1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bước đầu đánh giá hiệu quả của phẫu thuật mở khí quản xuyên da nong tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

5 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 217,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm bước đầu đánh giá hiệu quả của phẫu thuật mở khí quản xuyên da nong tại bệnh viện nguyễn tri phương. Nghiên cứu tiến hành trên 15 bệnh nhân mở khí quản xuyên da nong, trong đó gồm 9 nam, 6 nữ, tuổi trung bình là 62 ± 10.6, thời gian đặt nội khí quản kéo dài hơn 5 ngày.

Trang 1

BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT MỞ KHÍ QUẢN

XUYÊN DA NONG TẠI BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG

Huỳnh Khắc Cường*, Lâm Huyền Trân*, Phạm Bảo Long*, Nguyễn Phước Hiền*, Xà Trường Thành**

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả phẫu thuật mở khí quản xuyên da nong

Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân đặt nội khí quản lâu ngày có chỉ định mở khí quản

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang

Kết quả nghiên cứu: 15 bệnh nhân mở khí quản xuyên da nong, trong đó gồm 9 nam, 6 nữ, tuổi trung bình

là 62 ± 10.6, thời gian đặt nội khí quản kéo dài > 5 ngày Thời gian mở khí quản trung bình là 7 ± 1.8 phút Biến chứng sau mổ chỉ là những biến chứng nhỏ như chảy máu sau mổ trong một trường hợp (7.5%), tràn khí dưới da

1 trường hợp (7.5%)

Kết luận: mở khí quản xuyên da nong trong trường hợp đặt nội khí lâu ngày là phương pháp mổ xâm lấn tối

thiểu, an toàn, nhanh và có hiệu quả

Từ khóa: mở khí quản xuyên da nong

ABSTRACT

AN INITIAL RESULT OF PERCUTANEOUS DILATIONAL TRACHEOSTOMY

AT NGUYEN TRI PHUONG HOSPITAL

Huynh Khac Cuong, Lam Huyen Tran, Pham Bao Long, Nguyen Phuoc Hien, Xa Truong Thanh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 1 - 2014: 116-120

Objective: To assess the initial results of percutaneous dilation tracheostomy

Subjective: long-term endotracheal patients who need tracheotomy

Study Design: A sectional descriptive study

Result: Among 15 patients underwent percutaneous dilatational tracheostomy that included 6 females and 9

males with the median age of 62 ± 10.6 years Prolonged ventilator support was the most common indication for tracheostomy The average duration of intubation before PDT was over 5 days Median procedure time was 7 ± 1.8 minutes Complications included minor bleeding in one patient (7.5%), subcutaneous emphysema without pneumothorax in one patient (7.5%)

Conclusion: Percutaneous dilatational tracheostomy is a minimum invasive, safe, quick and effective

management in long term endotracheal patients

Key word: percutaneous dilation tracheostomy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mở khí quản là 1 trong những phương

thức ngoại khoa lâu đời nhất có lẽ đã tồn tại từ

hơn 3000 năm nay Tuy nhiên, một thời gian

dài kỹ thuật này không được sử dụng rộng rãi,

mãi cho đến khi kỹ thuật mở khí quản kinh

điển được chuẩn hóa bởi Chevalier Jackson từng bước qui trình phẫu thuật, mở khí quản mới trở thành phẫu thuật được phổ biến Tỷ lệ biến chứng của kỹ thuật này có thể lên đến 66

% Mặc dù tỷ lệ tử vong do phẫu thuật này là rất thấp, tuy nhiên các biến chứng sau mổ như

* Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh **Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

Trang 2

chảy máu, viêm mô tế bào nhiễm trùng quanh

lổ mở khí quản và vấn đề thẩm mỹ vẫn còn

tương đối thường gặp(1,3,4)

Mở khí quản xuyên da được mô tả không lâu

sau khi Seldinger mô tả dùng dây dẫn trong đặt

ống thông động mạch vào năm 1953

Năm 1955, Shelden và cộng sự đã báo cáo nỗ

lực đầu tiên thực hiện mở khí quản xuyên da

Năm 1969, Toye và cộng sự báo cáo mở khí

quản dựa trên phương pháp nong

Năm 1985, Ciaglia và cộng sự đã mô tả kỹ

thuật mở khí quản xuyên da nong bằng cách sử

dụng kim, dây dẫn và nhiều ống nong lớn dần

Năm 1989, Schachner và cộng sự đã phát

triển dụng cụ mở khí quản forcep nong trên

dây dẫn

Từ đó đến nay, trên thế giới đã có nhiều

công trình nghiên cứu về phương pháp mở khí

quản xuyên da nong(1,2,3,4)

Tại Việt Nam, bệnh viện 103, đã có nghiên

cứu chế tạo bộ dụng cụ mở khí quản cấp cứu

TC-08 với bằng sáng chế độc quyền(2)

Tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương, từ tháng

8/2013 chúng tôi bắt đầu áp dụng mở khí quản

xuyên da nong bằng dụng cụ Ultraperc

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

“Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật mở khí

quản xuyên da nong tại bệnh viện Nguyễn Tri

Phương”

Mục tiêu chuyên biệt

Đặc điểm của phẫu thuật mở khí quản

xuyên da nong

Các tai biến của phẫu thuật mở khí quản

xuyên da nong

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Những bệnh nhân đặt nội khí quản lâu ngày

có chỉ định mở khí quản tại bệnh viện Nguyễn

Tri Phương từ tháng 8/2013 đến tháng 11/ 2013

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có can thiệp

Phương pháp tiến hành

Bệnh nhân có chỉ định mở khí quản được xem xét chỉ định, chống chỉ dịnh thực hiện kỹ thuật xuyên da nong

Chỉ định

Giống như chỉ định mở khí quản kinh điển Đặt nội khí quản lâu ngày

Hút đàm phế quản Giảm khoảng chết Duy trì đường thở

Tắc nghẽn đường hô hấp trên kéo dài (chẳng hạn do hàm mặt)

Bệnh lý thanh quản

Hẹp dưới thanh môn

Bảo vệ đường thở Chậm hồi phục phản xạ thanh môn

Vệ sinh khí quản/ hoạt động ho không hiệu quả

Chống chỉ định:

Rối loạn đông máu, Tuyến giáp to, Béo phì, Bệnh nhân không ngửa cổ tối đa được, Chấn thương cột sống cổ

Mềm sụn khí quản…

Khối u vùng trước cổ

U thanh khí quản Bệnh nhân cần mở khí quản cấp cứu không phải là đối tượng thích hợp với kiểu mở này

Phương pháp vô cảm

An thần nhẹ qua đường tĩnh mạch Dụng cụ: chúng tôi sử dụng bộ mở khí quản xuyên da nong Ultraperc

Kỹ thuật

Bệnh nhân nằm ngửa, kê gối dưới vai, giúp

cổ ngửa tối đa Xác định các mốc giải phẫu

Trang 3

xương móng, khuyết giáp trên, sụn nhẫn, màng

nhẫn giáp, màng nhẫn khí quản, màng liên sụn

khí quản, hõm ức…

Dùng dao số 15 rạch da tương ứng màng sụn

khí quản (tùy theo mở khí quản cao thì màng

sụn khí quản 1-2, mở khí quản trung bình thì

màng sụn khí quản 2-3, mở khí quản thấp thì

màng sụn khí quản 3-4) Chiều dài đường rạch

da khoảng 5-7mm

Dùng Kelly bóc tách nhẹ lớp mỡ dưới da và

lớp cân mạc trước khí quản đến tận sụn khí

quản, dùng ngón tay trỏ xác định màng liên sụn

khí quản

Dùng kim chọc đâm xuyên màng sụn khí

quản ở thành trước khí quản

Sau khi kim này lọt vào lòng khí quản, lắp

xylanh có thuốc tê vào kim, rút nhẹ xylanh để

thấy khí vào lòng xylanh, chắc chắn là kim đã ở

trong lòng khí quản, sau đó bơm ít thuốc tê vào

lòng khí quản để giảm phản xạ

Dùng dây dẫn có đầu tù hình chữ J luồn qua

đầu kim chọc để vào lòng khí quản

Rút kim chọc ra khỏi da mà vẫn giữ dây dẫn

đầu tù chữ J nằm trong lòng khí quản

Luồn kim nong có kích cỡ lớn hơn kim chọc

để nong màng liên sụn khí quản

Rút kim nong, vẫn giữ dây dần đầu tù chữ J

trong lòng khí quản

Luồn dây nong trung bình theo dây dẫn

Luồn ống nong cỡ lớn vào theo dây nong

trung bình Kéo ống nong ra vào nhiều lần nhằm

mục đích nong rộng mô mềm từ da, mô trước

khí quản và nong màng liên sụn khí quản

Chuẩn bị sẵn canule kiểm tra bóng, xả bóng

sau khi kiểm tra, bôi thuốc bôi trơn vào canule

Luồn kim nong lớn vào lòng canule

Luốn bộ Canule- kim nong lớn- vào dây

nong lớn qua dây dẫn đưa vào lòng khí quản

Rút toàn bộ kim nong lớn - dây nong lớn-

dây dẫn

Canule còn nằm lại trong lòng khí quản

Bơm bóng Caunule

Kiểm tra xác định chắc chắn Canule dã vào lòng khi quản

Gắn nòng trong Cột dây cố định Canule quanh cổ Lót gạc quanh chân Canule

KẾT QUẢ

Tổng số: 15 trường hợp (nam: 9, nữ 6) Tuổi trung bình: 62 ± 10,6

Đặc điểm của phẫu thuật mở khí quản xuyên

da nong:

Chỉ định mở khí quản: đặt nội khí quản lâu ngày: 100 %

Thời gian mở khí quản xuyên da nong: 7 ± 1,8 phút

Lượng máu mất trung bình: không đáng kể,

vì không hút được, máu chỉ thấm vào gạc Chuyển sang mổ hở kinh điển: 1 trường hợp Các tai biến của phẫu thuật mở khí quản xuyên da nong

Chảy máu: 1 trường hợp Tràn khí dưới da: 1 trường hợp Nhiễm trùng vết mổ: không có trường hợp nào

Chảy máu

Chúng tôi có 1 trường hợp chảy máu sau mở khí quản xuyên da nong Trường hợp này đã dùng phương pháp băng ép nhưng không hiệu quả, nên chúng tôi quyết định mở rộng vết mở khí quản để cầm máu Chúng tôi rạch da ngang

cổ như mở khí quản kinh điển, bóc tách theo đường giữa bộc lộ sụn khí quản và canule, xác định được vị trí chảy máu từ động mạch ở màng liên sụn khí quản, đốt cầm máu

Tràn khí dưới da

Chúng tôi có 1 trường hợp tràn khí dưới da vùng cổ sau mở khí quản xuyên da nong, mức

độ tràn khí nhẹ, khu trú vùng cổ, không khó thở, không giảm Sp02/máu Chụp Xquang phổi

Trang 4

không có tràn khí trung thất, không tràn khí

màng phổi

BÀN LUẬN

Đặc điểm của phẫu thuật mở khí quản xuyên

da nong

Chỉ định

Chỉ định mổ của phẫu thuật mở khí quản

xuyên da nong có hạn hẹp hơn so với mở khí

quản hở kinh điển Những trường hợp cấp cứu

khẩn cấp thì mở khí quản xuyên da nong không

phải là chọn lựa đầu tiên(2,3) Những trường hợp

tuyến giáp to cũng không là chỉ định của phẫu

thuật mở khí quản xuyên da nong Tuy nhiên,

trong lô nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường

hợp tuyến giáp to vừa phải, chúng tôi vẫn sử

dụng được kỹ thuật mở khí quản xuyên da

nong Trường hợp thứ nhất chúng tôi chọn

phương pháp mở khí quản xuyên da nong cao,

tức ngang tầm sụn khí quản 1-2 Trường hợp thứ

hai, chúng tôi mở khí quản xuyên da nong thấp

ngang tầm màng liên sụn khí quản 3-4 Trong cả

2 trường hợp, chúng tôi đều tìm thấy khoảng

trực tiếp từ da đến khí quản là khoảng có thể

thực hiện được phương pháp xuyên da nong

Tuyến giáp to chưa vượt quá hõm ức không phải

là chống chỉ định tuyệt đối của mở khí quản

xuyên da nong

Chúng tôi có 1 trường hợp phải chuyển

sang mở khí quản hở kinh điển do mềm sụn

khí quản Trường hợp này sau khi đặt canule,

Sp02 có xu hướng giảm dần, kiểm tra không

thấy có khí vào ra canule, chứng tỏ canule

không vào được lòng khí quản, chúng tôi

quyết định chuyển sang mở khí quản hở kinh

điển Trong khi mổ hở, chúng tôi phát hiện

lòng khí quản xẹp lõm, bệnh sử cũng ghi nhận

đã rút nội khí quản 3 lần thất bại, điển hình

của mềm sụn khí quản

Về thời gian phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật của chúng tôi tương

đồng với thời gian phẫu thuật của các tác giả

khác khi sử dụng phương pháp mở khí quản

xuyên da nong Thời gian này là ngắn hơn thời gian mở khí quản hở kinh điển

Các tai biến của phẫu thuật mở khí quản xuyên da nong:

Chảy máu

Chảy máu trong khi mở khí quản xuyên da nong rất ít(3,4), xem như không đáng kể, thường chỉ ở mức độ chảy máu thấm gạc

Chảy máu sau mổ: chúng tôi có 1 trường hợp chảy máu sau mổ kéo dài, đòi hỏi phải mở hở cầm máu Trong khi mở rộng vết mổ, chúng tôi phát hiện chảy máu từ động mạch ở màng liên sụn khí quản, xử trí đốt cầm máu

Đã có công trình báo cáo về tai biến chảy máu ồ ạt đưa tới tử vong do tổn thương động mạch không tên ở bệnh nhân thở máy kéo dài Tai biến nguy hiểm chết người này có thể xảy ra

ở cả 2 trường hợp phẫu thuật mở khí quản hở kinh điển hoặc mở khí quản xuyên da nong(2) Tuy nhiên, do mẫu nghiên cứu của chúng tôi còn

ít nên chúng tôi chưa ghi nhận tai biến nặng nề này

Tràn khí dưới da

Tràn khí dưới da là tai biến thường gặp của

mở khí quản hở kinh điển, cũng như trong mở khí quản xuyên da nong Trong lô nghiên cứu của chúng tôi có 1 trường hợp tràn khí dưới da, tuy nhiên mức độ tràn khí là nhẹ, không gây khó thở, không giảm Sp02, chụp Xquang phổi không

có hình ảnh tràn khí màng phổi, cũng không có tràn khí trung thất

Tai biến khác

Các tai biến khác như tổn thương thành sau,

dò khí thực quản, tổn thương đỉnh phổi … là những tai biến có thể gặp ở cả 2 phương pháp

mở khí quản kinh điển và mở khí quản xuyên da nong(5)

KẾT LUẬN

Mở khí quản xuyên da nong là phương pháp mổ ít xâm lấn, với đường vào tối thiểu, sẹo mổ nhỏ, ít tổn thương mô, ít chảy máu, ít

bị nhiễm trùng vết mổ, bảo tồn các cấu trúc

Trang 5

giải phẫu là những ưu điểm của kỹ thuật này

Tuy nhiên, phương pháp mổ này cũng có

những tai biến như chảy máu sau mổ, tràn khí

dưới da như mổ hở kinh điển, và cũng có

trường hợp mổ xuyên da nong thất bại phải

chuyển sang mổ hở kinh điển

TÀI LIỆU THAM KHẢO

“Tóm tắt nghiên cứu hiệu quả của dụng cụ TC- 08 trong mở

khí quản cấp”, Y Học TP Hồ Chí Minh, Tập 14, Phụ bản của

Số 4, tr 28-33

Købke-Jacobsen K & Jensen R (2011) “Guidelines for Percutaneous

Dilatational Tracheostomy (PDT) from the Danish Society of

Intensive Care Medicine (DSIT) and the Danish Society of

Anesthesiology and Intensive Care Medicine (DASAIM)” Dan Med Bull;58(12):C4358, pp1-4

long-term complication of Percutaneous Dilatational Tracheostomy Case Report”, J Cardiovasc Thorac Res; Vol.1 (1): 33-36

percutaneous dilatational tracheostomy”, Br J Anaesth;90:

517-20

Ç, Medetoğlu A and Kamali S (2008) “Comparison of

tracheostomy”, M.E.J ANESTH 19 (5), pp 1055-1067

Ngày nhận bài báo: 26/11/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 16/12/2013 Ngày bài báo được đăng: 10/01/2014

Chưa đánh dấu TLTK trong bài

Ngày đăng: 20/01/2020, 14:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w