1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đáp ứng với lọc máu liên tục trong điều trị suy đa tạng do sốc nhiễm khuẩn

6 135 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 452,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đề tài này nhằm nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của đáp ứng lọc máu liên tục trong suy đa tạng do sốc nhiễm khuẩn. Nghiên cứu tiến hành trên 82 bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có suy đa tạng được lọc máu liên tục >45ml/kg/giờ.

Trang 1

DO SỐC NHIỄM KHUẨN 

Hoàng Văn Quang*, Lê Bảo Huy* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị của đáp ứng lọc máu liên tục 

trong suy đa tạng do sốc nhiễm khuẩn. 

Đối tượng: 82 bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn có suy đa tạng được lọc máu liên tục >45ml/kg/giờ, chia thành 2 

nhóm: nhóm đáp ứng lọc máu liên tục (liều Noradrenalin giảm > 75% sau 24 giờ kể từ khi bắt đầu lọc máu);  nhóm không đáp ứng thì ngược lại. 

Phương pháp: Tiến cứu, mô tả cắt ngang 

Kết quả: Sau 24 giờ lọc máu, nhóm đáp ứng có sự cải thiện về HCO 3  (p<0,05), huyết áp tâm thu (p<0,05),  giảm tử vong còn 42,8% so với 73,7% (p<0,05) nhưng cải thiện về mạch, nồng độ lactat, chức năng thận không 

có ý nghĩa so với nhóm không đáp ứng.  

Kết luận: Trong điều trị suy đa tạng do sốc nhiễm khuẩn, bệnh nhân đáp ứng lọc máu liên tục sẽ cải thiện 

được huyết động, tình trạng nhiễm toan, số tạng suy, mức độ suy tạng cũng như tỉ lệ tử vong. 

Từ khóa: suy đa tạng, sốc nhiễm khuẩn, lọc máu liên tục. 

ABSTRACT 

TO EVALUATE RESPONSE OF CONTINUOUS RENAL REPLACEMENT THERAPY FOR 

TREATMENT OF MOFS PATIENTS DUE TO SEPTIC SHOCK 

Hoang Van Quang, Le Bao Huy 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 113 ‐ 118 

Objective:  To  evaluate  the  clinical  characteristics  and  the  results  of  CRRT  among  patients  who  suffered 

from multiple organ failure syndrome (MOFS) due to septic shock. 

Methods:  We conducted a cross‐ section, prospective, descriptive study on 82 MOFS patients with septic 

shock. They were devided into two groups: satisfying group and the other is unsatisfying. 

Results:  After  24  hour  treatment,  satisfy  group  has  the  improvement  of  HCO 3 ,  systolic  blood  pressure  (p<0.05), mortality is less than the other (42.8% vs. 73.7%). There are no the marked differences between the two 

groups in heart rate, lactate and kidney function (p>0.05). 

Conclusions:  MOFS  patients  who  have  good  response  to  CRRT  will  improve  hemodynamic,  acidosis, 

number of insufficient organs, as well as mortality. 

Keywords:  multiple organ failure syndrome (MOFS), septic shock, continuous renal replacement therapy 

(CRRT) 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Sốc  nhiễm  khuẩn  là  một  cấp  cứu  nội  khoa, 

đặc  trưng  bởi  suy  tuần  hoàn  cấp,  nếu  không 

được điều trị kịp thời có thể dẫn đến tổn thương 

tế bào không hồi phục, suy đa tạng và tử vong. 

Tỉ lệ tử vong của sốc nhiễm khuẩn dao động từ  40‐55%, khi có suy đa tạng thì tỉ lệ này tăng lên  60‐80%. Hiện nay, điều trị sốc nhiễm khuẩn chủ  yếu theo hướng dẫn của SSC‐2012, áp dụng lọc 

* Bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh 

Trang 2

máu  liên  tục  sớm  khi  có  suy  đa  tạng  nhằm  hỗ 

trợ  các  tạng  suy  cũng  như  lọc  bỏ  các  yếu  tố 

trung  gian.  Phương  pháp  điều  trị  này  tỏ  ra  rất 

hiệu  quả  nhất  là  khi  sử  dụng  lọc  máu  thể  tích 

cao,  thời  điểm  tiến  hành  sớm,  đặc  biệt  là  cải 

thiện  được  huyết  động  cũng  như  giảm  tối  đa 

liều thuốc vận mạch(3,4,1,8). Do đó, bệnh nhân đáp 

ứng với lọc máu liên tục có thể cải thiện được tỉ 

lệ tử vong. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này 

nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 

cũng như kết quả điều trị của đáp ứng lọc máu 

liên tục trong suy đa tạng do sốc nhiễm khuẩn. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 

Đối tượng nghiên cứu 

Tất  cả  các  bệnh  nhân  sốc  nhiễm  khuẩn  và 

suy đa tạng có lọc máu liên tục tại khoa HSTC‐

CĐ  Bệnh  viện  Thống  Nhất  TPHCM  từ  2009‐

2012. 

Chẩn  đoán  sốc  nhiễm  khuẩn  dựa  vào  tiêu 

chuẩn của Hội hồi sức và Lồng ngực Hoa Kỳ 

Có hội chứng đáp ứng viêm hệ thống, gồm 

ít nhất 2 trong 4 triệu chứng sau đây: 

1. Nhiệt độ > 380C hoặc < 360C 

2. Nhịp tim > 90 lần / phút 

3. Nhịp thở > 20 lần/ phút hoặc PaCO2 < 32 

mmHg  

4. Bạch cầu > 12000/mm3 hoặc < 4000/mm3 

Có  ổ  nhiễm  khuẩn  hoặc  cấy  máu  dương 

tính. 

Có  các  dấu  hiệu  của  sốc:  HAtâm  thu <  90 

mmHg  hoặc  giảm  ≥  40  mmHg  so  với  huyết  áp 

tâm thu cơ bản của bệnh nhân, không đáp ứng 

với bù dịch. 

Có  các  triệu  chứng  giảm  tưới  máu  tổ  chức 

hoặc rối loạn chức năng ít nhất một cơ quan như 

rối  loạn  ý  thức,  thiểu  hoặc  vô  niệu,  giảm  tưới 

máu mô (lactat > 3 mmol/L). 

Chẩn đoán suy đa tạng 

Dựa  theo  tiêu  chuẩn  KNAUS  sửa  đổi.  Suy 

đa tạng khi có > 2 tạng suy, kéo dài trên 24 giờ(6) 

Tiêu chuẩn loại trừ 

‐ Tuổi < 18 

‐ Tử vong trong 6 giờ đầu kể từ lúc lọc máu. 

‐  Có  chỉ  định  can  thiệp  ngoại  khoa  nhưng  chưa được điều trị có hiệu quả. 

‐ Bệnh nhân có bệnh lý nặng giai đoạn cuối  như: ung thư di căn, suy giảm miễn dịch. 

Phương pháp nghiên cứu 

‐ Tiến cứu mô tả cắt ngang 

‐  Điều  trị  sốc  nhiễm  khuẩn  dựa  theo  SSC‐

2012 

‐ Lọc máu liên tục mode CVVH sớm < 24 giờ 

kể  từ  khi  bị  sốc,  tốc  độ  dòng  máu  150‐200  mL/phút,  tốc  độ  dịch  thay  thế  >  45  mL/kg/giờ  Bệnh nhân được chia thành 2 nhóm: 

Đáp ứng lọc máu và không đáp ứng lọc máu  dựa theo tiêu chuẩn: 

+ Đáp ứng lọc máu: Liều Noradrenalin giảm 

≥ 75% sau 24 giờ lọc máu(1)  +  Không  đáp  ứng  lọc  máu:  Khi  liều  Noradrenalin giảm < 75% sau 24 giờ lọc máu 

‐ Đánh giá APACHE II lúc vào viện; số tạng  suy và điểm SOFA hàng ngày, thay đổi các chỉ 

số cận lâm sàng tại thời điểm 0 giờ (T0), 12 giờ  (T1), 24 giờ (T2), 48 giờ (T3). 

‐ Kết quả điều trị: sống, tử vong  

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Bảng 1. Đặc điểm chung 2 nhóm: 

Đặc điểm Đáp ứng Không đáp ứng p

Tuổi 66,8 ± 14,5 62,2 ± 17,3 0,3

Số tạngsuy 3,4 ± 1,1 3,9 ± 1,0 0,08 TMS 10,3 ± 2,9 12,3 ± 3,9 0,06 Delta-SOFA 1,1 ± 1,9 2,1 ± 2,6 0,12 SOFA 9,24 ± 1,8 10,2 ± 3,2 0,23 APACHE II 22,2 ± 2,7 22,5 ± 3.9 0,7

Nhận  xét:  Không  có  sự  khác  biệt  giữa  2 

nhóm về số tạng suy cũng như mức độ nặng của  suy tạng. 

Trang 3

0

2

4

6

8

10

12

Đá K

Nhận  xét:  SOFA  cải  thiện  đáng  kể  ở  nhóm 

đáp  ứng  với  lọc  máu  so  với  nhóm  không  đáp 

ứng. Khác biệt có ý nghĩa từ ngày thứ 1 trở đi. 

Diễn tiến số tạng suy (Hình 2) 

0

0,5

1

1,5

2

2,5

3

3,5

4

Đáp ứng

Không đáp ứng

Nhận xét: số tạng suy giảm dần từ ngày thứ 

3 ở nhóm đáp ứng, khác biệt có ý nghĩa từ ngày 

thứ 3 (p<0,05). 

Bảng 1. Thay đổi mạch ở 2 nhóm: 

Đặc điểm Đáp ứng Không đáp ứng p

Nhận  xét:  Mạch  có  xu  hướng  giảm  dần 

nhưng thay đổi không có ý nghĩa ở 2 nhóm. 

Bảng 2. Thay đổi HA ở 2 nhóm: 

Đặc điểm Đáp ứng Không đáp ứng p

Nhận  xét:  Ở  nhóm  đáp  ứng  với  lọc  máu, 

HA  tăng  trong  24  giờ  đầu  cao  hơn  so  với  ở  nhóm  không  đáp  ứng.Sự  khác  biệt  này  có  ý  nghĩa  thống  kê.Tử  giờ  thứ  48  trở  đi  không  có 

sự khác biệt. 

Bảng 3. Thay đổi liều Noradrenalin ở 2 nhóm: 

Liều Noradrenalin (µg/kg/phút)

Đáp ứng (%

giảm liều)

Không đáp ứng

p

T1 0,2 ± 0,66 (33%) 0,3 ± 0,25 0,73 T2 0,03 ± 0,05(90%) 0,42 ± 0,6 0,018

T3 0,01 ± 0,03(97%) 0,35 ± 0,76 0,032

Nhận  xét:  Trong  nhóm  đáp  ứng,  Noradrenalin giảm 33% sau 12 giờ,  90%  sau  24  giờ và 97% sau 48 giờ so với trước lọc, ngược lại  không thay đổi ở nhóm không đáp ứng. 

Bảng 4. Thay đổi chức năng thận ở 2 nhóm: 

Đặc điểm Đáp ứng Không đáp ứng p

CreatT0 2,6 ±1,4 3,3 ±2,5 0,21

N.Tiểu T0 (ml/giờ) 29,3 ± 30,8 21,0± 31,0 0,36 T1 61,8 ± 53,4 47,5 ± 74,7 0,45 T2 83,0 ±73,3 54,7 ± 56,7 0,12 T3 93,2 ± 79,5 70,7 ± 61,8 0,36 Nhận xét: Cret giảm, nước tiểu cải thiện tốt  hơn  ở  nhóm  có  đáp  ứng  lọc  máu  so  với  nhóm  không  đáp  ứng,  tuy  nhiên  sự  thay  đổi  này  không có ý nghĩa thống kê. 

Bảng 5. Thay đổi Lactat ở 2 nhóm: 

Đặc điểm Đáp ứng Không đáp ứng P

Nhận xét: Lactat máu sau 24 giờ cải thiện tốt  hơn  so  với  nhóm  không  đáp  ứng  với  lọc  máu. 

Sự khác biệt không có ý nghĩa giữa 2 nhóm. 

Bảng 6. Thay đổi pH ở 2 nhóm (Bảng 6): 

Đặc điểm Đáp ứng Không đáp ứng P

T1 7,37 ± 0,08 7,28 ± 0,13 0,09

T3 7,36 ± 0,09 7,33 ± 0,12 0,30 Nhận xét: Nhóm đáp ứng lọc máu có pH cải  thiện tốt hơn so với nhóm không đáp ứng. Khác  biệt giữa 2 nhóm là không có ý nghĩa. 

p< 0,05

SpOF

Số tạng suy 

p<0,05

SpOF

Trang 4

Đặc điểm Đáp ứng Không đáp ứng P

T0 16,9 ± 7,6 15,6 ± 5,9 0,46

Nhận xét: Hai nhóm đều có cải thiện HCO3, 

tuy nhiên cải thiện tốt hơn ở nhóm đáp ứng với 

lọc  máu.  Khác  biệt  có  ý  nghĩa  giữa  2  nhóm  ở 

thời điểm sau 24 giờ. 

Bảng 8. Đặc điểm chung lúc ra viện: 

Đặc điểm Đáp ứng Không đáp ứng P

SOFA lúc vào 9,2 ± 1,9 10,2 ± 3,2 0,22

SOFA lúc ra 4,4 ± 8,5 6,3 ± 1,0 0,02

Số tạng suy lúc vào 3,1 ± 0,6 3,2 ± 0,9 0,55

Số tạng suy lúc ra 1,5 ± 1,7 3,0 ± 2,2 0,007

Nhận xét: điểm SOFA và số tạng suy lúc ra 

viện  giảm  có  ý  nghĩa  ở  nhóm  đáp  ứng  với  lọc 

máu so với nhóm không đáp ứng. 

Bảng 9. Kết quả điều trị: 

Nhận xét: Tử vong ở nhóm đáp ứng lọc máu 

9/21(42,8%)  thấp  hơn  so  với  nhóm  không  đáp 

ứng 28/38(73,7 %) có ý nghĩa p=0,026. 

Bảng 10. Đặc điểm kỷ thuật lọc máu: 

Đặc điểm Đáp ứng Không đáp ứng p

Nhận  xét:  Các  thông  số  trong  kỷ  thuật  lọc 

máu ở 2 nhóm tương đương nhau 

BÀN LUẬN 

Lọc máu liên tục thể tích cao đã được chứng 

minh có hiệu quả trong một số nghiên cứu(3,4,1,8), 

đặc  biệt  cứu  cánh  trong  một  số  trường  hợp 

nặng. Có nhiều yếu tố để đánh giá hiệu quả của 

phương pháp này. Ngoài sự cải thiện các chỉ số 

cận  lâm  sàng  thì  giảm  nhanh  và  sớm  liều  vận 

mạch trong 12‐24 giờ đầu cũng giúp tiên lượng 

điều  trị  thành  công.  Trước  khi  lọc  máu,  cả  2 

nhóm  đều  không  có  khác  biệt  về  mức  độ  nặng 

của bệnh, số tạng suy và mức độ suy tạng. Tuy 

vậy  trong  quá  trình  lọc  máu  thì  bệnh  nhân  có 

đáp ứng với lọc máu liên tục hay không còn phụ 

thuộc vào nhiều yếu tố: tác nhân gây bệnh, hiệu  quả kháng sinh ban đầu, đáp ứng của cơ thể. 

Đặc điểm tiến triển SOFA và số tạng suy 

Chúng  tôi  đánh  giá  điểm  SOFA  hàng  ngày  nhằm  theo  dõi  mất  chức  năng  các  tạng  trong  quá trình điều trị, có nghĩa là đánh giá kết quả  điều  trị  bằng  các  biện  pháp  can  thiệp.  Hình  1  cho thấy cả 2 nhóm đều cải thiện điểm SOFA và 

số  tạng  suy.  Tuy  vậy,  có  sự  cải  thiện  SOFA  từ  ngày  thứ  1,  số  tạng  suy  từ  ngày  thứ  3  ở  nhóm  đáp  ứng  lọc  máu  so  với  không  đáp  ứng.  Khác  biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Chứng tỏ  lọc máu liên tục là biện pháp điều trị hỗ trợ rất  tốt chức năng đa tạng đặc biệt là  suy  thận.  Kết  quả này phù hợp với nghiên cứu của Janssens(5).  Tác giả thấy rằng số tạng suy càng nhiều thì tỉ lệ 

tử  vong  càng  cao,  bệnh  nhân  không  cải  thiện  được số tạng suy sau thời gian điều trị sẽ có tiên  lượng xấu hơn. 

Thay đổi huyết động học 

‐  Mạch:  Mạch  đều  chậm  lại  ở  2  nhóm,  sự  khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Chúng tôi  cho  rằng  hai  nhóm  đều  lọc  máu  liên  tục  nên  giúp hạ thân nhiệt, thứ hai là do giảm được liều  thuốc vận mạch gây tăng nhịp tim. Hơn nữa lọc  máu  liên  tục  có  tác  dụng  thanh  thải  các  yếu  tố  trung  gian  gây  viêm  đặc  biệt  là  TNF‐α  là  tác  nhân gây mạch nhanh(3). Cuối cùng, khi HA thấp  thì có cơ chế bù trừ làm mạch tăng lên để đảm  bảo cung lượng tim, Khi HA tăng theo thời gian  thì  đồng  nghĩa  với  mạch  chậm  lại.Đó  là  cơ  chế  đáp ứng sinh lý bình thường. 

‐  Huyết  áp:  Trước  khi  lọc  máu,  các  bệnh  nhân đều được đảm bảo HA> 90mmHg. Nhóm  đáp  ứng  lọc  máu  cải  thiện  HATT  trong  24  giờ  đầu,  trong  khi  không  thay  đổi  ở  nhóm  không  đáp ứng. Có lẽ bệnh nhân ở nhóm này sốc quá  nặng,  liều  vận  mạch  tăng  dần,  không  đáp  ứng  điều  trị  kể  cả  các  phương  pháp  khác.  Honore(4)  thấy rằng HATB tăng từ giờ thứ 2 và tăng >70%  sau 12 giờ. Chúng tôi cho rằng lọc máu liên tục  làm  tăng  HA  bằng  nhiều  cách  như  tăng  chỉ  số  tim, tăng sức cản ngoại biên, thanh thải các chất 

ức chế tim. 

Trang 5

Lọc máu liên tục làm giảm liều Noradrenalin 

song  song  với  giảm  nồng  độ  cytokines  trong 

máu.  Cornejo  nhận  thấy  đáp  ứng  với  lọc  máu 

liên  tục  là  giảm  liều  Noradrenalin  >30%  sau  12 

giờ(3),  có  hiệu  quả  trên  một  số  thông  số.  Tuy 

nhiên,  chúng  tôi  chọn  tiêu  chuẩn  thời  gian  của 

Boussekey là 24 giờ để tiến triển của bệnh được 

đánh  giá  rõ  ràng  hơn.  Trong  nghiên  cứu,  liều 

Noradrenalin  giảm  bắt  đầu  từ  12  giờ  nhưng 

khác  biệt  có  ý  nghĩa  sau  24  giờ,  ngược  lại  hầu 

như  không  giảm  mà  thậm  chí  còn  tăng  lên  ở 

nhóm không đáp ứng (Bảng 3). Kết quả này phù 

hợp  với  nhiều  nghiên  cứu  khác(1,3,4).  Tử  vong 

sớm < 24 giờ là do tụt HA trơ với điều trị mặc dù 

đã được dùng vận mạch liều rất cao(3). 

Thay đổi chức năng thận 

Lọc  máu  liên  tục  giúp  thay  thế  thận  và 

tăng khả năng phục hồi chức năng thận, có tác 

dụng thanh thải tốt urê và creatinin. Giảm tổn 

thương thận, cải thiện được thể tích nước tiểu 

là  do  giảm  được  nồng  độ  cytokines  trong 

máu(1).  Bảng  4  cho  thấy  cả  2  nhóm  đều  cải 

thiện  được  creatinin  và  thể  tích  nước  tiểu, 

nhưng  cải  thiện  nhanh  hơn  ở  nhóm  đáp  ứng 

với  lọc  máu,  sự  khác  biệt  giữa  2  nhóm  là 

không  có  ý  nghĩa.  Chúng  tôi  nghĩ  rằng  phục 

hồi  chức  năng  thận  do  nhiều  yếu  tố:  bù  đủ 

dịch,  dùng  thuốc  lợi  tiểu,  cải  thiện  HA  sau 

dùng vận mạch và lọc máu liên tục. Điều này 

lý giải tại sao chức năng thận cải thiện tốt hơn 

ở nhóm đáp ứng. 

Thay đổi tình trạng nhiễm toan 

‐ pH và HCO3: Toan chuyển hóa là hậu quả 

của suy tuần hoàn cấp. Lọc máu liên tục có tác 

dụng điều chỉnh thăng bằng toan kiềm. Tuy vậy 

pH  còn  phụ  thuộc  nhiều  yếu  tố  khác  như  sốc 

còn  kéo  dài,  suy  thận  tiến  triển,  thể  tích  dịch 

thay thế không đủ. Bảng 6 và 7 cho thấy không 

có  sự  khác  biệt  pH  giữa  2  nhóm,  tuy  nhiên 

HCO3  tăng  nhanh  hơn  ở  nhóm  đáp  ứng  lọc 

máu,  khác  biệt  có  ý  nghĩa  sau  24  giờ.  Kết  quả 

này  là  phù  hợp  với  nghiên  cứu  của  Honore(4). 

Tác giả thấy rằng pH ở nhóm đáp ứng lọc máu 

tăng lên từ giờ thứ 4. Chúng tôi cho rằng HCO3  tăng  lên  do  nhiều  nguyên  nhân:  cải  thiện  chức  năng  thận;  sử  dụng  dịch  Hemosol  hệ  đệm  bicarbonate; hoặc do truyền dịch kiềm. 

‐ Lactat máu: Là hậu quả của giảm tưới máu 

mô. Bệnh nhân nhiễm toan và mất bù HCO3 là  dấu  hiệu  của  toan  lactic  tiến  triển  do  nhiễm  khuẩn nặng mà không được bù trừ bởi lọc máu.  Bảng 5 cho thấy lactat được cải thiện ở 2 nhóm,  đặc  biệt  ở  nhóm  đáp  ứng  với  lọc  máu,  nhưng  khác biệt không có ý nghĩa, có lẽ do 2 nhóm đều 

có huyết áp ổn định trước và trong quá trình lọc  máu. Chúng tôi duy trì huyết áp bằng cách nâng  dần  liều  vận  mạch  ở  nhóm  không  đáp  ứng  do 

đó  lactat  máu  không  tăng  thêm  ở  nhóm  này.  Nghiên  cứu  của  các  tác  giả  khác  cho  kết  quả  tương tự. Cornejo sử dụng tốc độ dịch thay thế  100ml/kg/giờ  trong  12  giờ  ở  bệnh  nhân  sốc  nhiễm khuẩn tăng động (CI>3ml/min/m2) nhận  thấy lactat máu giảm > 30% sau 12 giờ, có lẽ do  cải  thiện  tưới  máu  mô,  làm  pH  tăng  lên  từ  từ  chứ  lọc  máu  liên  tục  không  thanh  lọc  được  lactat(3)

Kết quả điều trị 

Nhiều  nghiên  cứu  thấy  rằng  điểm  SOFA  càng  tăng,  số  tạng  suy  càng  nhiều  thì  tử  vong  càng  cao.  Bệnh  nhân  sống  sót  thường  cải  thiện  các thông số này. Bảng 8 cũng cho kết quả tương 

tự. Tại thời điểm ra viện, nhóm đáp ứng có điểm  SOFA và số tạng suy giảm so với nhóm không  đáp  ứng  với  lọc  máu,  sự  khác  biệt  này  có  ý  nghĩa thống kê. Nhóm đáp ứng lọc máu có tỉ lệ 

tử vong 42,8% thấp hơn so với nhóm không đáp  ứng  73,7%  khác  biệt  có  ý  nghĩa.  Như  vậy,  đáp  ứng với lọc máu liên tục có thể là một yếu tố tiên  lượng kết quả điều trị. Boussekey(1) cho thấy 8/9  bệnh  nhân  đáp  ứng  khi  lọc  máu  thể  tích  cao,  trong khi chỉ có 4/10 bệnh nhân đáp ứng khi lọc  máu  thể  tích  thấp.  Điều  này  cho  thấy  nên  áp  dụng lọc máu thể tích cao cho những bệnh nhân  sốc nhiễm khuẩn. Tương tự như nghiên cứu của  chúng  tôi,  Cornejo(3)  nhận  thấy  tỉ  lệ  tử  vong  nhóm  đáp  ứng  là  2/11  (18%)  thấp  hơn  nhóm  không đáp ứng lọc máu là 6/9 (67%). Nhóm đáp 

Trang 6

HATB, tăng chỉ số tim và giảm thân nhiệt. 

KẾT LUẬN 

Trong  suy  đa  tạng  do  sốc  nhiễm  khuẩn, 

bệnh nhân đáp ứng với lọc máu liên tục sau 24 

giờ so với nhóm không đáp ứng có các đặc điểm 

sau: 

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 

‐ Cải thiện huyết áp tối đa trong 24 giờ đầu 

(p<0,05). 

‐ Cải thiện HCO3 sau 24 giờ (p<0,05). 

Kết quả điều trị 

‐ Cải thiện số tạng suy từ ngày thứ 3 (p<0,05) 

cũng như lúc ra viện (p=0,02) 

‐ Cải thiện SOFA từ ngày thứ 1 (p<0,05) cũng 

như lúc ra viện (0,007). 

‐ Giảm tỉ lệ tử vong xuống còn 42,8% so với 

73,7% ở nhóm không đáp ứng (p<0,05). 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Boussekey N, Chiche A, Faure K, Devos P, Guery B, Escrivan 

T,  Georges  H,  Leroy  O  (2008),  “  A  pilot  randomized  study 

comparing  high  and  low  volume  hemofiltration  on 

vasopressor  use  in  septic  shock”,  Intensive  Care  Med,  34, 

pp.1646–1653. 

2 Castro  R,  Regueira  T,  Aguirre  M.  L,  Llanos  O.  P,  Bruhn  A, 

Bugedo,  Dougnac  A,  Castillo  L,  Andresen  M,  Hernandez  G 

(2008),  “An  evidence‐based  resuscitation  algorithm  applied  from  the  emergency  room  to  the  ICU  improves  survival  of 

severe septic shock”, Minerva anestesiol, 74, pp.1‐9. 

3 Cornejo R, Downey P, Castro R, Romero C, Regueira T et al  (2006),  “High‐volume  hemofiltration  as  salvage  therapy  in 

severe  hyperdynamic  septic  shock  ”,  Intensive  Care  Med,  32, 

pp.713‐722. 

4 Honore  P.M,  Jamez  J,  Wauthier  M,  Lee  PA,  Dugernier  T,  Pirenne  B,  Hanique  G,  Matson  J.R  (2000), “Prospective  evaluation  of  short‐term  high  volume  iso‐volemic  hemofiltration  on  the  hemodynamic  course  and  outcome  in  patients  with  intractable  circulatory  failure  resulting  from 

septic shock ”, Crit Care Med, 28, pp. 3581‐ 3587. 

5 Janssens U, Graf C., Graf J, Radke PW, Konigs B, Kock K.Ch,  Lepper  W,  Dahl  J.V,  Hanrath  P  (2000),  ʺEvaluation  of  the  SOFA score: a single –center experience of a medical intensive  care  unit  in  303  consecutive  patients  with  predominantly 

cardiovascular  disordersʺ,  Intensive  Care  Med,  26,  pp.1037‐

1045. 

6 Knaus  criteria  for  multiple  system  organ  failure.  http://www.medicalcriteria.com/ Knaus. 

7 Levy MM, Fink MP, Marshall JC, Abraham E, Angus D, Cook 

D,  Cohen  J,  Opal  SM,  Vincent  JL,  Ramsay  G  (2003),ʺ2001  SCCM/ESICM/ACCP/ATS/SIS international sepsis definitions 

conference”, Intensive Care Med,. 

8 Piccinni P, Dan M, Barbacini S, Carraro R, Lieta E, Marafon S,  Zamperetti  N,  Brendolan  A,  Intini  VD,  Tetta  C,  Bellomo  R,  Ronco  C  (2006),  “  Early  isovolaemic  haemofiltration  in  oliguric patients with septic shock”, Intensive Care Med, 32,  pp.80–86. 

 

Ngày nhận bài báo      01‐7‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  18‐7‐2013  Ngày bài báo được đăng:  01‐08‐2013 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 14:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w