1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá tỷ lệ sót bướu trong cắt đốt nội soi bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ

6 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 483,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về ung thư  bàng quang chưa xâm lấn cơ, xác định tỉ lệ sót bướu trong cắt đốt nội soi bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ bằng phương pháp cắt đốt nội soi lại sớm và đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan đến sót bướu sau cắt đốt nội soi bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ.

Trang 1

BƯỚU BÀNG QUANG CHƯA XÂM LẤN CƠ 

Phan Đức Hữu*, Đào Quang Oánh**  

TÓM TẮT 

Đặt  vấn  đề:  Ung  thư  bàng  quang  chưa  xâm  lấn  cơ  có  tỉ  lệ  đáng  kể  còn  sót  bướu  sau  cắt  đốt  nội  soi  (CĐNS). Hơn nữa, có từ 4‐25% chẩn đoán sai giai đoạn ở cắt đốt nội soi lần đầu, điều này nói lên rằng cắt đốt 

nội soi duy nhất một lần trong điều trị bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ thường là chưa đủ và cần phải cắt đốt  nội soi lại sớm. 

Mục  tiêu:  Xác định tỉ lệ sót bướu trong cắt đốt nội soi bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ bằng phương 

pháp cắt đốt nội soi lại sớm và đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan đến sót bướu sau cắt đốt nội soi bướu bàng  quang chưa xâm lấn cơ. 

Đối  tượng  và  Phương  pháp  nghiên  cứu:  Nghiên cứu hàng loạt các trường hợp lâm sàng. Tiêu chuẩn 

chọn bệnh: các trường hợp bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ (Ta,T1) được chẩn đoán qua cắt đốt nội soi lần  đầu tại BV Bình Dân trong thời gian từ 01/2012 đến tháng 08/2013. Tiêu chuẩn loại trừ: các trường hợp không  hợp tác, chảy máu nhiều, có rối loạn đông máu kèm theo. Hẹn CĐNS lại trong vòng 4‐6 tuần. Theo dõi: ghi nhận  các yếu tố như: kích thước, số lượng, vị trí bướu, dạng đại thể, giai đoạn T, độ biệt hóa, có hay không có lớp cơ  trong mẫu bệnh phẩm, thời gian cắt đối nội soi lần đầu và khoảng thời gian giữa 2 lần nội soi. Phân tích xem  những yếu tố nào liên hệ đến sự kiện sót bướu sau cắt đốt lần đầu. 

Kết quả và bàn luận: có 36 trường hợp (TH) gồm 30 nam và 6 nữ thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu, được đưa 

vào nghiên cứu. Có 8 TH sót bướu (22,2%), gồm 6/30 TH (20%) ở bệnh nhân nam và 2/6 (33,3%) ở bệnh nhân  nữ  Trong 8 TH sót bướu, có 1 TH Ta và 7 TH T1. Có 5 TH chẩn đoán lại giai đoạn (13,8%), trong đó 1 TH Ta  chuyển thành T1 và 4 TH T1 chuyển thành T2. Các yếu tố: vị trí, kích thước, và dạng đại thể của bướu không  liên quan đến sót bướu. Các yếu tố liên quan đến sót bướu là: số lượng bướu (≥ 2 bướu), giai đoạn T1, độ biệt  hóa mô học kém (G3) và không có lớp cơ trong mẫu mô CĐNS lần đầu. 

Kết luận: Phẫu thuật viên nên tiến hành cắt đốt nội soi lại sớm, đặc biệt là khi có các yếu tố nguy cơ liên 

quan đến sót bướu như: số lượng từ 2 bướu trở lên, giai đoạn T1, độ biệt hóa kém và không có cơ trong mẫu  bệnh phẩm cắt đốt nội soi  

Từ khóa: bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ, sót bướu, yếu tố nguy cơ 

ABSTRACT 

ASSESSMENT RESIDUAL TUMORS AFTER TRANSURETHRAL ENDOSCOPIC RESECTION  

OF NON‐MUSCLE INVASIVE BLADDER TUMORS 

Phan Duc Huu, Dao Quang Oanh  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 – 2014: 39 ‐ 44 

Introduction:  Significant  percentage  of  residual  tumors  has  been  revealed  after  transurethral  resection 

(TUR) of non‐muscle invasive bladder tumors (BT). Moreover,   there are 4‐25% misdiagnosed cases after the first  TUR‐BT. This suggests that the second endoscopic look or reTUR‐BT has to be performed soon  

Objectives:  Determine  the  percentage  of  residual  tumors  and  evaluate  related  factors  based  on  early 

* BV Củ Chi  ** Bệnh Viện Bình Dân 

Tác giả liên lạc: Ths.Bs Phan Đức Hữu  ĐT: 01664724116  Email: phanduchuu83@gmail.com  

Trang 2

Patients  –  Methods:  Descriptive,  serial  clinical  cases,  cross‐sectional  study.  All  cases  of  non‐muscle 

invasive bladder tumors realized at Urology Department, Binh Dan Hospital during the period from 01/2012 to  08/2013,  and  submitted  to  early  endoscopic  revision  in  4‐6  weeks  after  the  first  TUR‐BT  were  included.  Recognition of factors such as: size, number, location, macroscopic apperance of tumors, T stage, grade, whether 

or  not  the  presence  of  mucle  in  the  pathologic  specimen,  duration‐time  of  the  first  TUR‐BT  and  time  interval 

between the two endoscopic managements. Analyse to find related risk factors of residual tumors.  

Results: Totally 36 cases, including 30 men and 6 women. In 8 cases (1 Ta and 7 T1) of residual tumors 

(22.2%), there are 6/30 (20%) cases in male and 2/6 (33.3%) cases in female patients. There are 5 re‐staged cases  (13.8%), in which 1 case Ta to T1 and 4 cases T1 to T2. Factors: location, size, and macroscopic appearance are  not risk factors of residual tumors. Risk factors are: number of tumors (≥2), T1 stage, poorly differentiated grade  (G3) and the absence of muscle in the pathologic specimen. 

Conclusions:  The surgeon should proceed with early reTUR‐BT, especially when there are risk factors of 

residual tumors. 

Keywords: non‐muscle invasive bladder tumor, residual tumor, risk factors 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Ung thư bàng quang chưa xâm lấn cơ được 

điều  trị  bằng  cắt  đốt  nội  soi  kết  hợp  hóa  trị  tại 

chỗ có tỉ lệ đáng kể còn sót bướu. Hơn nữa, có từ 

4‐25% chẩn đoán sai giai đoạn ở cắt đốt nội soi 

lần đầu, được chẩn đoán xác định khi cắt đốt lại 

sớm,  điều  này  nói  lên  rằng  cắt  đốt  nội  soi  duy 

nhất 1 lần trong điều trị bướu bàng quang chưa 

xâm lấn cơ là chưa đủ, đòi hỏi cần phải cắt đốt 

nội  soi  lại  sớm(1).  Mục  đích  của  cắt  đốt  lại  sớm 

ngoài việc đánh giá tỉ lệ sót bướu còn có nhiều ý 

nghĩa như làm sạch bướu còn sót, chẩn đoán lại 

giai  đoạn  và  độ  biệt  hóa  của  bướu,  cung  cấp 

thông tin quan trọng tiên lượng cho sự tái phát 

hoặc tiến triển giai đoạn, đồng thời dẫn đến thay 

đổi trong điều trị để đạt hiệu quả tốt hơn. 

Vấn đề được đặt ra là cần phải xác định tỉ lệ 

sót bướu một cách hiệu quả bằng phương pháp 

cắt đốt nội soi lại sớm trong khoảng thời gian 4‐6 

tuần, làm sạch bướu tốt hơn và đánh giá các yếu 

tố liên quan đến sót bướu. 

Mục tiêu 

Nhằm mục đích điều trị bướu bàng quang 

chưa  xâm  lấn  cơ  một  cách  hiệu  quả,  cải  thiện 

tiên  lượng  cho  bệnh  nhân,  chúng  tôi  thực  hiện 

nghiên cứu đề tài”đánh giá tỉ lệ sót bướu trong 

cắt  đốt  nội  soi  bướu  bàng  quang  chưa  xâm  lấn 

cơ” với các mục tiêu sau: 

ƒ Xác  định  tỉ  lệ  sót  bướu  trong  cắt  đốt  nội  soi 

bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ bằng phương  pháp cắt đốt nội soi lại sớm. 

ƒ Xác  định  các  yếu  tố  liên  quan  đến  sót  bướu 

trong cắt đốt nội soi bướu bàng quang chưa xâm  lấn cơ. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên cứu mô tả hàng loạt các trường hợp  lâm sàng. Thực hiện tại BV Bình Dân trong thời  gian từ 01/2012 đến tháng 08/2013. 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Các  trường  hợp  bướu  bàng  quang  chưa  xâm lấn cơ (Ta,T1) được chẩn đoán qua cắt đốt  nội soi lần đầu. 

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.  Hẹn cắt đốt lại 4 – 6 tuần sau. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Có rối loạn đông máu kèm theo. 

Trường  hợp  bị  tai  biến,  biến  chứng  trong  quá trình cắt đốt nội soi như: chảy máu nhiều,  thủng bàng quang. 

Các yếu tố ghi nhận 

Kích  thước,  Số  lượng,  Vị  trí  bướu,  Dạng  đại thể, Giai đoạn T, Độ biệt hóa, lớp cơ trong 

Trang 3

Xử lí số liệu 

Xử  lí  và  phân  tích  số  liệu  theo  phần  mềm 

thống kê SPSS.16 for Window. Xác định xem các 

yếu tố nào liên quan đến”sót bướu” sau cắt đốt 

nội soi lần đầu. 

KẾT QUẢ 

Số liệu chung  

Trong  thời  gian  từ  01/2012  đến  tháng 

08/2013,  có  36  trường  hợp  (30  nam,  6  nữ)  thỏa 

tiêu chuẩn chọn mẫu, được đưa vào nghiên cứu. 

Có 6/30 TH ở bệnh nhân nam bị sót bướu chiếm 

tỉ lệ 20% và 2/6 bệnh nhân nữ bị sót bướu chiếm 

tỉ lệ 33,3%. 

Kết quả cắt đốt nội soi lại sớm 

Có 8 TH sót bướu (22,2%), trong đó 1 TH Ta 

và  7  TH  T1.  Có  5  TH  chẩn  đoán  lại  giai  đoạn  (13,8%), trong đó 1 TH Ta chuyển thành T1 và 4 

TH T1 chuyển thành T2. 

Bảng 1: Kết quả cắt đốt nội soi lại sớm 

Bướu Số lượng Giai đoạn T sau CĐNS lại sớm Số TH (%) Sót bướu (%) Tăng giai đoạn (%)

To Ta T1 T2

Đặc điểm của bướu trong nghiên cứu 

Vị trí bướu 

Vị  trí  bướu  ở  thành  sau  và  thành  sau  kèm 

với vị trí khác chiếm tỉ lệ cao. Nhưng, ngược lại, 

tỉ lệ sót bướu ở vị trí thành trước lại cao nhất ( 8 

TH=22,2%). 

Dạng đại thể 

Dạng đại thể xâm lấn chiếm tỉ lệ cao hơn các 

trường  hợp  dạng  nhú.  Dạng  xâm  lấn  có  21 

trường  hợp  (58,4%),  dạng  nhú  15  trường  hợp 

(41,6%). 

Kích thước của bướu 

Bướu  có  kích  thước  ≥  3cm  chiếm  tỉ  lệ  cao, 

trên  50%  số  trường  hợp.  Bướu  ≥  3cm  có  22 

trường  hợp  (61,1%),  bướu  ≤  3cm  có  14  trường 

hợp (40,9%). 

Số lượng bướu 

Số  trường  hợp  tỉ  lệ  nghịch  theo  số  lượng 

bướu. Số TH có 1 bướu chiếm tỉ lệ cao, trong khi 

đó số TH có 5 bướu chiếm tỉ lệ thấp nhất. Số TH 

≥  2  bướu  có  21  trường  hợp  (58,4%),  số  TH  ≤  2 

bướu có 15 trường hợp (41,6%). 

Giai đoạn T của bướu 

Giai  đoạn  T1  chiếm  tỉ  lệ  hơi  nhỉnh  hơn  Ta 

(55,6%).  Bướu  giai  đoạn  Ta  có  16  trường  hợp 

(44,4%), T1 có 20 trường hợp (55,6%). 

Độ biệt hóa của bướu 

Độ  biệt  hóa  trung  bình  chiếm  tỉ  lệ  >  70%,  trong  khi  đó  độ  biệt  kém  chiếm  tỉ  lệ  chưa  tới 

20%, độ biệt hóa tốt chiếm tỉ lệ thấp nhất 5,5%. 

Có cơ bàng quang trong mẫu giải phẫu bệnh 

Có cơ trong mẫu cắt đốt nội soi có 30 trường  hợp  chiếm  tỉ  lệ  cao  (83,3%),  không  có  cơ  có  6 

trường hợp (16,7%). 

Đánh giá yếu tố liên quan và sự sót bướu. 

Bảng 2: Các yếu tố liên quan và sự sót bướu 

Yếu tố Sót bướu(+) P

Không Có

Kích thước ≥ 3cm < 3cm 15 (68,2%) 7 (31,8%)13 (92,9%) 1 (7,1%) 0,115

SL bướu

Giai đoạn T Ta T1 15 (93,7%) 1 (6,25%)13 (65%) 7 (35%) 0,046

Độ biệt hóa

Lớp cơ

BQ

Trang 4

Áp  dụng  phép  kiểm  Fisher  (p  <  0,05)  thấy 

rằng  số  lượng,  giai  đoạn,  độ  biệt  hóa  mô  học 

của  bướu  và  không  cơ  trong  mẫu  cắt  đốt  nội 

soi  là  yếu  tố  nguy  cơ  đối  với  sự  sót  bướu. 

Trong khi đó, vị trí, kích thước và dạng đại thể  không  phải  là  yếu  tố  nguy  cơ  đối  với  sự  sót  bướu.  

BÀN LUẬN 

Về kết quả sót bướu chung 

0.00%

20.00%

40.00%

60.00%

80.00%

76%

 

Biểu đồ 1. So sánh tỉ lệ sót bướu với các tác giả khác. 

Nghiên  cứu  này  có  8  trường  hợp  sót  bướu 

chiếm tỉ lệ là 22,2% (8/36). 

Kết  quả  thấp  hơn  các  tác  giả  khác  trên  thế 

giới,  dao  động  trong  khoảng  25  –  80%(14,13,9,15,8). 

Có thể giải thích rằng trong nghiên cứu này, các 

trường hợp cắt đốt lại là có chọn lọc, có sự chú ý 

cẩn  thận  ở  lần  cắt  đốt  đầu,  nên  hạn  chế  tối  đa 

yếu tố kỹ thuật ảnh hưởng lên tỉ lệ sót bướu. 

Về các yếu tố liên quan đến sót bướu 

Vì giới hạn trong khuôn khổ bài này, chúng 

tôi chỉ bàn đến các yếu tố có liên quan đến việc 

sót bướu sau cắt đốt lần đầu. 

Số lượng bướu 

Bảng 3. So sánh tỉ lệ sót bướu phân bố theo số lượng 

bướu với các tác giả khác. 

Tác giả Số TH Sót bướu

chung (%)

Sót bướu (%)

≥ 2 bướu

< 2 bướu

Nghiên cứu này

(2013)

Số  lượng  bướu  là  một  trong  nhiều  yếu  tố  liên quan đến sự sót bướu. Nguy cơ sót bướu  của  trường  hợp  có  1  bướu  là  5,9%  sẽ  tăng  lên  36,8%  gấp  6  lần  nếu  trường  hợp  đó  có  từ  2  bướu trở lên.  

Theo một số tác giả Châu Âu như Schulze 

và  cộng  sự  phân  tích  hồi  cứu  các  trường  hợp 

có cắt đốt lại sớm, trong đó đặc điểm số lượng  bướu theo tác giả là yếu tố liên quan đối với sự  sót  bướu(13).  Jahnson  cũng  cho  rằng  nhiều  bướu (≥ 2 bướu) sẽ làm tăng nguy cơ sót bướu  hơn là đơn bướu(9). 

Schwaibold  nghiên  cứu  cắt  đốt  nội  soi  lại  sớm 136 trường hợp cũng có kết luận số lượng  bướu  càng  nhiều  thì  càng  tăng  nguy  cơ  sót  bướu,  nhiều  bướu  (≥2  bướu)  là  yếu  tố  liên  quan đến sót bướu, chứ không phải là độ biệt  hóa hay đường kính là yếu tố liên quan đối với  sót  bướu(15).  Brausi  và  cộng  sự  báo  cáo  trong  nghiên cứu của Hiệp hội điều trị ung thư Châu 

Âu tỉ lệ sót bướu là 7% đối với 1 bướu sẽ tăng  lên  27‐40%  đối  với  từ  2  bướu  trở  lên(3).  Divrik 

và  cộng  sự  có  báo  cáo  tỉ  lệ  sót  bướu  ở  bệnh 

Trang 5

nhân  nhóm  từ  2  bướu  trở  lên  là  81,2%  so  với 

nhóm đơn bướu là 18,8%(4). 

Giai đoạn T 

Bảng 4. So sánh tỉ lệ sót bướu phân bố theo Ta,T1 

với các tác giả khác. 

Tác giả Số TH Sót bướu

(%)

Sót bướu

Ta T1

Engelhardt

(1998)(5)

Nghiên cứu này

22,2% 6,25% 35%

Nghiên  cứu  này  cho  thấy  tỉ  lệ  sót  bướu  sẽ 

tăng theo giai đoạn. T1 có sót bướu tăng gần gấp 

6  lần  so  với  các  trường  hợp  Ta:  Ta  có  tỉ  lệ  sót 

bướu 6,25% sẽ tăng lên 35% đối với bướu T1.  

Theo các nghiên cứu của các tác giả Châu Âu 

như  Schulze  và  cộng  sự  báo  cáo  tỉ  lệ  sót  bướu 

của Ta là 15% sẽ tăng gấp 3 lần lên 47% đối với 

T1(14).  Vogeli  và  cộng  sự  năm  2002  tại  Đức 

nghiên  cứu  192  trường  hợp  bướu  bàng  quang 

trong đó bướu bàng quang chưa xâm lấn cơ có 

124 trường hợp và 83 trường hợp cắt đốt lại sớm 

với tỉ lệ sót bướu trong các trường hợp Ta là 27% 

và trong các trường hợp T1 là 53%(16). Các trường 

hợp bướu Ta có tỉ lệ sót bướu là rất thấp, việc Ta 

không là yếu tố nguy cơ đã được nhiều nghiên 

cứu  khẳng  định,  do  đó  việc  cắt  đốt  lại  sớm  là 

không  cần  thiết,  như  là  TaG1,  TaG2.  Điều  này 

được nói nhiều trong nghiên cứu của Schulze và 

cộng sự(14). 

Độ biệt hóa mô học 

Bảng 5. So sánh tỉ lệ sót bướu phân bố theo độ biệt 

hóa với các tác giả khác. 

Tác giả Số TH Sót bướu

(%)

Sót bướu

G 1 G 2 G 3

Nghiên cứu này

(2013)

Kết  quả  của  nghiên  cứu  cho  thấy  khi  độ  biệt hóa càng kém tỉ lệ sót bướu càng cao. Tỉ lệ  sót  bướu  theo  độ  biệt  hóa  lần  lượt  là  G1:  0%,  G2: 10,3%, G3: 71,4%.  

Theo hướng dẫn của hội niệu khoa Châu Âu  thì  độ  biệt  hóa  kém  được  xem  như  là  yếu  tố  nguy  cơ  đối  với  sự  sót  bướu,  tái  phát  và  tiến  triển,  từ  đó  đưa  ra  khuyến  cáo  nên  cắt  đốt  lại  sớm các trường hợp bướu chưa xâm lấn cơ biệt  hóa kém(1). 

Kolozsy  năm  1991  tiến  hành  nghiên  cứu  về  các mẫu giải phẫu bệnh ở những bệnh nhân sau  khi đã cắt đốt nội soi bằng nhiều kỹ thuật khác  nhau có tỉ lệ sót bướu là 35%. Trong đó tỉ lệ sót  bướu  tăng  lên  trong  nhóm  giai  đoạn  T1  và  độ  biệt  hóa  kém.  Theo  tác  giả  không  phải  do  kỹ  thuật  cắt  đốt  nội  soi  mà  là  yếu  tố  bệnh  học,  ở  đây xét về mặt mô học thì độ biệt hóa kém là 1  yếu tố nguy cơ liên quan đến khả năng cắt đốt  nội  soi  không  hết  dẫn  đến  sót  bướu(10).  Divrik  năm 2006 tại Thổ Nhĩ Kỳ nghiên cứu 80 trường  hợp  cắt  đốt  nội  soi  lại  sớm  tỉ  lệ  sót  bướu  là  33,8%,  tỉ  lệ  sót  bướu  theo  độ  biệt  hóa  lần  lượt  như  sau:  độ  biệt  hóa  tốt‐biệt  hóa  vừa‐biệt  hóa  kém là 5,8%‐38,2%‐62,5%. Nguy cơ sót bướu có  liên quan đến độ biệt hóa kém (p = 0,009)(4).   Schulze cũng cho rằng độ biệt hóa càng kém 

tỉ lệ sót bướu càng cao(14).Han và cộng sự nghiên  cứu  mối  liên  hệ  độ  biệt  hóa  và  sự  sót  bướu,  đi  đến kết luận: trong các trường hợp Ta có độ biệt  hóa tốt, vừa và kém khác nhau không có ý nghĩa  thống kê, trong trường hợp T1 thì khác nhau có 

ý  nghĩa  thống  kê  giữa  độ  biệt  hóa  kém  với  độ  biệt  hóa  tốt  ‐  trung  bình.  Hay  nói  cách  khác,  trong  các  trường  hợp  T1,  độ  biệt  hóa  kém  là  1  yếu tố liên quan đối với sót bướu(7). 

Thiếu lớp cơ trong mẫu cắt đốt nội soi lần đầu  

Bảng 6. So sánh tỉ lệ thiếu cơ bàng quang với các tác  giả khác. 

Tác giả Số TH Sót bướu

(%)

Thiếu cơ bàng quang

Shen (2009) (12)

125 34,4% 24%

Trang 6

Tác giả Số TH Sót bướu

(%)

Thiếu cơ bàng quang

Trong  nghiên  cứu  này  thì  tỉ  lệ  không  có  cơ 

trong mẫu CĐNS so với có cơ là 6:1. Nguy cơ sót 

bướu khi không có cơ trong mẫu CĐNS tăng lên 

gần  6  lần  so  với  các  trường  hợp  có  cơ.  Với  6 

trường hợp không có cơ trong mẫu cắt đốt, có 4 

trường  hợp  còn  sót  bướu  tỉ  lệ  là  66,7%.  Với  30 

trường hợp có cơ trong mẫu cắt đốt, có 4 trường 

hợp  sót  bướu  (13,3%).  Sự  hiện  diên  cơ  bàng 

quang  trong  mẫu  mô  bướu  lấy  từ  CĐNS  đóng 

vai  trò  quan  trọng  để  chẩn  đoán  chính  xác  giai 

đoạn của bướu và nói lên chất lượng của CĐNS.  

Theo  hội  niệu  khoa  Châu  Âu  không  có  cơ 

trong  mẫu  bệnh  phẩm  sẽ  góp  phần  tăng  tình 

trạng CĐNS không hết, vì vậy nó là yếu tố nguy 

cơ  đối  với  sự  sót  bướu,  có  chỉ  định  CĐNS  lại 

sớm(1). Tác giả Shen nghiên cứu trên 125 trường 

hợp CĐNS lại sớm, có 30 trường hợp không có 

cơ trong mẫu CĐNS, thấy rằng có sự khác nhau 

có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có cơ trong mẫu 

CĐNS và không có cơ đối với tỉ lệ sót bướu (p < 

0,05).  Thiếu  cơ  trong  mẫu  CĐNS  là  yếu  tố  liên 

quan đến sự sót bướu(12). 

Các  nghiên  cứu  khác  có  kết  quả  tương 

tự(7,2,11,16). 

KẾT LUẬN 

Tỉ  lệ  sót  bướu  trong  điều  trị  cắt  đốt  nội  soi 

bướu  bàng  quang  chưa  xâm  lấn  cơ  là  khá  cao 

22,2%. Do đó, chúng tôi đề nghị các phẫu thuật 

viên  nên  tiến  hành  cắt  đốt  nội  soi  lại  sớm,  đặc 

biệt là các trường hợp có các yếu tố nguy cơ liên 

quan đến sót bướu như: số lượng từ 2 bướu trở 

lên, giai đoạn T1, độ biệt hóa kém và không có 

cơ trong mẫu bệnh phẩm cắt đốt nội soi 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Babjuk M, Burger M, Zigeuner R, et al (2013), Guidelines on 

non‐muscle invasive (Tcis, Ta, T1) bladder cancer, Eur Urol 59 

(4): 584‐594. 

2 Badalato G, Patel T, Hruby G, et al (2011), Does the presence 

of  muscularis  propria  on  transurethral  resection  of  bladder 

tumour specimens affect the rate of upstaging in cT1 bladder 

cancer?, BJU Int 108 (8): 1292‐1296. 

3 Brausi M, Collette L, Kurth K, et al (2002),  Variability  in  the  recurrence  rate  at  first  follow‐up  cystoscopy  after  TUR  in  stage  Ta  T1  transitional  cell  carcinoma  of  the  bladder:  a 

combined analysis of seven EORTC studies, Eur Urol 41: 523‐

531 

4 Divrik  RT,  Yildirim  U,  Eroglu  AS,  et  al  (2006),  Is  a  second  transurethral  resection  necessary  for  newly  diagnosed  pT1 

bladder cancer?, J Urol 175 (4):.1258‐1261. 

5 Engelhardt  P,  Riedl  C,  Pflu  H,  et  al  (1998),  Is  a  second  look 

tur‐b in patients with superficial bladder cancer necessary?, J  Endourol 12 (2): 164‐168. 

6 Grimm  MO,  Steinhoff  C,  Simon  X,  et  al  (2003),  Effect  of  routine  repeat  transurethral  resection  for  superficial  bladder 

cancer:  a  long‐term  observational  study,  J  Urol  170  (2  Pt  1): 

433‐437 

7 Han  KS,  Joung  JY,  Cho  KS,  et  al  (2008),  Results  of  repeated  transurethral  resection  for  a  second  opinion  in  patients  referred  for  nonmuscle  invasive  bladder  cancer:  the  referral 

cancer  center  experience  and  review  of  the  literature,  J  Endourol 22 (12): 2699‐2704. 

8 Herr HW (2011),”Role of re‐resection in non‐muscle‐invasive 

bladder cancerʺ, Scientific World Journal 11: 283‐288. 

9 Jahnson  S,  Wiklund  F,  Duchek  M,  et  al  (2005),  Results  of  second‐look resection after primary resection of T1 tumour of 

the urinary bladder, Scand J Urol Nephrol 39 (3): 206‐210. 

10 Koloszy  Z  (1991),  Histopathological”self  control”  in 

transurethral  resection  of  bladder  tumors,  Br J Urol  67:  162–

164. 

11 Mariappan P, Finney SM, Head E, et al (2012), Good quality  white‐light  transurethral  resection  of  bladder  tumours  (GQ‐ WLTURBT) with experienced surgeons performing complete  resections  and  obtaining  detrusor  muscle  reduces  early  recurrence  in  new  non‐muscle‐invasive  bladder  cancer:  validation  across  time  and  place  and  recommendation  for 

benchmarking, BJU Int 109 (11): 1666‐1673. 

12 Shen  YJ,  Ye  DW,  Yao  XD,  et  al  (2009),  Repeat  transurethral 

resection for non‐muscle invasive bladder cancer, Urology 47 

(10): 725‐727. 

13 Schips  L,  Augustin  H,  Zigeuner  RE,  et  al  (2002),  Is  repeated  transurethral  resection  justified  in  patients  with  newly 

diagnosed superficial bladder cancer?, Urology 59 (2): 220‐223. 

14 Schulze  M,  Stotz  N  and  Rassweiler  J  (2007),  Retrospective  analysis of transurethral resection, second‐look resection, and  long‐term chemo‐metaphylaxis for superficial bladder cancer: 

indications  and  efficacy  of  a  differentiated  approach,  J  Endourol 21 (12): 1533‐1541. 

15 Schwaibold HE, Sivalingam S, May F, et al (2006), The value 

of a second transurethral resection for T1 bladder cancer, BJU  Int 97 (6): 1199‐1201. 

16 Vogeli  TA,  Grimm  MO,  Simon  X,  et  al  (2002),  Prospective  study  of  effectiveness.  Reoperation  (re‐TUR)  in  superficial 

bladder carcinoma, Urologe A, 41 (5): 470‐474. 

 

Ngày nhận bài báo: 15/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/11/2013  Ngày bài báo được đăng : 05/01/2014 

Ngày đăng: 20/01/2020, 14:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w