Mục đích nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự biểu hiện của kháng nguyên P53 đối với giải phẫu bệnh, lâm sàng, hình ảnh học trên bệnh nhân u ác tính vùng mũi xoang. Nghiên cứu thực hiện tại 41 trường hợp u ác tính vùng mũi xoang được phẫu thuật tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 10/2010 đến tháng 3/2012.
Trang 1KHẢO SÁT LÂM SÀNG VÀ HÓA MÔ MIỄN DỊCH P53
TRÊN BỆNH NHÂN U ÁC TÍNH VÙNG MŨI XOANG
Nguyễn Văn Minh * , Lâm Huyền Trân ** , Hứa Thị Ngọc Hà***
TÓM TẮT
Mục đích nghiên cứu: Nhằm tìm hiểu sự biểu hiện của kháng nguyên p53 đối với giải phẫu bệnh, lâm sàng, hình ảnh học trên bệnh nhân u ác tính vùng mũi xoang
Phương pháp nghiên cứu: 41 trường hợp u ác tính vùng mũi xoang được phẫu thuật tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 10/2010 đến tháng 3/2012 Sau đó được nghiên cứu hóa mô miễn dịch p53
Kết quả: Tỷ lệ dương tính của kháng nguyên p53 trong u ác tính vùng mũi xoang là 34,1%, trong đó p53(1+) là 17,1%, p53(2+) là 4,8%, p53(3+) là 12,2% và p53 âm tính là 65,9% vì u ác tính vùng mũi xoang có nhiều loại u ác như: u nguyên bào thần kinh, lymphôm lan tỏa tế bào to dòng B, sarcôm, carcinôm tuyến dạng nang và carcinôm tuyến biệt hóa
Kết luận: Tỷ lệ dương tính của p53 với yếu tố nguy cơ, với vị trí giải phẫu học của khối u, với hạch di căn, với giai đoạn lâm sàng, với loại mô học Có sự tương quan giữa hóa mô miễn dịch P53 trong u ác tính vùng mũi xoang là sự tương quan không chặt chẽ Do đó, hóa mô miễn dịch P53 không có ý nghĩa trong u ác tính vùng mũi xoang Riêng với u ác tính vùng mũi xoang có giải phẫu bệnh vi thể là carcinôm tế bào gai thì hóa mô miễn dịch P53 rất có ý nghĩa dù carcinôm tế bào gai biệt hóa ở mức độ nào
Từ khóa: Đột biến, u ác tính vùng mũi xoang
ABSTRACT
CLINICAL STUDY AND IMMUNOHISTOCHEMISTRY P53 IN PATIENTS WITH MALIGNANCIES OF THE
NOSE AND PARANASAL SINUSES
Nguyen Van Minh, Lam Huyen Tran, Hua Thi Ngoc Ha
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 79 - 84
Objective: Study the expression of p53 in immunohistochemistry, clinical and imaging findings, in patients with the malignancies of the nose and paranasal sinuses
Materials and Methods: 41 cases of malignancies of the nose and paranasal sinuses were operated at Cho Ray Hospital from 10/2010 to 3/2012 Immunohistochemistry was done to investigate the expression of p53 Results: The expression of p53 was 34.1% in the total specimens, in which p53(1 +) was 17.1%, p53 (2 +) was 4.8%, p53 (3 +) was 12.2% and negative p53 was 65.9% Malignancies of the nose and paranasal sinuses have many kinds of histopathology: cancer of nerve cell, diffuse B cell lymphoma, sarcoma, adenoid cystic carcinoma and undifferentiated adenocarcinomas
Conclusion: The positive rate of p53 with risk factors, with the anatomical location of the tumor, lymph nodes, with clinical stage, with histological type Correlation between immunohistochemistry P53 and malignancies of the nose and paranasal sinuses are not closely correlated Therefore, immunohistochemistry P53 was insignificant in the cancer of the nose and paranasal sinuses except there was a significant expression of P53
* BV Điều Dưỡng PHCN- ĐTBNN, TP HCM ** Bộ môn Tai Mũi Họng Đại học Y Dược TP HCM
*** Bộ môn Giải Phẫu Bệnh - Đại học Y Dược TP HCM
Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Văn Minh ĐT: 0908368385 Email: bsnguyenminh@yahoo.com.vn
Trang 2in differentiated squamous cell carcinoma
Keywords: Mutant, malignancies of the nose and paranasal sinuses
ĐẶT VẤN ĐỀ
U ác tính vùng mũi xoang là bệnh nguy
hiểm, nguyên nhân bệnh sinh chưa rõ ràng dù
có được điều trị thì cũng ảnh hưởng đến chất
lượng sống, hiếm gặp chiếm tỷ lệ 1/200.000
dân/năm, 1% ung thư toàn thân, 3% ung thư
đường hô hấp trên, khả năng xâm lấn vào cơ
quan lân cận và nội sọ nguy cơ gây tử vong cao
Khó phát hiện ở giai đọan sớm cần kết hợp lâm
sàng, nội soi, hình ảnh học, giải phẫu bệnh và
hóa mô miễn dịch(2,3) Cho đến nay, đã có nhiều
công trình nghiên cứu về hóa mô miễn dịch p53
ở các mô khác nhau Tuy nhiên việc ứng dụng
hóa mô miễn dịch trong nghiên cứu u ác tính
vùng mũi xoang chưa có nhiều Riêng ở Việt
Nam nghiên cứu theo hướng này mới chỉ là
bước đầu Vì vậy, nghiên cứu này được tiến
hành nhằm tìm hiểu đặc điểm biểu hiện p53 và
mối tương quan với lâm sàng và hình ảnh học
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện ở 41 trường hợp
đã được phẫu thuật tại Bệnh viện Chợ Rẫy trong,
thời gian 10/2010 – 3/2012 Bệnh nhân có đầy đủ
các xét nghiệm tiền phẫu, nội soi, CT Scan, xét
nghiệm hóa mô miễn dịch p53 Tuổi của bệnh
nhân (trung bình 50,37 ± 16,8)
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương
pháp mô tả cắt ngang Các bệnh phẩm sau phẫu
thuật u ác tính vùng mũi xoang được quan sát và
mô tả về vị trí, kích thước, sau đó phẫu tích lấy
bệnh phẩm từ vùng tổn thương cố định trong
dung dịch formol buffer 10% gửi cho Bộ môn
giải phẫu bệnh trong vòng 24 h Nhuộm hóa mô
miễn dịch p53 với kháng thể đơn dòng của chuột
(BP53 – 11) của hãng Ventana cho mẫu mô được
cố định trong formol đệm trung tính và vùi
trong paraffin Quy trình nhuộm hóa mô miễn
dịch p53 được thực hiện bằng máy nhuộm tự động của hãng Ventana (Mỹ)
Đánh giá kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch p53:
Được xác định là dương tính khi nhân tế bào bắt màu nâu Mức độ dương tính được đánh giá dựa trên tỉ lệ % số tế bào bướu nhuộm dương tính trên tổng số tế bào bướu Tỉ lệ này được tính bằng cách đếm số tế bào bướu nhuộm dương tính và tổng số tế bào bướu trong 5 vi trường (x200) Thang điểm đánh giá biểu hiện p53 được chia như sau:
Bảng 1: Thang điểm đánh giá biểu hiện p53
Âm tính Dương tính
% 0-10% 11- 30% 31- 50% 51- 100% KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu chúng tôi thu được kết quả như sau:
GPB vi thể
17 bệnh nhân (41,4%) là carcinôm tb gai, 18
bn (44%) bệnh nhân bị carcinôm tuyến 6 bệnh nhân (14,6%) còn lại: Melanoma 1 bệnh nhân, u nguyên bào thần kinh 1 bệnh nhân, Lymphoma lan tỏa tế bào to dòng B gặp ở 1 bệnh nhân, Sarcoma không biệt hóa có 1 bệnh nhân và sarcoma sụn là 2 bệnh nhân
Biểu đồ 1: Giải phẫu bệnh
Hóa mô miễn dịch P53
Trong nghiên cứu của chúng tôi: 27 trường hợp (65,9%) âm tính với protein P53, có 14 bệnh nhân (34,1%) còn lại cho kết quả dương tính với protein P53 trong đó P53 (1+) có 7 bệnh nhân
Trang 3(17,1%), P53 (2+) có 2 bệnh nhân (4,8%) và P53
(3+) có 5 bệnh nhân (12,2%)
Biểu đồ 2: Hóa mô miễn dịch P53
Đối chiếu vi thể và hóa mô miễn dịch (P53)
Bảng 2: Đối chiếu vi thể và hóa mô miễn dịch P53
Melanoma 1 0 0 0 1
U nguyên bào thần kinh 1 0 0 0 1
Lymphôm lan tỏa tế bào to
Carcinôm tế bào gai biệt
hóa kém 0 5 0 1 6
Carcinôm tế bào gai biệt
hóa vừa 3 2 2 4 11
Sarcôm không biệt hóa 1 0 0 0 1
Sarcôm sụn 2 0 0 0 2
Carcinôm bọc dạng tuyến 15 0 0 0 15
Carcinôm tuyến biệt hóa
Tổng 27 7 2 5 41
Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi:
17 bệnh nhân (27,9%) có giải phẫu bệnh là
carcinôm tế bào gai trong đó có 14 bệnh nhân
(82,4%) dương tính với protein P53, có 3 trong 17
bệnh nhân bị carcinôm tế bào gai không dương
tính với protein P53 và cả 3 bệnh nhân này đều
là carcinôm tế bào gai biệt hóa vừa Các dạng u
ác tính vùng mũi xoang dạng khác (kể cả
carcinôm tuyến) đều âm tính với protein P53
So sánh mẫu nghiên cứu với nhóm
carcinôm tế bào gai và nhóm p53 (+)
So sánh sự di căn hạch
Số bệnh nhân có hạch và không có hạch ở
mẫu nghiên cứu (u ác tính vùng mũi xoang
các loại gồm 41 bệnh nhân), nhóm carcinôm tế
bào gai gồm 17 bệnh nhân và nhóm P53 (+) có
14 bệnh nhân (Bảng 3) Tỉ lệ hạch ở nhóm
carcinôm tế bào gai và nhóm P53 (+) hơi cao hơn tỉ lệ của lô nghiên cứu (Biểu đồ 3), tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống
kê (p > 0,05)
Bảng3: So sánh sự di căn hạch
U hốc mũi Car tế bào gai P53 (+)
Biểu đồ 3: So sánh sự di căn hạch
So sánh tổn thương tại chỗ Bảng4: So sánh tổn thương tại chỗ
U hốc mũi Car tế bào gai P53 (+)
Biểu đồ 4: So sánh tổn thương tại chỗ
Nhận xét: Theo bảng cho chúng ta xem số
bệnh nhân có tổn thương thượng tầng hay trung tầng hoặc cả thượng tầng và trung tầng ở mẫu nghiên cứu (u ác tính vùng mũi xoang gồm 41 bệnh nhân), nhóm carcinôm tế bào gai gồm 17 bệnh nhân và nhóm P53 (+) có 14 bệnh nhân Biểu đồ cho chúng ta xem tỉ lệ của các đối tượng trên, chúng tôi nhận thấy các tỉ lệ này có chênh nhau chút ít và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Trang 4So sánh tổn thương xâm lấn
Bảng 5: So sánh tổn thương xâm lấn
U hốc mũi Car tế bào gai P53 (+)
Biểu đồ 5: So sánh tổn thương xâm lấn
Nhận xét: Bảng cho chúng ta xem số bệnh
nhân có tổn thương xâm lấn ở mẫu nghiên cứu
(u ác tính vùng mũi xoang gồm 41 bệnh nhân),
nhóm carcinôm tế bào gai gồm 17 bệnh nhân và
nhóm P53 (+) có 14 bệnh nhân Biểu đồ cho
chúng ta xem tỉ lệ của các đối tượng trên, chúng
tôi nhận thấy các tỉ lệ này có chênh nhau chút ít
tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa
thống kê (p > 0.05)
Tương quan giữa u ác tính vùng mũi
xoang và hóa mô miễn dịch
Biểu đồ 6: So sánh tương quan u ác tính vùng mũi
xoang và hóa mô miễn dịch
Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi
gồm 41 bệnh nhân bị u ác tính vùng mũi xoang với nhiều dạng ung thư khác nhau Chúng tôi ghi nhận có 24 bệnh nhân bị u ác tính vùng mũi xoang không phải carcinôm tế bào gai và âm tính với P53, 3 bệnh nhân bị carcinôm tế bào gai biệt hóa vừa cũng âm tính với p53, 14 bệnh nhân
bị carcinôm còn lại đều dương tính với protein P53 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (χ2 = 30,1; p = 0.001) Chúng tôi ghi nhận có mối tương quan giữa carcinôm tế bào gai và protein P53 với
hệ số tương quan r = 0,86, đây là mối tương quan thuận với mức độ tương quan rất chặt
BÀN LUẬN
Bảng 6: So sánh tỷ lệ P53 của chúng tôi và các tác giả khác
CÁC TÁC GIẢ Năm Quốc gia P53 (+) P53 (-)
Anwar và cs (1) 1993 Nhật Bản 28 (65,1%) 15 (34,9%)
Suzuki và cs(10) 1994 Nhật Bản 23 (62,2%) 14 (37,8%)
Fouret và cs (4) 1995 Pháp 31 (54,4%) 26 (45,6%)
Salam và cs(9) 1995 Mỹ 50 (57,5%) 47 (42,5%)
Tan và cộng sự (11) 1997 Mỹ 38 (42,2%) 52 (57,8%)
Fracchiola và cs(7) 1999 Ý 26 (52%) 24 (48%)
Lê Nguyên Hòa (5) 2011 Việt Nam 24 (61,5%) 15 (37,5%)
Chúng tôi 2012 Việt Nam 14 (82,3%) 3 (17,7%)
Nhìn chung, lô nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỉ lệ tương đối cao về biểu hiện protein p53 trong u ác tính vùng mũi xoang so với các tác giả khác
Bảng 7: Phân bố tỉ lệ p53 với loại carcinôm tế bào gai và các tác giả
Loại mô học Các nghiên cứu
Hóa mô miễn dich p53
Carcinôm tế bào gai biệt hóa cao
Carcinôm tế bào gai biệt hóa vừa
Carcinôm tế bào gai biệt hóa kém
Tổng p53(-) 8 (53,4%) 4 (21,1%) 3 (33,3%) 15 p53(1+) 2 (13,3%) 6 (31,5%) 3 (33,3%) 11 p53(2+) 2 (13,3%) 5 (26,3%) 2 (22,2%) 9
Nghiên cứu của Anwar và cs
(1993)(1)
p53(3+) 3 (20%) 4 (21,1%) 1 (11,1%) 8
Trang 5Loại mô học Các nghiên cứu
Hóa mô miễn dich p53
Carcinôm tế bào gai biệt hóa cao
Carcinôm tế bào gai biệt hóa vừa
Carcinôm tế bào gai biệt hóa kém
Tổng
Nghiên cứu của Lê Nguyên Hòa
(2011) (5)
Chúng tôi (2012)
Qua những nghiên cứu trên, chúng tôi nhận
thấy được rằng đối với u ác tính vùng mũi xoang
và hóa mô miễn dịch p53 có thể dương tính hoặc
có thể âm tính Tuy nhiên, trong nghiên cứu của
chúng tôi, chúng tôi đã đưa vào tất cả các dạng
vi thể của khối u như: carcinôm tế bào gai,
carcinôm tuyến, Melanôm, u nguyên bào thần
kinh, Lymphôm lan tỏa tế bào to dòng B, Sarcôm
không biệt hóa và sarcôm sụn Trong u ác tính
vùng mũi xoang, nếu khối u mang bản chất vi
thể là carcinôm tế bào gai thì p53 đóng vai trò rất
quan trọng trong chẩn đoán và có giá trị tiên
lượng trong điều trị
Hóa mô miễn dịch p53
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 27 trường
hợp (65,9%) âm tính với protein P53, 14 bệnh
nhân (34,1%) còn lại cho kết quả dương tính với
protein P53, trong đó P53 (1+) có 7 bệnh nhân
(17,1%), P53 (2+) có 2 bệnh nhân (4,8%) và P53
(3+) có 5 bệnh nhân (12,2%)
Bảng 8: Phân bố u ác tính chung và protein p53
Tác giả Năm Tổng
số p53(-) p53(1+) p53(2+) p53(3+) Anwar và
c.s(1)
1993 43 15
(34,9%)
11 (25,6%)
9 (20,9%)
8 (18,6%)
Lê Nguyên
Hòa (5)
2011 39 15
(38,4%)
5 (12,8%)
5 (12,8%)
14 (39,9%)
Chúng tôi 2012 41 27
(65,9%)
7 (17,1%)
2 (4,8%)
5 (12,2%)
So sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi và
2 tác giả Anwar và cộng sự (1993)(1) và tác giả Lê
Nguyên Hòa (2011)(5) có sự khác biệt lớn đối với
hóa mô miễn dịch p53 Tuy nhiên, trong lô
nghiên cứu của chúng tôi về vi thể là toàn bộ của
u ác tính vùng mũi xoang, riêng 2 tác giả trên chỉ nghiên cứu về carcinôm tế bào gai trong u ác tính Do đó, nếu tách mẫu nghiên cứu chỉ carcinôm tế bào gai mà thôi, chúng tôi có thể lập bảng so sánh sau:
Bảng 9: Phân bố tỉ lệ protein p53 ở BN carcinôm tế gai và các tác giả
Tác giả Năm Tổng
số p53(-) p53(1+) p53(2+) p53(3+) Anwar và
cs(1)
1993 43 15
(34,9%)
11 (25,6%)
9 (20,9%)
8 (18,6%)
Lê Nguyên Hòa (5)
2011 39 15
(38,4%)
5 (12,8%)
5 (12,8%) 14(39,9%)
Chúng tôi 2012 17 3
(17,6%)
7 (41,1%)
2 (11,8%)
5 (29,5%)
Chúng tôi nhận thấy rằng về mặt vi thể Carcinôm tế bào gai khi nhuộm hóa mô miễn dịch p53 thì kết quả gần tương đương nhau trong các công trình nghiên cứu
KẾT LUẬN
Tỷ lệ dương tính của kháng nguyên p53 trong u ác tính vùng mũi xoang là 34,1%, trong
đó p53(1+) là 17,1%, p53(2+) là 4,8%, p53(3+) là 12,2% và p53 âm tính là 65,9% vì u ác tính vùng mũi xoang có nhiều loại u ác như: u nguyên bào thần kinh, lymphoma lan tỏa tế bào to dòng B, sarcoma, carcinôm tuyến dạng nang và carcinôm tuyến biệt hóa
Biểu hiện p53 trong u ác tính vùng mũi xoang không liên quan đến tuổi, giới tính, thói quen hút thuốc lá và uống rượu, vị trí ung thư, kích thước bướu, kích thước hạch, giai đoạn lâm sàng
Trang 6Sự tương quan giữa Hóa mô miễn dịch P53
trong u ác tính vùng mũi xoang là sự tương
quan không chặt chẽ Do đó, hóa mô miễn
dịch P53 không có ý nghĩa trong u ác tính
vùng mũi xoang
Nhưng mức độ biểu hiện p53 có liên quan
đến loại mô học và sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê (χ2 = 30,1; p = 0,001) Chúng tôi ghi
nhận có mối tương quan giữa carcinôm tế bào
gai và protein P53 với hệ số tương quan r = 0,86,
đây là mối tương quan thuận với mức độ tương
quan rất chặt
Riêng với u ác tính vùng mũi xoang có giải
phẫu bệnh vi thể là carcinôm tế bào gai thì hóa
mô miễn dịch P53 rất có ý nghĩa dù carcinôm tế
bào gai biệt hóa ở mức độ nào
Nghiên cứu này chưa đánh giá được ý nghĩa
dương tính của p53, cần nghiên cứu thêm với cỡ
mẫu lớn hơn và thời gian dài hơn để xác định tỷ
lệ tái phát, tỷ lệ sống còn của bệnh nhân u ác tính
vùng mũi xoang ở thời điểm 2 năm, 5 năm, 10
năm để biết p53 dương tính có thực sự là yếu tố
tiên lượng xấu hay không
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Anwar K, Nakakuki K, Imai H, Naiki H and Inuzuka M
(1993) “Over- expression of p53 protein in human laryngeal
carcinoma” Int J Cancer, 53, pp.952-956
2 Fracchiolla NS, Capaccio P, Carboni N, Pagliari AV, Neri A,
Ronchett D, Pruner G, Silvotti MG, Pignataro L, Buffa R, Broich
G (1999) “Immunohistochemical and molecular analysis of
Bax, BCL-2, and p53 genes in laryngeal squamous cell carcinomas “ Anticancer Research, 19, pp.1043-1052
3 Golusinski W, Olofsson J, Szmeja Z, Szyfter K, Szyfter W Biczysko W, Hemminki K (1997) “Alteration of p53 gen structure and function in laryngeal squamous cell cancer” Eur Arch Otorhinolaryngol, 254, pp 133-137
4 Hứa Thị Ngọc Hà, Huỳnh Ngọc Linh (2001) “Ứng dụng kỹ
thuật hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán giải phẫu bệnh” Y
học TP.HCM, số đặc biệt chuyên đề giải phẫu bệnh, phụ bản
của tập 5(4),tr1-8
5 Lê Nguyên Hòa (2011) Khảo sát biểu hiện p53 trên ung thư thanh quả và mối tương quan với lâm sàng và hình ảnh học Luận án chuyên khoa II, Đại học Y dược TP.HCM
6 Nguyễn Thế Dân, Hà Xuân Nguyên (2007) “Biểu hiện thụ thể Estrogen, Progesteron, gen p53, Ki67, Her-2/Neu trong ung thư biểu mô tuyến vú”, Y học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản tập 13, 11(3), tr.106-109
7 Nguyễn Thị Hồng (2006) Đột biến gen P53 và biểu hiện
protein p53, MDM2, Ki67, MMP9, trong ung thư niêm mạc miệng
của người Việt Na Luận án tiến sĩ Y học, Đại học Y Dược
TPHCM
8 Salam M, Rockett J and Morris A (1995) “The prevalence of different human papillomavirus types and p53 mutations in laryngeal carcinomas: is there a reciprocal relationship ?” European Journal of surgical oncology, 21, pp.290-296
9 Suzuki T, Shidara K, Hara F, Nakajima T (1994) “High frequency of p53 abnormality in laryngeal cancer of heavy smokers and its relation to human papillomavirus infection” Jpn J cancer Res, 85, pp.1087-1093
10 Tan LKS and Ogden GR (1997) “p53 over-expression in laryngeal carcinoma is not predictive of response to radiotherapy” Oral oncology, 33(3), pp.177-181
11 Tatemoto Y, Osaki T, Yoneda K, Yamamoto T, Ueta E, Kimura
T (1998), “Expression of p53 and p21 proteins in oral squamous cell carcinoma: correlation with lymph node metastasis and response to chemoradiotherapy”, PatholRes Pract, 194, pp
821-830
12 Trịnh Tuấn Dũng, (2007) “Sự biểu hiện của các kháng nguyên p53, và Her-2/Neu trong ung thư đại trực tràng bằng hóa mô miễn dịch”, Y học TPHCM, chuyên đề giải phẫu bệnh- tế bào học, phụ bản tập 11 (3), tr 89-94