Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng che phủ vết thương khuyết da của vạt da- cân cẳng chân sau trong. Nghiên cứu trên bệnh nhân có vết thương khuyết da vùng cẳng chân dưới và quanh cổ chân. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.
Trang 1Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 19 * Phụ bản của Số 1 * 2015
Chuyên Đề Ngoại Khoa
410
NHÂN MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP SỬ DỤNG VẠT DA- CÂN CẲNG CHÂN SAU TRONG ĐIỀU TRỊ VẾT THƯƠNG MẠN TÍNH VÙNG CẲNG CHÂN DƯỚI
VÀ QUANH CỔ CHÂN
Trần Ngọc Lĩnh*, Nguyễn Anh Tuấn*, Vũ Hữu Thịnh*, Nguyễn Mạnh Đôn*, Đỗ Quang Khải*,
Cái Hữu Ngọc Thảo Trang*, Nguyễn Thái Thùy Dương*, Trương Trọng Tín**
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá khả năng che phủ vết thương khuyết da của vạt da- cân cẳng chân sau trong Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhâncó vết thương khuyết da vùng cẳng chân dưới và
quanh cổ chân Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang một số ca
Kết quả: 4 trường hợp dùng vạt da cân cẳng chân sau trong để che phủ vết thương 1/3 dưới cẳng chân (1 ca)
và sau gót chân (3 ca) có 1 ca vạt thiếu máu nuôi phần xa và có ứ máu tĩnh mạch cuống vạt tạm thời sau mổ
Kết luận: Vết thương mất mô vùng cẳng chân dưới và quanh cổ chân thường cần che phủ với vạt có cuống
mạch nuôi Vạt da cân cẳng chân sau trong có thể xem xét cho những trường hợp không thể đóng trực tiếp hay ghép da Vạt này tương đối dễ mổ và kết quả che phủ khuyết da khá tốt Khuyết mô vùng cho vạt có thể khâu trực tiếp.Bảo tồn đựoc các mạch máu và thần kinh chính vùng cẳng chân
Từ khóa: vết thương mất mô, vết thương mạn tính quanh cổ chân, vạt da cân cẳng chân sau trong
ABSTRACT
SOFT TISSUE DEFECTS COVERAGE AT LOWER LEG AND PERITARSUS WITH POSTEROMEDIAL
FASCIOCUTANEOUS FLAP: SOME CASES
Tran Ngoc Linh, Nguyen Anh Tuan, Vu Huu Thinh, Nguyen Manh Don, Do Quang Khai,
Cai Huu Ngoc Thao Trang, Nguyen Thai Thuy Duong, Truong Trong Tin
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 1 - 2015: 410 - 412
Objectives: To evaluate some cases soft tissue defects coverage at lower leg and peritarsus with
posteromedial fasciocutaneous flap
Materials and methods: Patients with chronic wounds: lower leg and opened heel tendon treated with
posteromedial fasciocutaneous flap
Results: 4 cases used posteromedial fasciocutaneous flapfor soft tissue defects coverage at lower leg (1 case)
and opened heel tendon (3 cases) 1 case present tempotal ischemia of far part of the flap and venous stasis of flap
Conclusions: Some soft tissue defects atlower leg and peritarsus need coverage with pedicle flaps
Posteromedial fasciocutaneous flap is useful if it can not suture directly or skin graft This flap is easy to do and good result Donor site can suture directly Main vessels and sural nerve is preserved
Key words: soft tissue defects, peritarsuschronic wound, posteromedial fasciocutaneous flap
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vết thương khuyết mất mô vùng dưới cẳng
chân và quanh cổ chân khá thường gặp.đây là
những trường hợp khó điều trị do đặc điểm vùng
này là da bọc xương, khớp và gân, mạch máu thần kinh Hơn nữa vùng này thường được mô tả
là được nuôi dưỡng kém…
* Khoa- Bộ Môn Tạo Hình- Thẩm Mỹ, Bệnh Viện Đại Học Y Dược Tp Hồ Chí Minh
** Trung Tâm Điều Trị Vết Thương,Bệnh Viện Đại Học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: BS Trần Ngọc Lĩnh ĐT: 0908803909 Email: linh4nt@yahoo.com.vn
Trang 2Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 19 * Phụ bản của Số 1 * 2015 Nghiên cứu Y học
ĐỐ I TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân có vết
thương khuyết da vùng cẳng chân dưới và quanh
cổ chân
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả
cắt ngang một số ca
Những vết thương hở mất da, nhiễm trùng được cắt lọc và hút áp lực âm 1- 2 tuần.khi mô hạt khá đỏ thì mổ xoay vạt da cân cẳng chân sau trong che khuyết hổng
Với sẹo loét mạn tính được cắt lọc hết mô hoại
tử và xoay vạt ngay thì đầu
KẾT QUẢ
Vạt cẳng chân sau trong: 4 ca
Ca Tuổi Vị trí vết thương Kích thước vết
thương (cm)
Kích thước vạt da (cm)
Vị trí điểm xoay (cm)
Thời gian
mổ (phút)
Kết quả
1 60 1/3 dưới trước cẳng chân 8x6 15x6 10 90 Lành hoàn toàn
2 67 Sau gót 4x5 15x5 10 100 Thiếu máu 1 phần xa
3 55 Sau gân gót 3x4 15x4 10 110 Lành
Hình 1: vết thương trước mổ
Hình 2: Thiết kế vạt
Hình 3: Sau xoay vạt
BÀN LUẬN
Đặc điểm của các vết thương mất mô vùng
cẳng chân dưới – quanh cổ chân là máu nuôi
dưỡng kém, hay kèm nhiễm trùng nên khó lành,
dễ lộ các mô quí như xương khớp, gân, thần kinh, mạch máu chính
Do đó cần giải quyết nhanh tích cực và che phủ sớm để bảo tồn chi, giúp phục hồi chức năng tốt cho bệnh nhân
Giải quyết tốt nhiễm trùng bằng mọi phương tiện có thể như cắt lọc, dùng máy hút áp lực âm hỗ trợ hoặc các loại gạc vết thương chuyên dụng, dầu mù u… là cần thiết giúp vết thương sạch nhanh hơn để che phủ sớm(1,2,5)
Sử dụng vạt da cân có cuống mạch nuôi là cần thiết để che phủ vết thương khi vết thương không thể ghép da hoặc ghép da thất bại
Tùy vào vị trí và độ lớn của vết thương sẽ quyết định điểm xoay của vạt cao hay thấp, nhưng không dưới 4 cm trên mắt cá trong và nơi cuống mạch nuôi ngoại vi chưa bị tổn thương Điểm xoay an toàn thường từ 4,5-10 cm trên mắt
cá trong, nơi vẫn còn mạch máu xuyên vách ra
da(3) Chiều rộng vạt da thiết kế theo chiều rộng vết thương cần che phủ, nhưng giới hạn trước không quá bờ sau xương chày và phía sau có thể khâu da trực tiếp được Nếu cần rộng hơn có thể phải vá da mỏng thêm nơi cho vạt
Cuống nuôi vạt ở mặt sau trong nên có lợi là tránh đè cuống vạt sau khi xoay vạt khi bệnh nhân nằm ngửa làm bàn chân tự xoay ngoài Cần chú ý tránh đè ép sau mổ nếu vạt che phủ vùng sau gót và mắt cá ngoài
Trang 3Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 19 * Phụ bản của Số 1 * 2015
Chuyên Đề Ngoại Khoa
412
Bất động tạm thời cổ chân sau mổ để giảm
căng cuống vạt trong khi che phủ vạt xuống
dưới cổ chân là cần thiết
Chiếu đèn hồng ngoại hay dùng các thuốc
chống đông và tăng tưới máu vùng cẳng chân
cũng nên xem xét khi vạt có dấu hiệu thiếu máu
tạm thời sau mổ
Có 1 ca thiếu máu nuôi phần xa (# 1cm) của
vạt, và có dấu hiệu ứ máu tĩnh mạch sau mổ (tím
dần và phù nề, nổi bóng nước thượng bì vạt da)
Trường hợp này cuống vạt đặt trong đường hầm
dưới da nên chúng tôi nghĩ da vùng quanh cổ
chân tương đối căng nên cần lưu ý khi đặt cuống
vạt qua đường hầm dưới da dễ bị chèn ép cuống
gây thiếu máu nuôi, hoặc cản trở hồi lưu máu
tĩnh mạch Xẻ dọc da theo cuống vạt có lẽ là tốt
hơn
Trường hợp vạt da hoại tử lớp nông, phần
mô dưới da còn hồng, mềm mại có thể ghép da
bổ sung sau
Vạt da cân cẳng chân sau trong có cuống
mạch nuôi dựa trên các nhánh mạch máu từ
mạch chày sau theo vách gian cơ ra vùng da
tương ứng nên ít để di chứng nơi cho vạt vì vẫn
bảo tồn được các mạch máu và thần kinh chính,
không phải hi sinh tĩnh mạch hiển lớn hay thần
kinh sural(6)
Thời gian mổ khá nhanh từ 90- 120 phút và
chỉ cần gây tê tủy sống nên phù hợp với những
bệnh nhân lớn tuổi hay kèm các bệnh lý nội
khoa không thích hợp cho những mổ kéo dài như
vi phẫu thuật…
Vì số ca mổ còn ít nên các đặc điểm về sự hằng định, tin cậy của các mạch nuôi, độ lớn vạt
da có thể lấy của vạt da cân cuống ngoại vi này cần nghiên cứu thêm trên số liệu lớn hơn trên người Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Argenta LC (2006) Vacuum-Assisted Closure: State of clinic art Plastic and reconstructive surgery june supplement: 127s- 142s Bhattacharyya T (2008) Routine use of wound vacuum-assisted closure does not allow coverage delay for open tibia fractures Plastic and reconstructive surgery april 2008:
1263-1266
2 Braakenburg A, Obdeijn MC, Feitz R, van Rooij IA, van Griethuysen AJ, Klinkenbijl JH (2006) The clinical efficacy and cost effectiveness of the vacuum-assisted closure technique in the management of acute and chronic wounds: a randomized controlled trial Plastic and reconstructive surgery Volume 118, number 2: 390- 397
3 Fong EP, Papini RPG, McKiernan MV (1997) Reconstruction
of an Achilles tendon skin defect using a local fascial flap, Plast Surg.,Vol.20, No 5
4 Masquelet AC, Gilbert A (1995) An Atlas of Flaps in Limb Reconstruction.Philadelphia, PA: J.B Lippincot
5 Morykwas MJ, Simpson J, Punger K, Argenta A, Kremers L, And Argenta J (2006) Vacuum-assisted closure: state of basic research and physiologic foundation Plast Reconstr Surg
117 (suppl.): 121s-126s
6 Nguyen Anh Tuan (2008) Soft Tissue Coverage at the Resource-challenged Facility Clin Orthop Relat Res 466: 2451–2456
Ngày nhận bài báo: 31/10/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/11/2014 Ngày bài báo được đăng: 15/01/2015