1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả hồi truyền máu bằng máy cell saver ở bệnh nhân mổ thai ngoài tử cung vỡ và nang hoàng thể vỡ xuất huyết

5 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 309,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phương pháp hồi truyền máu bằng máy cell saver trong phẫu thuật thai ngoài tử cung vỡ và nang hoàng thể vỡ xuất huyết. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

Ở BỆNH NHÂN MỔ THAI NGOÀI TỬ CUNG VỠ  

VÀ NANG HOÀNG THỂ VỠ XUẤT HUYẾT 

Nguyễn Thị Thanh* 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Thai ngoài tử cung vỡ (TNTC) và nang hoàng thể vỡ xuất huyết (NHTVXH) gây xuất huyết nội, 

phải mổ cấp cứu và truyền máu đồng nhóm. Hồi truyền máu để giảm các biến chứng do truyền máu đồng nhóm.  

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phương pháp hồi truyền máu bằng máy Cell Saver trong 

phẫu thuật thai ngoài tử cung vỡ và nang hoàng thể vỡ xuất huyết.  

Phương pháp pháp nghiên cứu: tiến cứu, mô tả loạt ca.  

Kết  quả: Trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2013 tại Bênh viện Nhân Dân Gia Định có 129 trường 

hợp  hồi  truyền  máu  bằng  máy  Cell  Saver  bao  gồm  115  trường  hợp  vỡ  TNTC  và  14  trường  hợp  NHTVXH,  trong đó có 85 BN (66%) bị sốc mất máu. Lượng máu mất trung bình là 1377 ± 394 ml, lượng máu thu hồi  trung bình là 1018 ± 277 ml, lượng máu hồi truyền trung bình là 576 ± 191 ml. Nồng độ hemoglobin (Hb) sau  hồi truyền máu là 9 g/dl so với 8,5 g/dl trước khi hồi truyền (p < 0,0001), có rối loạn đông máu và giảm tiểu cầu  nhẹ sau mổ (p <0,0001). Có 9 trường hợp (7%) truyền thêm máu đồng nhóm và huyết tương đông lạnh sau mổ.  Thời gian từ lúc mổ đến khi có máu hồi truyền là 24 ± 9 phút. Không có biến chứng sau mổ.  

Kết luận: Hồi truyền máu bằng máy cell saver giảm truyền máu đồng nhóm cho bệnh nhân bị thai ngoài tử 

cung vỡ hay nang hoàng thể vỡ xuất huyết. 

Từ khóa: Hồi truyền máu, cell saver, thai ngoài tử cung, nang hoàng thể vỡ.  

ABSTRACT 

EFFECTIVENESS OF INTRAOPERATIVE AUTOLOGOUS BLOOD TRANSFUSION BY CELL SAVER  DEVICE FOR RUPTURED ECTOPIC PREGNANCY AND OVARIAN CYST BLEEDING 

Nguyen Thi Thanh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 71‐75 

Background:  Hemoperitoneum  due  to  ruptured  ectopic  pregnancy  and  ovarian  cyst  bleeding  required 

emergent surgery and blood transfusion. Autologous transfusion is useful to reduce the risk of allogeneic blood 

transfusion. 

Objectives:  Our  purpose  was  to  evaluate  the  efficacy  and  the  safety  of  intraoperative  autologous  blood 

transfusion by cell saver device during surgery for hemoperitoneum in ruptured ectopic pregnancy and ovarian  cyst bleeding.  

Method: prospective, descriptive case series.  

Results: From 2008 to 2013 at Gia Dinh Hospital, 129 patients were received autologous blood transfusion 

by Cell Saver Haemonetic 5+ R included 115 cases of ruptured ectopic pregnancy and 14 cases of ovarian cyst  bleeding.  Eighty  five  patients  (66  %)  were  presented  hemorrhagic  shock  at  admission.  The  mean  of  blood  loss  volume was 1377 ± 394 ml, the mean of blood withdrawn  volume  was  1018  ±  277  ml,  the  mean  of  reinfused  processed blood volume was 576 ± 191 ml. The hemoglobin concentration (Hb) after autologous blood transfuson  was 9 g/dl compared to 8.5 g/dl before autologous blood transfusion(p < 0.0001). Mild postoperative coagulopathy 

* Bộ môn Gây mê Hồi sức, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch  

Trang 2

and thrombocytopenia was noticed (p < 0.0001). Night patients (7 %) received additional allogeneic packed red  blood cell and fresh frozen plasma transfusion. The delay time from incision to autologous blood tranfusion was 

24 ± 9 minutes. No adversed events or complications during surgery and postoperative period.  

Conclusion:  Intraoperative  autologous  blood  transfuson  by  Cell  Saver  machine  reduced  the  need  of 

allogeneic blood transfusion in patients having ruptured etopic pregnancy and ovarian cyst bleeding. 

Keywords: autologous blood transfusion, cell saver, ectopic pregnancy, ovarian cyst bleeding. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Thai ngoài tử cung vỡ và nang hoàng thể vỡ 

xuất  huyết  là  cấp  cứu  ngoại  khoa  của  phụ  nữ 

trong  độ  tuổi  sinh  đẻ(4).  Lượng  máu  mất  nhiều 

đòi  hỏi  phẫu  thuật  cầm  máu  và  truyền  máu. 

Trong tình huống khẩn cấp này, lượng máu mất 

có  thể  bù  bằng  truyền  máu  đồng  nhóm  lấy  từ 

ngân hàng hoặc truyền máu tự thân bằng chính 

máu  của  bệnh  nhân.  Truyền  máu  tự  thân  đã 

được thực hiện thành công trong nhiều lĩnh vực 

và  càng  ngày  được  chỉ  định  rộng  rãi(3).  Truyền 

máu đồng nhóm có những nguy cơ: nhầm nhóm 

máu,  tán  huyết,  sốt  không  do  tán  huyết,  phản 

ứng  phản  vệ,  sốc  phản  vệ,  nhiễm  trùng  và  các 

phản ứng miễn dịch(6,9)  Bên cạnh đó, việc tuân 

thủ các thủ tục và qui trình truyền máu phải mất 

hơn 45 phút (tính từ lúc lấy mẫu xét nghiệm, gửi 

mẫu làm phản ứng hòa hợp nhanh, đợi kết quả, 

lấy máu về) mới có máu truyền cho bệnh nhân(1). 

Trước đây, việc hồi truyền máu trong phẫu 

thuật  vỡ  thai  ngoài  tử  cung  thường  được  thực 

hiện bằng cách lấy máu thu hồi trong ổ bụng và 

lọc  qua  8  lớp  gạc,  truyền  lại  cho  BN  qua  dây 

truyền máu. Phương pháp này không lấy hết các 

mảnh vụn hồng cầu vỡ, hemoglobine tự do, chất 

tiêu sợi huyết … Phương pháp hồi truyền máu 

bằng phương pháp Cell saver thu hồi máu qua 

ống hút có tráng heparine, lọc, rửa và ly tâm để 

lấy  lại  hồng  cầu  truyền  cho  BN.  Khoa  Phẫu 

Thuật Gây Mê Hồi Sức bệnh viện Nhân Dân Gia 

Định bắt đầu áp dụng phương pháp hồi truyền 

máu bằng máy Cell Saver HAEMONETIC 5+ từ 

tháng năm 2008 đến nay.  

Chúng  tôi  thực  hiện  nghiên  cứu  này  với 

mục tiêu đánh giá hiệu quả và tính an toàn của 

phương  pháp  hồi  truyền  máu  bằng  máy  Cell 

saver  thông  qua  lượng  máu  hồi  truyền,  chế 

phẩm máu cần truyền thêm và các biến chứng  sau  mổ  trong  hồi  sức  BN  phẫu  thuật  do  thai  ngoài  tử  cung  vỡ  và  nang  hoàng  thể  vỡ  xuất  huyết.  

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Thiết kế nghiên cứu 

Tiến cứu, mô tả loạt ca. 

Nghiên  cứu  được  Hội  đồng  Khoa  Học  và  Hội  đồng  y  đức  của  Bệnh  viện  Nhân  Dân  Gia  Định cho phép và sự đồng ý tham gia của bệnh  nhân.  Tiêu  chuẩn  chọn  mẫu:  tất  cả  các  trường  hợp  mổ  thai  ngoài  tử  cung  vỡ  và  xuất  huyết  nang hoàng thể có sốc hoặc siêu âm dịch ổ bụng  trung  bình,  không  mắc  các  bệnh  truyền  nhiễm  hoặc nhiễm trùng toàn thân. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Lượng máu thu thập vào bình hút vào máy  Cell Saver không đủ 400 ml để khởi động máy.  Biến số nghiên cứu chính là lượng máu hồi 

truyền lại cho BN.  

Biến số nghiên cứu phụ 

Thời  gian  chờ  hồi  truyền  máu:  thời  gian  từ  lúc phẫu thuật viên bắt đầu rạch da cho đến khi  bệnh nhân được truyền máu hoàn hồi. 

Lượng máu mất: tổng lượng máu  thu  thập,  máu cục và máu trong gạc. 

Lượng  máu  thu  thập:  lượng  máu  hút  vào  bình cell saver sau khi đã trừ lượng nước muối 

có pha heparin. 

Nồng  độ  hemoglobine,  xét  nghiệm  đông  máu  (INR,  aPTT,  fibrinogen,  tiểu  cầu)  trước  và  sau hồi truyền máu. 

Số  lượng  máu  và  chế  phẩm  máu  cần  truyền thêm. 

Trang 3

Biến  chứng  sau  mổ:  suy  thận,  thở  máy, 

nhiễm trùng huyết, tử vong. 

Phương pháp thu thập số liệu 

Số liệu thu thập vào bảng câu hỏi soạn sẵn, 

mỗi trường hợp một phiếu. 

Xử lý số liệu 

Số  liệu  được  phân  tích  bằng  phần  mềm 

SPSS 15.0. Các biến số định tính (tỷ lệ sốc mất 

máu,  tỷ  lệ  loại  bệnh  lý,  tỷ  lệ  truyền  máu  sau 

mổ,  biến  chứng  sau  mổ)  được  trình  bày  bằng 

tần  số  và  tỷ  lệ  %.  Các  biến  định  lượng  (tuổi, 

thời gian chờ, lượng máu thu thập, lượng máu 

mất,  lượng  máu  hồi  truyền,  các  chỉ  số  xét 

nghiệm trước và sau mổ) được trình bày bằng 

giá  trị  trung  bình  ±  độ  lệch  chuẩn,  giá  trị  nhỏ 

nhất, giá trị lớn nhất, so sánh bằng test T. Có ý 

nghĩa thống kê khi p<0,05.  

KẾT QUẢ 

Từ  năm  2008  đến  2013,  chúng  tôi  đã  thực 

hiện 129 trường hợp hồi truyền máu bằng máy 

cell  saver,  trong  đó  thai  ngoài  tử  cung  vỡ  là 

115 trường hợp (89%) và nang hoàng thể xuất 

huyết  là  14  trường  hợp  (11%).  Tỷ  lệ  sốc  mất 

máu khi nhập viện là 85 trường hợp (66%) bao 

gồm thai ngoài tử cung vỡ gây sốc mất máu có 

75  trường  hợp  (65%),  nang  hoàng  thể  xuất 

huyết có sốc mất máu là 10 trường hợp (71%). 

Tuổi  trung  bình  30  ±  6  tuổi,  lớn  nhất  44  tuổi, 

nhỏ nhất 19 tuổi.  

Thời gian từ lúc mổ đến khi bắt đầu truyền 

máu  trung  bình  là  24  ±  9  phút,  ngắn  nhất  10 

phút, dài nhất là 40 phút. 

Bảng 1: Lượng máu mất, lượng máu thu hồi và 

lượng máu truyền 

Đặc điểm Trung bình

± ĐLC

Nhỏ nhất

Lớn nhất

Tỷ lệ truyền máu và chế phẩm máu sau mổ: 

có 9 trường hợp (7%) cần truyền thêm máu sau 

mổ,  trong  đó:  hồng  cầu  lắng  (1  trường  hợp), 

hồng  cầu  lắng  và  huyết  tương  đông  lạnh  (2 

trường  hợp)  và  chỉ  truyền  huyết  tương  đông 

lạnh  (6  trường  hợp).  Số  đơn  vị  hồng  cầu  lắng  được truyền: 01 đơn vị (1 trường hợp), 2 đơn vị  (2  trường  hợp).  Số  đơn  vị  huyết  tương  đông  lạnh được truyền: 2 đơn vị (2 trường hợp), 4 đơn 

vị (6 trường hợp). 

Bảng 2: Kết quả xét nghiệm đông cầm máu 

Đặc điểm Trước mổ Sau hồi truyền

máu

p

Sau truyền máu hoàn hồi có sự cải thiện rõ rệt về Hb, sự  khác biệt có ý nghĩa thống kê. 

Tiểu cầu và chức năng đông máu có rối loạn, sự khác biệt 

có ý nghĩa thống kê. 

Không  có  biến  chứng  sau  mổ  như:  nhiễm  trùng, suy hô hấp cần thở máy, tử vong. 

BÀN LUẬN 

Truyền  máu  tự  thân  lần  đầu  tiên  thực  hiện  vào năm 1818 bởi Blundell và sau đó Highmore 

áp  dụng  trong  xử  trí  chảy  máu  sau  sanh  năm 

1874. Năm 1914, Theis thực hiện truyền máu tự  thân ngay trong mổ thai ngoài tử cung vỡ. Năm 

1968 hệ thống máy cell saver ra đời, ngày càng  được  áp  dụng  rộng  rãi  và  thành  công  trong  phẫu  thuật  như  tim,  mạch  máu,  phẫu  thuật  chỉnh  hình,  chấn  thương,  thần  kinh  và  ghép  gan(5,7).  Truyền  lại  bằng  chính  máu  của  bệnh 

nhân,  tránh  những  phản  ứng  gây  ra  do  miễn  dịch.  Tại  Việt  Nam,  Bệnh  viện  Nhân  Dân  Gia  Định  bắt  đầu  thực  hiện  hồi  truyền  máu  bằng  máy  cell  saver  từ  năm  2008  và  là  một  trong  những cơ sở đầu tiên áp dụng kĩ thuật này(2)

Nghiên cứu chúng tôi thực hiện trên phẫu  thuật thai ngoài tử cung và nang hoàng thể vỡ  xuất  huyết,  là  hai  cấp  cứu  phụ  khoa  có  nguy 

cơ  mất  máu  nhiều  và  thường  gặp,  bệnh  nhân  trong độ tuổi sinh sản. Tổng số có 129 trường  hợp, trong đó thai ngoài tử cung chiếm 89% và  nang  hoàng  thể  vỡ  chiếm  11%.  Tất  cả  các  trường hợp đều mổ mở và 66% trường hợp có  sốc trước khi vào phòng mổ. Trung bình tổng 

Trang 4

lượng  thu  hồi  1018  ml,  tổng  lượng  hồi  truyền 

là  576  ml.  So  sánh  với  nghiên  cứu  của  tác  giả 

Takashi Yamada (2003) trên 18 bệnh nhân thai 

ngoài  tử  cung  và  nang  hoàng  thể  vỡ  xuất 

huyết được mổ nội soi trong khoảng thời gian 

31 tháng(10) và nghiên cứu của Akihiro Takeda 

(2006)  trên  112  bệnh  nhân  thai  ngoài  tử  cung 

được phẫu thuật từ năm 2000 đến năm 2005(8), 

nhận thấy số lượng máu mất trong nghiên cứu 

của  chúng  tôi  là  nhiều  hơn,  nhưng  số  lượng 

máu  hồi  truyền  lại  thấp  hơn  (bảng  3).  Bởi  vì 

lượng máu hồi truyền phụ thuộc vào máu thu 

thập được chứ không phải là tổng lượng máu 

mất của bệnh nhân, thời gian xuất huyết càng 

lâu  mức  độ  tán  huyết  càng  nhiều  thì  lượng 

máu  hồi  truyền  sẽ  càng  ít,  các  trường  hợp 

trong nghiên cứu của chúng tôi thời gian xuất 

huyết  lâu,  phần  lớn  đã  có  sốc  khi  vào  phòng 

mổ  nên  lượng  máu  thu  thập  không  bằng  các 

nghiên cứu của các tác giả khác. Thêm vào đó 

nhiều  máu  cục  nên  lượng  máu  thu  hồi  trở  lại 

cũng ít hơn. 

Bảng 3: So sánh kết quả lượng máu mất và lượng 

máu hồi truyền. 

Lượng máu mất (ml)

Lượng máu hồi truyền (ml)

Takashi Yamada và cs

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  không  có 

trường hợp nào có tai biến hay biến chứng xảy 

ra. Các bệnh nhân được điều trị ở khu hồi tỉnh 

và  chuyển  về  khoa  phòng  trong  vòng  24  giờ. 

Điều này cũng tương đồng với kết quả của các 

nghiên cứu khác. 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  nồng 

độ  Hb  máu  sau  hồi  truyền  có  cải  thiện  so  với 

trước mổ (9 g/dl so với 8,5 g/dl). Có tình trạng 

thay  đổi  các  xét  nghiệm  đông  máu  và  giảm 

tiểu  cầu  sau  hồi  truyền  máu  nhưng  không  có 

trường  hợp  nào  rối  loạn  đông  máu  và  giảm 

tiểu  cầu  nghiêm  trọng.  Việc  thay  đổi  này  do 

tình  trạng  pha  loãng  máu,  chủ  yếu  xẩy  ra  do 

yếu tố ngoại sinh (INR sau mổ: 1,5), nội sinh ít  ảnh  hưởng  (sau  mổ  aPTT:  30,4”).  Nguyên  nhân là máy Cell Saver quay ly tâm chỉ giữ lại  hồng cầu nguyên vẹn, loại bỏ các hồng cầu vỡ 

và huyết tương, máu được truyền chỉ có hồng  cầu,  rất  ít  tiểu  cầu  và  huyết  tương.  Chỉ  có  9  /129  trường  hợp  (chiếm  7%)  cần  truyền  thêm  hồng  cầu  lắng  và  huyết  tương  đông  lạnh  sau 

mổ. Trong đó phần lớn là truyền huyết tương  đông  lạnh,  chỉ  có  3  trường  hợp  truyền  hồng  cầu lắng vì Hb sau mổ < 7,0 g/l. 

Ngoài ra chúng tôi ghi nhận thời gian từ lúc 

mổ cho đến khi bắt đầu truyền máu là 24 phút, 

so sánh với truyền máu đồng loại thông thường 

là  ngắn  hơn  nên  thuận  lợi  trong  quá  trình  hồi  sức  bệnh  nhân.  Đồng  thời  tránh  được  các  biến  chứng  truyền  máu  nguy  hiểm,  đáp  ứng  được  yêu cầu là phải nhanh chóng bù lại lượng máu  mất cho bệnh nhân. Điều này thực sự có ý nghĩa  quan  trọng  trên  đối  tượng  là  phụ  nữ  trong  độ  tuổi  sinh  sản,  tránh  các  bệnh  lý  miễn  dịch  do  truyền máu. 

Hệ  thống  máy  cell  saver  được  cài  đặt  sẵn  nên  việc  sử  dụng  và  tập  huấn  tương  đối  dễ  dàng. Trong cuộc mổ chỉ cần một bác sĩ và một  điều dưỡng là có thể thực hiện được từ việc gây 

mê, hồi sức và vận hành máy.  

KẾT LUẬN 

Hồi  truyền  máu  bằng  phương  pháp  cell  saver trong mổ thai ngoài tử cung vỡ và nang  hoàng thể vỡ xuất huyết là phương pháp hiệu  quả, an toàn, thời gian chuẩn bị ngắn, dễ thực  hiện,  giảm  nhu  cầu  truyền  máu  đồng  nhóm  cho phụ nữ trẻ trong độ tuổi sinh sản.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bộ  Y  Tế  (2007)  “Dự  trù,  cung  cấp  máu  và  chế  phẩm  máu.”  Quy chế truyền máu, 06/2007: 14‐6. 

2 Đinh  Hữu  Hào,  Lương  Hoàng  Duy,  Hồ  Minh  Văn  và  Nguyễn Thị Thanh (2009) “Khảo sát tình hình sử dụng máy  cell  saver  trong  phẫu  thuật  tại  bệnh  viện  Nhân  Dân  Gia 

Định.” Y Học TP. Hồ chí Minh, 13(6): 231‐235. 

3 Esper  SA,  Waters  JH  (2011)  “Intra‐operative  cell  salvage:a  fresh  look  at  the  indications  and  contraindications.”  Blood  Transfusion, 9(2):139‐147.  

4 Lewis  G  (2004)  “Introdution  and  key  finding.  Why 

mothers die 2000 ‐ 2002 the sixth report of the Confidential 

Trang 5

25‐58. 

5 Louage  S  and  Van  de  Velde  M  (2010)  “Cell  salvage  in 

obstetric anesthesia.” Acta Anaesth. Belgium, 61:13‐24. 

6 Maxwell MJ, Matthew JAW (2006) “ Complications of blood 

tranfusion.”  Continuing  Education  in  Anaesthesia,  Critical 

Care & Pain, 6: 225‐29. 

7 Selo‐Ojeme  DO  (2001)  “Intraoperative  blood  salvage  and 

autotransfusion  in  the  management  of  ruptured  ectopic 

pregnancy:  a  review.”  East  African  Medical  Journal,  78(9): 

465‐7. 

8 Takeda  A,  Manabe  S,  Takashi  M,  and  Nakamura  H  (2006) 

“Management  of  patients  with  ectopic  pregnancy  with 

massive  hemoperitoneum  by  laparoscopic  surgery  with 

intraoperative  autologous  blood  transfusion.”  Journal  of  Minimally Invasive Gynecology, 13: 43‐8. 

9 Taylor  C,  Cohen  H,  Mold  D  (2009)  “Annual  report  2008.”  Serious Hazards of Tranfusion, 12, 61‐145. 

10 Yamada  T,  Okamoto  Y,  Kasamatsu  H,  Mori  H  (2003) 

“Intraoperative  autologous  blood  transfusion  for  hemoperitoneum  resulting  from  ectopic  pregnancy  or  ovarian bleeding during laparoscopic surgery.” Journal of the  society of laparoendoscpic surgeons, 7(2): 97‐100. 

  Ngày nhận bài báo      : 01/11/2013   Ngày phản biện nhận xét bài báo  : 29/11/2013  Ngày bài báo được đăng    : 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 13:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w