảm đau sau phẫu
thuật Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống
kê (kiểm định 2, p = 0,656)
Bảng 4: Số lượng viên thuốc giảm đau đã uống
Nhóm có sử dụng laser
Nhóm chứng p
(*)
Số viên thuốc
giảm đau 0,43 ± 0,935 0,83 ± 1,55 0,021
(*) Kiểm định t-test bắt cặp
Từ kết quả nghiên cứu này có thể gợi ý rằng
sử dụng laser công suất thấp có hiệu quả trong
giảm đau sau phẫu thuật Điều này do laser công
suất thấp với bước sóng 810nm có khả năng
xuyên mô sâu hơn, tác động trên các giai đoạn
khác nhau của quá trình dẫn truyền để tạo ra
những tác động giảm đau, tăng tạo -endorphin
nội sinh, ngăn chặn sự khử cực của sợi C, tăng
sản xuất NO, acetylcholine, giảm bradykinin, ổn
định điện thế màng tế bào thần kinh, bình
thường hóa kênh ion, tăng cường hệ thống redox
của tế bào và tổng hợp ATP(11) Tác dụng kích
thích sinh học này của laser công suất thấp đã và
đang trở thành phương pháp chọn lựa để điều
trị những trường hợp đau khó kiểm soát theo
phương pháp điều trị truyền thống như đau
trong phẫu thuật nha chu, viêm quanh thân
răng, viêm miệng herpes, đau miệng mặt mạn
tính, loét áp tơ tái phát, nóng rát miệng, quá cảm ngà với nhiều hiệu quả tích cực và không gây
ra tác dụng phụ nào(12)
Đánh giá mức độ sưng mặt
Đánh giá mức độ sưng mặt theo chiều ngang
Có sự thay đổi mức độ sưng mặt theo chiều ngang ở từng thời điểm giữa 2 nhóm, sự thay đổi này có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Bảng 5: Mức độ sưng mặt theo chiều ngang ở 2
nhóm so với trước phẫu thuật
Thời điểm
Nhóm có sử dụng laser Nhóm chứng Trung bình (mm) p (2) Trung bình (mm) p (2)
T o 105,1 ± 5,63 104,36 ± 6,47
T 1 106,96 ± 5,56 0,000 107,53 ± 6,27 0,000
T 2 107,36 ± 5,63 0,000 108,96 ± 6,47 0,000
(1) Phân tích ANOVA một yếu tố có lặp giữa các thời điểm
T 0 , T 1 ,T 2 (2) So sánh với thời điểm trước phẫu thuật, kiểm định t- test bắt cặp
Bảng 6: Sự thay đổi mức độ sưng mặt theo chiều
ngang giữa 2 nhóm ở từng thời điểm
Thời điểm Nhóm có sử dụng
laser(mm)
Nhóm chứng(mm) p
(*)
T 1 1,86 ± 0,97 3,16 ± 1,62 0,000
T 2 2,26 ± 0,94 4,6 ± 1,95 0,000 (*) Kiểm định t-test bắt cặp
Trong nghiên cứu này, ở nhóm có sử dụng laser mức độ sưng mặt theo chiều ngang thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (Bảng 5) ở tất cả các thời điểm Kết quả nghiên cứu của chúng tôi giống với kết quả nghiên cứu của Maurizio Ferrante(7) và Markovic.A(5) Bên cạnh đó, các tác giả Marta López-Ramírez và E Darío Amarillas-Escobar(1) lại không ghi nhận được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về việc thay đổi mức độ sưng mặt theo chiều ngang giữa 2 nhóm, mặc dù mức độ sưng mặt ở nhóm laser có thấp hơn so với nhóm chứng Điều này có thể được giải thích do chúng tôi chiếu 2 lần sau phẫu thuật thay vì chỉ chiếu một lần như trong nghiên cứu của Marta López-Ramírez(6); mặt khác, sự khác biệt còn có thể do khác nhau về thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu giữa các nghiên cứu, với số lượng mẫu nhỏ hơn và
Trang 6cách thiết kế không phải trên cùng 1 bệnh nhân,
nghiên cứu của E Darío Amarillas-Escobar(1) có
thể chưa ghi nhận được sự khác biệt đáng kể nào
giữa 2 nhóm vì bị ảnh hưởng bởi những yếu tố
cơ địa
Đánh giá mức độ sưng mặt theo chiều dọc
Có sự thay đổi mức độ sưng mặt theo chiều
dọc ở từng thời điểm giữa 2 nhóm, sự thay đổi
này có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Bảng 7: Mức độ sưng mặt theo chiều dọc ở 2 nhóm so
với trước phẫu thuật
Thời
điểm
Nhóm có sử dụng
laser
Nhóm chứng Trung bình
(mm)
p (2) Trung bình
(mm)
p (2)
T o 101,63 ± 7,24 102,6 ± 6,95
T 1 103,43 ± 7,42 0,000 105,13 ± 6,73 0,000
T 2 103,83 ± 7,33 0,000 105,26 ± 6,93 0,000
(1) Phân tích ANOVA một yếu tố có lặp giữa các thời điểm
T 0 , T 1 , T 2 (2) So sánh với thời điểm trước phẫu thuật, kiểm
định t-test bắt cặp
Bảng 8: Sự thay đổi mức độ sưng mặt theo chiều dọc
giữa 2 nhóm ở từng thời điểm
Thời điểm Nhóm có sử dụng
laser(mm)
Nhóm chứng(mm) p
(*)
T 1 1,8 ± 0,92 2,53 ± 0,89 0,003
T 2 2,2 ± 0,92 2,66 ± 0,92 0,017
(*) Kiểm định t-test bắt cặp
Mức độ sưng mặt theo chiều dọc vào ngày
thứ nhất và ngày thứ 2 sau phẫu thuật ở cả 2
nhóm đều tăng đáng kể so với trước phẫu thuật
(Bảng 7) Tuy nhiên, mức độ sưng mặt theo
chiều dọc ở nhóm có sử dụng laser thấp hơn có ý
nghĩa thống kê so với nhóm chứng (Bảng 8)
với nghiên cứu của Marta López-Ramírez(6), E
Darío Amarillas-Escobar(1) khi không ghi nhận
được sự khác biệt đáng kể về sự thay đổi mức
độ sưng mặt theo chiều dọc so với trước phẫu
ngoài ra còn có thể do chọn điểm chuẩn khác nhau khiến việc đo khoảng cách phản ánh mức
độ sưng mặt do nhổ răng khôn không thấy được
sự khác biệt đáng kể giữa 2 nhóm
Đánh giá độ há miệng
Sự thay đổi độ há miệng ở từng thời điểm giữa 2 nhóm có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Bảng 9: Độ há miệng của 2 nhóm sau phẫu thuật
Thời điểm
Nhóm có sử dụng laser Nhóm chứng Trung bình
(mm)
p (2) Trung bình
(mm)
p (2)
T 0 52,13 ± 5,26 51,78 ± 5,37
T 1 47,46 ± 7,87 0,000 41,56 ± 9,35 0,000
T 2 47,2 ± 8,95 0,000 42,1 ± 9,79 0,000
(1) Phân tích ANOVA một yếu tố có lặp giữa các thời điểm
định t-test bắt cặp
Bảng 10: Mức độ khít hàm giữa 2 nhóm sau phẫu
thuật
Thời điểm dụng laser (mm)Nhóm có sử Nhóm chứng (mm) p
(*)
T 1 -4,66 ± 4,71 -10,21 ±7,71 0,001
T 2 - 4,93± 5,83 - 9,68 ± 7,67 0,003 (*) Kiểm định t-test bắt cặp
Độ há miệng ở cả 2 nhóm vào ngày thứ nhất
và ngày thứ 2 sau phẫu thuật đều giảm đáng kể
so với trước phẫu thuật (Bảng 9) Tuy nhiên, ở nhóm có sử dụng laser độ há miệng giảm ít hơn
có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng vào ngày thứ nhất và ngày thứ hai sau phẫu thuật (Bảng 10)
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả giống với kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả như Maurizio Ferrante(7), Mutan Hamdi Aras(8),
Hakki Oguz Kazancioglu(3) Như vậy, kết quả nghiên cứu này của chúng tôi có thể gợi ý rằng việc sử dụng laser bán dẫn với thông số trên có hiệu quả trong giảm sưng, khít hàm sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch Điều này do tác dụng kháng viêm của
Trang 7sinh và giãn mạch lympho, giảm tính thấm
thành mạch và phục hồi tuần hoàn mạng lưới
mao mạch, giảm phù nề(11) Ngoài ra laser công
suất thấp có tác dụng kháng viêm do ức chế sự
thành lập các IL-6, MCP-1,IL-10 và yếu tố hoại tử
mô TNF-(7) Hiệu quả tích lũy của những quá
trình đa tương tác này làm tăng tốc chu trình
viêm từ đó làm giảm triệu chứng và sớm phục
hồi về trạng thái bình thường, do đó nên chiếu
laser công suất thấp ngay sau can thiệp
KẾT LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi bước đầu thực
hiện cho thấy chiếu laser công suất thấp trong
miệng, bước sóng 810 nm với các thông số kỹ
thuật được dùng trong nghiên cứu này có hiệu
quả trong giảm sưng, đau, khít hàm sau phẫu
thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch Mức độ
đau, sưng, khít hàm giữa 2 nhóm có sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê, vì vậy chúng tôi khuyến cáo
sử dụng laser công suất thấp sau phẫu thuật
răng khôn vì đây là điều trị không xâm lấn,
tránh những tác dụng phụ của thuốc và cải thiện
chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu
thuật răng khôn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Amarillas-Escobar E.D, J Martin Toranzo-Fernández (2010)
Use of Therapeutic Laser After Surgical Removal of Impacted
Lower Third Molars American Association of Oral and
Maxillofacial Surgeons 68:319-324
2 Capuzzi P, Montebugnoli L, Vaccaro MA (1994) “Extraction
of impacted third molars A longitudinal prospective study on
factors that affect postoperative recovery” Oral Surg Oral Med
Oral Pathol, 77(4): pp.341- 343
3 Hakki Oguz Kazancioglu & Seref Ezirganli & Nihat Demirtas
(2012) Comparison of the influence of ozone and laser
therapies on pain, swelling, and trismus following impacted
third-molar surgery Lasers Med Sci DOI
10.1007/s10103-013-1300
4 Hana Kucerová, Tatjana Dostálová, Lucie Himmlová, Jirina
Bártová N.Sc.D, And Jirí Mazánek (2000) Low-Level Laser
Therapy after Molar Extraction Journal of Clinical Laser
Medicine & Surgery Volume 18, Number 6, Mary Ann Liebert,
Inc.Pp 309-315
5 Markovic.A, Todorovic.Lj (2007) Effectiveness of dexamethasone and low-power laser in minimizing oedema
after third molar surgery: a clinical trial Int J Oral
Maxillofac.Surg; 36: 226–229.
6 Marta López-Ramírez, Vílchez-Pérez, Gargallo-Albiol, Arnabat-Domínguez, Gay-Escoda (2011) Efficacy of lowlevel laser therapy in the management of pain, facial swelling, and postoperative trismus after a lower third molar extraction A
preliminary study Lasers Med Sci doi: 10.1007/s10103-011-0936-8
7 Maurizio Ferrante (2012) Effect of low-level laser therapy after
extraction of impacted lower third molars Lasers Med Sci
DOI 10.1007/s10103-012-1174-4
8 Mutan Hamdi Aras & Metin Güngörmüş (2010) Placebo-controlled randomized clinical trial of the effect two different low-level laser therapies (LLLT)—intraoral and extraoral—on trismus and facial swelling following surgical extraction of the
lower third molar Lasers Med Sci 25:641–645 DOI
10.1007/s10103-009-0684-1
9 Neckel Claus, Kukiz Paul (2001) A Comparative Study in the Postoperative Outcome of Patients after third molar
extraction J Oral Laser Appl, 1:215 -9
10 Neveen Abou El-Soud, Hanaa El Shenawy (2010) A Randomized Double Blind Clinical Study on the Efficacy of Low Level Laser Therapy in Reducing Pain After Simple
Third Molar Extraction Macedonian Journal of Medical Sciences
11 Reza Fekrazad, Nasim Chiniforush, Stephane Ayoub Bouraima, Maryam Valipour, Marjan Aslani, Mohammad
Zare, Omid Ashtiani Safari (2012) Low Level Laser Therapy
in Management of Complications after Intra Oral Surgeries
Journal of Lasers in Medical Sciences Volume 3, Number 4
12 Richard Martin, BS, CLT (2003), Laser-accelerated inflammation/pain reduction and healing Practical Pain Management, Innovative Medical Group Corporation in Santa Monica,CA
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 27/02/2015 Người phản biện: TS Tạ Tố Trân