Báo cáo khoa học
Trang 1DU LỊCH MÙA NƯỚC NỔI VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG POTENTIAL AND REALITY OF TRAVEL FLOODING
SEASON IN DONG THAP MUOI AREA
ThS Trần Thị Đang Thanh Khoa Du lịch, ĐHQT Hồng Bàng
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Mùa nước nổi ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và vùng Đồng
Tháp Mười nói riêng là một trong những tiềm năng phát triển kinh tế của vùng và
làm nổi bậc nét văn hóa, đời sống sinh hoạt của cư dân vùng Đồng Tháp Mười Từ
tháng 7 đến tháng 10 âm lịch hàng năm, mỗi khi nước nước thượng nguồn Cửu
Long Giang về lại bù đắp phù sa cho vùng Đồng Tháp Mười thêm màu mỡ và làm
giảm lượng phèn của vùng Hình ảnh của những chiếc ghe tam bản, chiếc xuồng
ba lá chính là phương tiện đi lại, đánh bắt, buôn bán, nhà để ở Những làng nghề
phục vụ cho đời sống của người dân vùng nước nổi như đan lưới, đan lờ, chầm lá,
làm mắm được thể hiện rõ nét hơn Ngoài ra, những đặc sản chỉ xuất hiện vào mùa
nước nổi như cá linh, bông điên điển, rau “chạy” tạo nên nền ẩm thực đầy hương
vị quê hương của vùng Đồng Tháp Mười Từ những điều kiện địa lý, hình ảnh, nét
sinh hoạt, đời sống rất thường thể hiện rõ nét trong mùa nước nổi vùng Đồng Tháp
Mười, thì du lịch mùa nước nổi là một loại hình du lịch mới đặc trưng, thể hiện sự
gần gủi giữa thiên nhiên và con người chỉ có thể thực hiện trong khoảng thời gian
mùa nước nổi Để tìm hiểu rõ hơn về những vấn đề được trình bày, chuyên đề báo
cáo sẽ tập trung phân tích về địa danh Đồng Tháp Mười, mùa nước nổi vùng Đồng
Tháp Mười, đời sống sinh hoạt của người dân vùng Đồng Tháp Mười trong mùa
lũ, hoạt động du lịch mùa nước nổi vùng Đồng Tháp Mười, dựa trên nguồn tài liệu
về mùa nước nổi ở các tỉnh vùng Đồng Tháp Mười và từ khảo sát thực địa tại
vùng
Trang 2BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH VÙNG ĐỒNG THÁP MƯỜI
Trang 3II TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH MÙA NƯỚC NỔI VÙNG ĐỒNG
THÁP MƯỜI
1 Vùng Đồng Tháp Mười
Đồng Tháp Mười không phải là địa danh hành chính, mà là địa danh chỉ
vùng, do người dân đặc ra khi đến đây khẩn hoang và sau đó người Pháp gọi theo
nhận xét về mặt thảo mộc là Plaine Des Joncs (Cánh đồng lau sậy) Theo địa giới
hành chính vùng Đồng Tháp Mười được xác định thuộc địa phận của 3 tỉnh Long
An, Đồng Tháp và Tiền Giang (Số liệu được tổng hợp từ báo cáo của 3 tỉnh trong
niêm giám thống kê năm 2009) như sau:
- Long An (299.452 ha, chiếm 47% vùng Đồng Tháp Mười) gồm các
huyện: Vĩnh Hưng, Tân Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa, Đức Huệ, Thủ
Thừa (4 xã phía Bắc), Bến Lức (3 xã phía Bắc)
- Đồng Tháp (239.000 ha, chiếm 38% vùng) gồm: thành phố Cao Lãnh và
các huyện Tam Nông, Cao Lãnh, Tháp Mười, Tân Hồng, Hồng Ngự (Trừ 5 xã cù
lao), Thanh Bình (Trừ 5 xã cù lao)
- Tiền Giang (92.500 ha, chiếm 15% vùng) gồm các huyện: Cái Bè, Cai
Lậy, Tân Phước và một phần huyện Châu Thành
Đồng Tháp Mười nằm trong phạm vi tọa độ địa lý:
- 10015’ – 11000 vĩ độ Bắc
- 105012’ – 106030’ kinh độ Đông Tính từ phía Bắc quốc lộ 1A thì diện tích tự nhiên của vùng Đồng Tháp
Mười khoảng 630.952 ha, chiếm 17,72% tổng điện tích tự nhiên của đồng bằng
sông Cửu Long Đồng Tháp Mười là một vùng đất mới nhưng cũng trải qua bao
thời kỳ lịch sử, cột mốc quan trọng nhất là vào năm 1689, khi chúa Nguyễn khai
thác Phương Nam và mỗi giai đoạn là một sự phát triển gắn liền với lịch sử
- Giai đoạn 1754 – 1802, là tuyến phòng thủ trong cuộc dẹp người Chân
Lạp, diễn ra cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, cuộc sống người dân
trong giai đoạn này chủ yếu tập trung ở phía sông Tiền, sông Vàm Cỏ Đông, sông
Trang 4vàm cỏ Đông, dựa vào thiên nhiên như đánh bắt cá, lấy mật ong, đương lác lợp
nhà, nhổ bàng đan đệm, khai thác tràm lục, khai thác lúa trời
- Giai đoạn 1802 – 30/04/1975, Nguyễn Ánh thống nhất đất nước, Pháp
chiếm Gia Định và giải phóng đất nước, cuộc sống người dân vùng Đồng Tháp
Mười mở ra bước ngoặc mới kinh tế phát triển, giao thương buôn bán và trồng lúa,
với hàng trăm km kinh đào tháo phèn đưa về hai hướng: Tiền Giang và Vàm Cỏ
Đường thủy được mở rộng giao thương nội, ngoại vùng với các kinh lớn như
Hồng Ngự, Cao Lãnh, Cái Bè, Thiên Hộ, Mỹ An, Long Định, Tháp Mười, kinh
Trà Cú Thượng, kinh Lagrange, kinh Cổ Cò
- Giai đoạn 1975 đến nay, người dân vùng Đồng Tháp Mười cùng nhau xây
dựng Đồng Tháp Mười về mọi mặt kinh tế, văn hóa và xã hội, được sự hỗ trợ của
chính phủ và Nhà nước, nhất là việc xây dựng các hệ thống kênh rạch từ vùng
phèn do cố thủ tướng Võ Văn Kiệt chỉ đạo, nhằm tạo thuận lợi cho người dân
trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp
2 Mùa nước nổi vùng Đồng Tháp Mười
Mùa nước nổi chỉ hiện tương nước sông dâng cao dần trong một khoảng
thời gian nhất định, sau đó giảm dần Khái niệm về mùa nước nổi của người dân
vùng Đồng Tháp Mười được thay thế bởi khái niệm “lũ” hoặc “lụt”, cách gọi này
cho thấy ý thức của người dân về hiện tượng thiên nhiên này là hoàn toàn bình
thường, như sự tuần hoàn của các mùa trong một năm mà quy luật trong tự nhiên
của vùng phải có
Thứ nhất, địa hình vùng Đồng Tháp Mười có dạng lòng chảo, xung quanh
cao, giữa thấp trũng, hơi nghiên theo trục Tây Bắc – Đông Nam với tỷ lệ
2/100.000 Từ địa hình tổng quát, có thể chia Đồng Tháp Mười ra làm 3 địa hình
đặc trưng là địa hình ven sông, các giồng cát ven biển cổ và địa hình đồng trũng
trải dài từ tỉnh Kandal (Campuchia) sang
Thứ hai, hiện tượng lũ ở Đồng Tháp Mười được hình thành bởi nước mưa
với khối lượng lớn đổ xuống thượng nguồn sông MêKông, các phụ lưu ở trung du
(ở phía Đông và Tây) do sự tác động của gió mùa Tây Nam và nhiều yếu tố thời
Trang 5tiết khác nhau tạo nên sự đa dạng của lũ Theo Nguyễn Quới, Phan Văn Đốp
(trong “Đồng Tháp Mười nghiên cứu phát triển”) thì diễn biến một trận lũ ở vùng
Đồng Tháp Mười thương theo 3 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu gọi là lũ sông, nước lũ bắt đầu từ thượng nguồn sông
MêKông chảy vào Đồng Tháp Mười, nước lũ chứa nhiều phù sa và lượng phù sa
được chuyển vào đồng ruộng cũng đạt mức cao so với các giai đoạn sau
- Giai đoạn giữa gọi là giai đoạn lũ tràn, lúc này lũ vẩn chảy theo các kênh
chính nhưng bắt đầu có một lượng khác tràn qua bờ sông Tiền đổ vào Đồng Tháp
Mười tạo nên quá trình chảy tràn trên bề mặt
- Giai đoạn cuối là giai đoạn lũ rút, lũ được rút qua các cửa trên quốc lộ 1A
từ An Hữu đến Trung Lương, chủ yếu chảy về sông Tiền Ngoài ra, kinh Bo Bo và
một số kinh khác còn là nơi thoát lũ ra hệ thống sông Vàm Cỏ, cuối cùng ra sông
Soài Rạp
Thứ ba, ngập lụt ở Đồng Tháp Mười có diễn biến khác nhau trong từng
năm, ngoài lượng lũ đổ vào còn tùy thuộc vào các yếu tố: mưa nội đồng, sự tác
động của thủy triều từ biển Đông và các công trình cơ sở hạ tầng mới phát triển
trong khoảng thập kỷ nay góp phần hạn chế quá trình thoát lũ, làm gia tăng tình
trạng ngập lụt
Dù ở mức độ nào thì lũ lụt vẫn là yếu tố chính chi phối khống chế tất cả các
phương diện từ tự nhiên cho đến xã hội và môi trường của toàn vùng Đồng Tháp
Mười Đặc điểm của nước lũ và lụt nơi đây từ từ đến và cũng từ từ rút đi theo quy
luật nhất định, chu kỳ mỗi năm diễn ra một lần Những con lũ của vùng Đồng
Tháp Mười không dữ dội như lũ của miền Trung hay miền Bắc của Việt Nam mà
lũ ở nơi đây được người dân vùng Đồng Tháp Mười gọi đó là những con “lũ hiền”
hay “mùa nước nổi” Đó cũng là điều kiện thuận lợi cho việc hình thành phát triển
loại hình du lịch mùa nước nổi ở vùng Đồng Tháp Mười
Trang 6SƠ ĐỒ HƯỚNG LŨ ĐẾN VÀ ĐI KHỎI ĐỒNG THÁP MƯỜI
Trang 73 Đời sống sinh hoạt của người dân vùng Đồng Tháp Mười trong mùa nước
nổi
Đời sống của người dân vùng Đồng Tháp Mười được thể hiện rõ nét qua
những vấn đề:
Thứ nhất về nhà ở, người dân vùng Đồng Tháp Mười có thói quen tập trung
sống dọc ven bờ kênh, dòng sông, con rạch Nhà có kiến trúc giống như những
ngôi nhà khác ở Nam Bộ, riêng nền nhà ở thì tùy theo khu vực ngập nước nông
hay cạn mà nền nhà cao hay thấp hoặc làm nhà “cao cẳng” (trên cọc)
Thứ hai, phương tiện di chuyển vào mùa nước nổi của người dân là chiếc
xuồng ba lá, chiếc ghe tam bản, chiếc tắc ráng, ghe chài lón, ghe cà vom Người
dân vùng Đồng Tháp Mười, sử dụng những phương tiện này làm chân đi như đi
hái rau, đi thăm lưới, đi chợ, đi giăng câu, đi thăm xóm làng, đi buôn bán Đôi khi
đó còn là mái ấm, là nhà của những cư dân cả cuộc đời bao thế hệ điều gắn bó
cùng ghe xuồng như ăn ngủ, nghỉ, sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày
Thứ ba, hoạt động kinh tế trong mùa nước nổi, người dân vùng Đồng Tháp
Mười có những hoạt động, thích nghi phù hợp với điều kiện của vùng Trước đây
Trang 8thì hái lượm, đánh bắt thủy sản và nhiều động vật hoang dã, khai thác tài nguyên
rừng tràm lục, gặt lúa nước (lúa nổi), trồng rau, hoa và nuôi trồng thủy sản, gia
cầm các loài thủy sinh rau muống, rau nhút, hoa sen, cá, tôm và vịt Ngày nay,
trồng lúa, đa dạng hóa cây trồng vật nuôi hoạt động trong mùa lũ, trồng bảo vệ và
khai thác rừng tràm, nuôi cá bè trên sông Người dân ý thức được rằng không chỉ
biết khai thác mà còn biết cách tái tạo lại để khại thác lâu dài, các hoạt động sản
xuất ngày càng phát triển đa dạng và phù hợp với cách bố trí trên các địa bàn dân
cư có nền vượt lũ và hoạt động di động trên sông nước ngay trong mùa nước nổi
Từ đó hoạt động du lịch, vui chơi giải trí, khám phá bằng cách tiếp cận với sông
nước cảnh quan môi trường sinh thái dần dần được hình thành
Thứ tư, đời sống tâm linh của người dân vùng Đồng Tháp Mười được hình
thành do hoàn cảnh môi trường sống của vùng đất mới nên ít nhiều thay đổi so với
phong tục tập quán kể cả niềm tin tín ngưỡng mà người dân từ mọi vùng miền
mang theo đến nơi đây Người dân ngoài việc thờ ông bà tổ tiên, họ còn thờ những
người có công của vùng ở đình làng, tham gia các lễ hội đình làng là một hoạt
động văn hóa truyền thống đã đi vào lòng người dân như một chỗ dựa niềm tin với
tư cách là giá trị của một văn hóa Ngoài ra, sống trong vùng nước mênh mông
như biển cả, đôi khi gió to sóng lớn, người dân cảm thấy thân phận nhỏ bé trước
thiên nhiên nên trông vào nơi tựa của đấng “bề trên” Vì vậy ghe nào cũng có thờ
Phật Bà Quan Âm, cũng có chỗ cấm nhang cúng Bà Thủy, chư vị Đại Thần Đây
là biểu hiện của tâm linh và có thể nói rằng đó là sản phẩm du lịch phi vật thể
4 Sản phẩm du lịch đặc trưng vào mùa nước nổi vùng Đồng Tháp Mười
Cây tràm, loài cây đặc trưng của vùng Đồng Tháp Mười do đặc tính thích
nghi với vùng đất phèn trũng, cây tràm còn bảo vệ môi trường sinh thái, chắn sóng
lũ, giữ nước rất hiệu quả Ngoài rừng tràm tự nhiên, người dân vùng Đồng Tháp
Mười còn trồng thêm tràm trong quá trình khai hoang, góp phần đưa diện tích
rừng tràm gia tăng đáng kể Nếu trồng tràm xây dựng mô hình thủy sản kết hợp du
lịch sinh thái cảnh quan thiên nhiên Đồng Tháp Mười thì sẽ đem lại hiệu quả kinh
tế cao cho người dân Hiện nay, ở vùng Đồng Tháp Mười có một số điểm du lịch
Trang 9sinh thái ngập nước kết hợp cùng cây tràm như Tràm Chim, Láng Sen…đang hoạt
động khai thác du lịch nhưng trên thực tế tiềm năng cây tràm của cùng Đồng Tháp
Mười vẫn chưa được khai thác có hiệu quả
Cây sen, ở Đồng Tháp Mười cây sen mọc một cách tự nhiên cùng lao sậy,
cỏ lác, cỏ năng, ở khắp mọi nơi Đây là loài cây mà toàn bộ các bộ phận đều được
sử dụng ví dụ như lá sen gói bánh, ngó sen dùng nấu canh hay xào, hoa sen dùng
trang trí,…hiện nay hoa sen còn được xem là biểu tượng quốc hoa của Việt Nam
Ngoài việc, mang lại hiểu quả kinh tế cao, hoa sen còn làm cho cảnh quan Đồng
Tháp trở nên đẹp hơn giữa thiên nhiên mùa nước nổi
Bông điên điển, đặc biệt chỉ xuất hiện vào mùa nước nổi, đây là loài cây
thân thảo, mọc hoang ở ven các bờ ruộng, bờ kênh Được dùng để ăn và có thể chế
biến rất nhiều món ăn khác nhau như: ăn chung với cháo dùng làm món độn, làm
dưa chua, ăn sống, dùng ăn chung với bún nước lèo và bún mắm, đặc biệt là dùng
nấu canh chua với cá linh, làm nhân cho bánh xèo cũng chỉ có vào mùa nước nổi
Bông súng, mọc đầy dưới ruộng, đìa, ao Bông súng được người dân dùng
chung với mắm kho, nấu canh chua, trước khi ăn phải tước võ vì thực chất là ăn
phần cuống hoa bông súng
Rau choại, là loài thuộc họ dây leo, thân bò đến đâu thì rễ bám đến đó, sống
được trong vùng bưng trũng nhờ bộ rễ có sức hút nước mạnh, đặc biệt rất thích
nghi với vùng đất nhiễm phèn Tùy vào môi trường sống, rau choại có nhiều loại
khác nhau như choại đá, choại vườn, choại rừng, chột lụi, rau ván Rau choại có
thể dùng để luộc và ăn kèm với các món khác
Hẹ nước, loài loài thủy sinh sống quanh năm nhưng sinh trưởng mạnh vào
mùa nước nổi, đặc biệt có thể sống ở vùng phèn, nên nghiễm nhiên trở thành đặc
sản của vùng Đồng Tháp Mười và không thể thiếu trong bữa cơm của người dân
Cá linh, vào đầu mùa nước nổi cũng chính là lúc những con cá linh theo dòng phù
sa trôi về sông rạch, trong suốt mùa nước nổi cá trốn vào ruộng đồng để tránh sóng
gió mưa bão Ngày nay, cá linh không còn nhiều giống như trước đây nhưng sức
Trang 10hấp dẫn của những món ăn chế biến từ cá linh thì không dễ làm cho người dân
vùng Đồng Tháp Mười quên đi một cách dễ dàng
Cá bống trứng, thường theo các dề lục bình trôi theo dòng nước, có thể
dùng chế biến nhiều món ăn bằng cách chiên hay kho Ngoài ra, còn có các loài cá
đồng, lươn, tôm, cua, ốc
Hoạt động du lịch không tách rời với ẩm thực, Đồng Tháp Mười là nơi có
một nền ẩm thực hoang dã, hào phòng, cộng đồng Những món ăn ở đây được chế
biến theo điều kiện tự nhiên, sản vật tự nhiên, không gian tự nhiên, cách thưởng
thức cũng tự nhiên không cầu kỳ Ví dụ như món nướng, cái gì cũng có thể nướng
được, không chỉ tôm, cua, cá, heo, gà, vịt,…mà các loại rau củ như khoai, cà tím,
đậu bắp,…có nhiều cách nướng trực tiếp trên lửa, nướng trên khói, nướng trui, bọc
đất nướng, bọc lá vùi vào lửa
Bên cạnh đó, các làng nghề cũng là sản phẩm của du lịch Đồng Tháp Mười,
làng nghề của người dân vùng Đồng Tháp Mười luôn gắn liền với cuộc sống và
điều kiện tự nhiên nơi đây như nghề đan lác, nghề đương đệm, nghề làm các công
cụ dùng đánh bắt cá tôm, nghề làm mắm, nghề làm khô, nghề chầm lá, trong
những năm gần đây, phát triển nghề đan lục bình thành túi xách xuất khẩu
Đồng Tháp Mười là vùng đất có cảnh quan thiên nhiên đẹp, còn giữ được
nhiều cảnh sắc hoang sơ, vùng đất có truyền thống lịch sử do đó có nhiều tiềm
năng cho việc phát triển các loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch sông
nước miệt vườn, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch chiến trường xưa, du lịch tìm hiểu
thời khẩn hoang Nam Bộ Sự hiếu khách thân thiện, cùng với cuộc sống sinh hoạt
của người dân vùng nước nổi tạo nên bản sắc văn hóa trong việc khai thác du lịch
III THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH MÙA NƯỚC NỔI VÙNG
ĐỒNG THÁP MƯỜI
1 Cơ sở hạ tầng – cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Đối với cơ sở hạ tầng của vùng Đồng Tháp Mười thì hệ thống giao thông
đường thủy và bộ chi phối toàn bộ hoạt động của vùng Hệ thống giao thông
đường bộ của vùng Đồng Tháp Mười có ba quốc lộ là 30, 62, 1A chiều dài khoảng