1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bước đầu đánh giá hiệu quả của kháng sinh dự phòng cefuroxim trong phẫu thuật cột sống tại khoa ngoại - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

5 125 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 349,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của cefuroxim khi chỉ định dự phòng nhiễm khuẩn trong phẫu thuật cột sống. Nghiên cứu tiến hành 60 bệnh nhân được bốc thăm chia nhóm ngẫu nhiên, nhóm nghiên cứu có 30 bệnh nhân được điều trị dự phòng bằng kháng sinh cefuroxim từ lúc tiền mê và tiêm 2 lần trong vòng 24 giờ sau mổ, còn lại 30 bệnh nhân đối chứng tiêm kháng sinh điều trị thường quy tại khoa Ngoại bệnh viện Đại học Y Hà Nội, liều lượng tùy theo từng kháng sinh và thông thường kéo dài từ 5-7 ngày sau mổ

Trang 1

BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA KHÁNG SINH DỰ PHÒNG  CEFUROXIM TRONG PHẪU THUẬT CỘT SỐNG TẠI KHOA NGOẠI _ 

BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI 

Nguyễn Thị Thu Giang*, Kiều Đình Hùng*, Nguyễn Thị Hiền** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn vết mổ là loại nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nhiễm khuẩn sau mổ. 

Ở các nước phát triển, kháng sinh dự phòng đã được sử dụng phổ biến trong các phẫu thuật sạch và sạch nhiễm 

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của Cefuroxim khi chỉ định dự phòng nhiễm khuẩn trong phẫu thuật cột sống.  Phương  pháp: 60 bệnh nhân được bốc thăm chia nhóm ngẫu nhiên, nhóm nghiên cứu có 30 bệnh nhân 

được điều trị dự phòng bằng kháng sinh Cefuroxim từ lúc tiền mê và tiêm 2 lần trong vòng 24 giờ sau mổ, còn  lại 30 bệnh nhân đối chứng tiêm kháng sinh điều trị thường quy tại khoa Ngoại bệnh viện Đại học Y Hà Nội, liều  lượng tùy theo từng kháng sinh và thông thường kéo dài từ 5 – 7 ngày sau mổ. 

Kết  quả: Các loại bệnh lý cột sống được phẫu thuật của hai nhóm nghiên cứu và đối chứng có sự tương 

đồng. Toàn bộ 100% bệnh nhân sau mổ 4 ngày không có dấu hiệu nhiễm khuẩn. Hiệu quả kinh tế: Mỗi bệnh  nhân trong nhóm nghiên cứu đã tiết kiệm được 1.881.022 VND so với nhóm đối chứng, với số lượng 30 bệnh  nhân chúng tôi đã tiết kiệm 56.430.674 VND đồng tiền thuốc kháng sinh. 

Kết luận: Nhóm nghiên cứu đã tiết kiệm kinh phí và giảm số lần tiêm kháng sinh một cách có hiệu quả. 

Từ khóa: Kháng sinh dự phòng; Phẫu thuật cột sống 

ABSTRACT 

INITIAL ASSESSMENT OF THE EFFECT OF CEFUROXIME AS ANTIBIOTIC PROPHYLAXIS  

ON SPINAL SURGERY IN THE DEPARTMENT OF SURGERY AT THE HANOI MEDICAL 

UNIVERSITY HOSPITAL 

Nguyen Thi Thu Giang, Kieu Dinh Hung, Nguyen Thi Hien  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 91 ‐ 95 

Background: Surgical site infections are the most common postoperative infections. In developed countries, 

use of antibiotics prophylaxis in clean surgery and clean contaminated surgery is recommend 

Methods:  Sixty patients operated on spinal column were randomly devided in two groups: The first group 

of patients was treated by Cefuroxim at early stage of anaesthetize and the other group was treated by routine  antibiotics after operation. Health index of two groups of operated patients has been well observed.  

Results: All participated patients were well been operated on. After 4 days, all patients of two groups have 

not been seen with any clinical signs of infections. Patients in the first group spent less cost (1,881,022 VND) as  compared with patients in the second group, giving total amount of saved (56,430,674 VND) for 30 patients in  the first group.  

Discussion and conclusion: It was significantly reduced a cost of antibiotic treatment and limitted number 

of antibiotic injection for the first group when compared to the second groups of patients. 

Từ khoá: Spinal surgery, antibiotic prophylaxis. 

* Trường Đại học Y Hà Nội, ** Trường Đại học Dược Hà Nội 

Trang 2

Nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) là loại nhiễm 

khuẩn  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  trong  các  nhiễm 

khuẩn sau mổ. Ở các nước phát triển, kháng sinh 

dự  phòng  (KSDP)  đã  được  sử  dụng  phổ  biến 

trong các phẫu thuật sạch và sạch nhiễm, nhưng 

ở Việt Nam do tâm lý lo ngại điều kiện vệ sinh 

bệnh viện, vệ sinh phòng mổ nên các phẫu thuật 

viên vẫn có thói quen dùng kháng sinh điều trị 

cho mọi loại phẫu thuật, điều này không những 

gây tốn  kém,  mất an  toàn  mà  còn  làm  nguy  cơ 

làm tăng sự kháng thuốc của vi khuẩn. Vi khuẩn 

là  tác  nhân  chính  gây  ra  nhiễm  khuẩn  vết  mổ. 

Trong  phẫu  thuật  sạch,  Staphylococcus aureus  từ 

môi trường ngoại sinh hoặc từ hệ vi khuẩn trên 

da  bệnh  nhân  (BN)  là  nguyên  nhân  chính  gây 

nhiễm  khẩn  vết  mổ  (NKVM)(1).  Tại  Việt  Nam, 

các nghiên cứu cho thấy vi khuẩn phân lập được 

từ  các  trường  hợp  NKVM  chủ  yếu  là  vi  khuẩn 

Gram  âm,  hay  gặp  nhất  là  Escherichia  coli, 

Klebsiella  pneumoniae  và  các  vi  khuẩn  Gram 

dương  khác  có  gặp  nhưng  với  tỷ  lệ  thấp  hơn 

như  Staphylococcus  aureus,  Staphylococci  không 

sinh  coagulase(2,3).  Tại  bệnh  viện  Đại  học  Y  Hà 

Nội, một số công trình nghiên cứu về KSDP đối 

với phẫu thuật đã được tiến hành và cho kết quả 

tốt. Theo số liệu của khoa Ngoại trong năm 2012 

và 2013, số lượng BN được mổ phiên về bệnh lý 

cột sống tại khoa là 105 và 109 trường hợp. Đây 

là  một  phẫu  thuật  sạch  nên  rất  thích  hợp  cho 

việc  sử  dung  KSDP.  Nhưng  hiện  nay,  trong 

phẫu thuật cột sống (PTCS), kháng sinh (KS) vẫn 

được sử dụng theo phác đồ điều trị. Cefuroxim 

là kháng sinh thích hợp dùng để dự phòng sau 

mổ  phẫu  thuật  cột  sống  vì  ngấm  tốt  vào  phần 

mềm  và  xương,  hơn  nữa  có  phổ  kháng  khuẩn 

bao  phủ  những  tác  nhân  gây  nhiễm  khuẩn  vết 

mổ  hay  gặp  trong  nhiễm  khuẩn  sau  mổ  cột 

sống(3). Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành 

nghiên  cứu  đề  tài  này  với  mục  tiêu:  Bước  đầu 

đánh  giá  hiệu  quả  của  kháng  sinh  dự  phòng 

Cefuroxim  trong  phẫu  thuật  cột  sống  tại  Khoa 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Các  bệnh  nhân  (BN)  được  PTCS  tại  khoa  Ngoại  –  Bệnh  viện  Đại  học  Y  Hà  Nội  từ  02/2014  đến  7/2014.  Tiêu  chuẩn  lựa  chọn:  BN  được  PTCS,  không  bị  nhiễm  khuẩn  trước  mổ, 

có  đầy  đủ  hồ  sơ,  được  theo  dõi,  điều  trị  tại  khoa.  Tiêu  chuẩn  loại  trừ:  BN  bị  dị  ứng  với  Cefuroxim  hoặc  trước  mổ  đã  dùng  KS,  hoặc  sốt trên 380C, bạch cầu trên 10.109g/l.  

Phương pháp nghiên cứu 

Cỡ mẫu nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu 

Đây  là  nghiên  cứu  can  thiệp  có  phân  tích  hiệu quả điều trị với cỡ mẫu là 60 BN. Các bệnh  nhân được bốc thăm ngẫu nhiên để phân nhóm  vào nghiên cứu. 30 BN thuộc nhóm nghiên cứu  (NC) sử dụng KSDP, và 30 BN thuộc nhóm đối  chứng  (ĐC)  sử  dụng  KS  điều  trị.  Phác  đồ  KS  dùng trong nghiên cứu chúng tôi sử dụng phác 

đồ theo khuyến cáo của Martindal(4). 

Nhóm nghiên cứu  

Tiêm  3  mũi:  Mũi  1  tiêm  tĩnh  mạch  1.5  g  Cefuroxim  lúc  tiền  mê,  2  mũi  còn  lại  tiêm  vào  các thời điểm 8, 16 giờ sau mổ. 

Nhóm đối chứng  

Dùng  KS  hiện  có  tại  khoa,  liều  lượng  tùy  theo từng KS, thông thường 5 – 7 ngày sau mổ.  Kháng  sinh  trong  nghiên  cứu:  Sử  dụng  Cefuroxim  có  biệt  dược  là  Zinacef  750mg,  nhà  sản  xuất  GlaxoSmithKline,  sản  xuất  tại  Bỉ,  đã  được Bộ Y tế Việt Nam cho phép lưu hành với số  đăng ký VN‐9067‐04. 

Một số tiêu chí đánh giá 

Nhiệt độ cơ thể được lấy ở nách vào 6 giờ, 9  giờ và 14 giờ hằng ngày. Tình trạng vết mổ:vết 

mổ  khô, thấm máu  và  dịch, tấy đỏ, rỉ  ướt  chân  chỉ, có mủ. Dịch chảy ra từ ổ mổ: dưới 300 ml/24  giờ và trên 300 ml/24 giờ. Chi phí điều trị. 

Trang 3

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 

Các  thông  tin  được  thu  thập  theo  mẫu 

phiếu  điều  tra  và  xử  lý  theo  Microsoft  Excel 

2010, SPSS 18.0. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Khảo  sát  đặc  điểm  mẫu  nghiên  cứu  liên 

quan đến nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ 

Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Đặc điểm Nhóm NC Nhóm ĐC P A-B

Tuổi

<18

18 – 35

36 – 60

>60

Trung bình (tuổi) ± SD

0

04

23

03 48,73 ± 13,29

0

03

18

09 53,10 ± 12,57

0,099

Giới tính (%)

Nam

Nữ

36,67 63,33

43,33 56,67

0,601

Bệnh lý cột sống

được phẫu thuật (%)

Thoát vị đĩa đệm

Hẹp ống sống

Trượt đốt sống

Chấn thương cột sống

U tủy

Nang Tarlov

Xẹp đốt sống

Tháo nẹp vít

50,00 0,00 16,67 10,00 3,33 3,33 6,67 10,00

33,33 10,00 3,33 16,67 16,67 3,33 10,00 6,67

0,268

Thời gian phẫu thuật

(phút)

Trung bình (phút)±SD

< 120

> 120

98,5±27,64

26

04

103,17±29,43

26

04

0,744

Nhận  xét:  Các  đặc  điểm  của  hai  nhóm 

nghiên cứu và đối chứng có sự tương đồng, khác 

biệt không có ý nghĩa thống kê. 

Kết quả điều trị của hai nhóm bệnh nhân 

*Thân nhiệt sau mổ  Bảng 2: Thân nhiệt sau mổ của bệnh nhân 

Thân nhiệt sau

mổ

Sau 24h Sau 48h Sau 72h Sau 96h

NC ĐC NC ĐC NC ĐC NC ĐC

Không sốt 30 30 23 25 27 29 30 30 Sốt nhẹ (37,2 0

C-38,50C)

0 0 7 05 03 01 0 0 Sốt vừa (38,60C

– 390C)

0 0 0 0 0 0 0 0

Nhận xét:  Thân nhiệt sau mổ của bệnh nhân 

của  hai  nhóm  nghiên  cứu  và  đối  chứng  có  sự  tương đồng, khác biệt không có ý nghĩa thống kê 

*Tình trạng vết mổ  Bảng 3: Tình trạng vết mổ 3 ngày sau mổ 

Tình trạng vết

mổ

Nhóm NC Nhóm ĐC

Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)

Thấy máu và

P = 0,554

Nhận xét : Tình trạng vết mổ 3 ngày sau mổ 

của  hai  nhóm  nghiên  cứu  và  đối  chứng  có  sự  tương  đồng,  sự  khác  biệt  không  có  ý  nghĩa  thống kê. 

* Dịch từ ổ mổ 

Bảng 5: Dịch từ ổ mổ 

Dịch từ ổ mổ

(ml/24h)

Sau 24h Sau 48h Sau 72h Sau 96h

NC

Tỷ lệ %

ĐC

Tỷ lệ %

NC

Tỷ lệ %

ĐC

Tỷ lệ %

NC

Tỷ lệ %

ĐC

Tỷ lệ %

NC

Tỷ lệ %

ĐC

Tỷ lệ %

81,25%

18 90,00%

13 100%

18 94,74%

04 100%

04 100%

0 0,00%

0 0,00%

18,75%

02 10,00%

0 0,00%

01 5,26%

0 0,00%

0 0,00%

0 0,00%

0 0,00%

Trang 4

Nhận  xét:  Dịch  từ  ổ  sau  sau  mổ  của  hai 

nhóm  nghiên  cứu  và  đối  chứng  có  sự  tương 

đồng, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. 

Chi phí điều trị  

Bảng 6: Chi phí kháng sinh 

Nhóm Số lượng (lọ) Thành tiền (VND) Tỷ lệ (%)

Chi phí vật dụng tiêu hao: 30 BN nhóm NC đã giảm 502

mũi tiêm kháng sinh,

Nhận  xét:  Chi  phí  KS  của  nhóm  NC  là 

5.331.720 VND và nhóm ĐC là 61.762.394 VND 

BÀN LUẬN 

Khảo  sát  đặc  điểm  mẫu  nghiên  cứu  liên 

quan đến nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ  

Tuổi 

Độ tuổi 18 ‐ 60 chiếm tỷ lệ cao (nhóm nghiên 

cứu:  90%;  nhóm  đối  chứng:  70%).  Kết  quả  này 

phù hợp với ngiên cứu của Nguyễn Thị Huệ: độ 

tuổi 20‐60 chiếm 87,14%(5).  

Giới 

Bệnh nhân là nữ giới 60%, nữ nhiều gấp 1.5 

lần nam. Kết quả của một số tác giả lại cho thấy 

tỷ lệ nam giới gặp các bệnh lý về cột sống nhiều 

hơn nữ(5,6). 

Bệnh lý cột sống được phẫu thuật 

Thoát vị đĩa đệm chiếm tỷ lệ cao nhất trong 2 

nhóm  (nhóm  NC  50%,  nhóm  ĐC  33,33%).  Các 

bệnh  còn  lại  như  hẹp  ống  sống,  u  tủy,  nang 

Tarlov chỉ chiếm tỷ lệ thấp. Kết quả nghiên cứu 

cũng phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả 

trong nước và nước ngoài: trong PTCS thì phẫu 

thuật thoát vị đĩa đệm chiếm đa số. 

Thời gian phẫu thuật 

Theo Olsen, thời gian phẫu thuật được quyết 

định  chủ  yếu  bởi  độ  phức  tạp  của  cuộc  phẫu 

thuật. Thời gian phẫu thuật > T giờ (T xấp xỉ với 

75% thời gian thông thường của từng loại phẫu 

thuật)  làm  gia  tăng  nguy  cơ  NKVM  sau  PTCS 

lên  4,7  lần(7).  Theo  Khan  MS,  thời  gian  phẫu 

thuật >120 phút là một yếu tố nguy cơ NKVM(8).  Tăng thời gian phẫu thuật về mặt lý thuyết làm  tăng tính nhạy cảm của vết mổ, tăng tiếp xúc với 

vi khuẩn và mức độ tổn thương mô, giảm nồng 

độ  KSDP  trong  mô.Trong  nghiên  cứu  này,  thời  gian  mổ  dưới  120  phút  chiếm  86.67%  (52  BN),  trên 120 phút chiếm 13.33% (8 BN). Thời gian mổ  trung bình của cả nghiên cứu là 100 phút. So với  thời  gian  mổ  trung  bình  trong  nghiên  cứu  của  Schimmel  (115  phút)  thì  kết  quả  của  chúng  tôi  cũng khá phù hợp(9).  

Đánh  giá  hiệu  của  kháng  sinh  dự  phòng  Cefuroxim 

Hiệu quả dự phòng nhiễm khuẩn vết mổ 

Hiệu  quả  dự  phòng  NKVM  được  đánh  giá  trên 3 tiêu chí: thân nhiệt bệnh nhân sau mổ, tình  trạng vết mổ, dịch chảy ra từ ổ mổ. 

Thân nhiệt bệnh nhân sau mổ 

Ba ngày sau mổ ở 2 nhóm BN không có BN  nào sốt vừa hoặc sốt cao, tỷ lệ BN sốt nhẹ thấp  (20%). Sốt nhẹ xuất hiện ở ngày thứ 2 hoặc thứ 3  sau mổ. Tuy nhiên những BN này đều giảm hay  hết  sốt  sau  24h  hay  48h  mà  không  cần  điều  trị  (chỉ dùng thuốc hạ sốt đơn thuần), vì vậy chúng  tôi xếp những BN này vào nhóm sốt đơn thuần.  Sốt  được  định  nghĩa  là  khi  nhiệt  độ  cơ  thể  ≥  37,2oC.  Nguyên  nhân  sốt  đơn  thuần  sau  phẫu  thuật  là  do  quá  trình  làm  liền  vết  mổ  rất  giống  với  quá  trình  cơ  thể  loại  bỏ  các  tác  nhân  xâm  nhập (ví dụ như vi khuẩn, ký sinh trùng). Cả hai  quá  trình  đều  liên  quan  đến  phản  ứng  viêm.  Mặc  dù  khác  nhau  về  bản  chất  của  các  yếu  tố  khởi động viêm (tổn thương mô sau phẫu thuật 

và  các  vi  khuẩn  gây  bệnh)  nhưng  phản  ứng  viêm  là  như  nhau.  Vì  vậy  cả  hai  quá  trình  làm  lành  vết  thương  và  nhiễm  trùng  đều  có  khả  năng  gây  ra  sốt  sau  phẫu  thuật.  Thông  thường  sốt hậu phẫu không phải nguyên nhân do nhiễm 

khuẩn sẽ tự phục hồi vài ngày sau phẫu thuật. 

Tình trạng vết mổ 

BN  sau  mổ  (nhóm  NC    6,67%,  nhóm  ĐC 

Trang 5

đọng ra băng, có kèm theo tăng thân nhiệt hoặc 

không, nếu tăng thân nhiệt thì cũng không quá 

38,50C.  Qua  theo  dõi  không  tìm  thấy  dấu  hiệu 

nhiễm khuẩn và ở ngày tiếp theo lượng dịch tiết 

ra  ít  dần,  vết  mổ  khô,  thân  nhiệt  trở  về  bình 

thường.  Như  vậy  100%  BN  ở  2  nhóm  có  tình 

trạng vết mổ tốt ở ngày thứ 4 sau mổ.  

Dịch từ ổ mổ 

Đo  lượng  dịch  chảy từ ổ  mổ: trong  72h sau 

khi mổ, lượng dịch ≤ 300ml/24h chiếm tỷ lệ cao 

nhất ở cả 2 nhóm. Thông thường sau mổ lượng 

dịch chảy ra thường dưới 300ml/24h. Nếu dịch > 

300ml/24h là bất thường, có thể là do cầm máu 

không  tốt  trong  quá  trình  mổ.  Tuy  nhiên  nếu 

dịch ra nhiều và kéo dài thì nguy cơ NKVM sẽ 

tăng lên. Trong số các BN trong nghiên cứu, dịch 

hết  sau  48h  là  chủ  yếu  (nhóm  NC  75%,  nhóm 

ĐC  80%).  Lượng  dịch  >  300ml  có  ở  05  BN,  tuy 

nhiên  cũng  chỉ  xuất  hiện  trong  1  ngày,  sang 

ngày  tiếp  theo  lượng  dịch  <  300ml/24h.  Ở  đây 

chúng  tôi  không  xác  định  đây  là  dấu  hiệu  của 

một NKVM. 

Đánh giá hiệu quả kinh tế của kháng sinh 

dự phòng 

Chi phí tiền thuốc kháng sinh 

Trung  bình  chi  phí  thuốc  KS  cho  một  BN 

trong  nhóm  NC  là  177.724  VND,  nhóm  ĐC  là 

2.058.746  VND.  Như  vậy  nếu  sử  dụng  KSDP, 

trung  bình  mỗi  BN  tiết  kiêm  được  1.881.022 

VND.  Với  30  BN  chúng  tôi  đã  tiết  kiệm 

56.430.674 VND tiền thuốc KS. Do đó, nếu triển 

khai  rộng  rãi  quy  trình  sử  dụng  KSDP  cho  BN 

phẫu thuật bệnh lý về cột sống nói riêng và các 

phẫu thuật sạch, sạch nhiễm có ít yếu tố nguy cơ 

thì sẽ tiết kiệm được một chi phí không nhỏ. 

Các chi phí khác 

Giảm số lần tiêm KS không những tiết kiệm 

được tiền thuốc mà còn tiết kiệm được các dụng 

cụ tiêu hao đi kèm (bơm tiêm, bông băng, cồn…) 

và giảm bớt công việc cho các nhân viên y tế. 

KẾT LUẬN  

Hiệu  quả  dự  phòng  NKVM:  100%  BN  sau 

mổ  4  ngày  không  có  dấu  hiệu  nhiễm  khuẩn.  Hiệu  quả  kinh  tế:  Mỗi  BN  thuộc  nhóm  NC    đã  tiết kiệm được 1.881.022 VND so với nhóm ĐC.  Với  30  BN  chúng  tôi  đã  tiết  kiệm  56.430.674  VND tiền thuốc KS, ngoài ra còn tiết kiệm được  tiền  bông,  băng,  cồn  sát  khuẩn,  bơm  tiêm  cho 

502 mũi tiêm.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 ASHP  Clinical  practice  guidelines  for  antimicrobial  prophylaxis in surgery (2013), “ American Society of Health‐

System Pharmacists”, Am J Health‐Syst Pharm, 70:195‐283  

2 Nguyễn  Quốc  Anh,  Nguyễn  Việt  Hùng  (2012),  “Đặc  điểm  phân  bố  và  kháng  kháng  sinh  của  các  tác  nhân  gây  nhiễm  khuẩn  vết  mổ  tại  một  số  bệnh  viện  của  Việt  Nam  (2009  ‐ 

2010)”, Tạp chí Y học lâm sàng, số 66+67, tr. 26‐32. 

3 Le  Thi  Anh  Thu  et  al.  (2006), “Microbiology  of  surgical  site 

infections  and  associated  antimicrobial  use  among 

Vietnamese  orthopedic  and  neurosurgical  patients”,  Infect 

Control Hosp Epidemiol, 27(8):855‐62. 

4 Martindale  (2009),  The Complete Drug Reference,  36nd  edition, 

London UK 

5 Nguyễn  Thị  Huệ  (2007),  Nghiên cứu ứng dụng Augmentin dự 

phòng  nhiễm  khuẩn  trong  phẫu  thuật  cột  sống  tại  bệnh  viện  Việt  Đức (11/2006‐11‐2007),  Luận  văn  Thạc  sỹ  dược  học,  Trường 

Đại học Dược Hà Nội, Hà Nội. 

6 Nguyễn Đức Hiệp (2000), Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị  phẫu  thuật  bệnh  thoát  vị  đĩa  đệm  cột  sống,  Luận  văn  tốt  nghiệp bác sĩ nội trú bệnh viện, Trường Đại học Y Hà Nội. 

7 Olsen  MA,  Nepple  JJ,  Riew  KD,  Lenke  LG,  Bridwell  KH,  Mayfield  rJ,  Fraser  VJ  (2008),  “Risk  factors  for  surgical  site 

infection following orthopaedic spinal operations”, J Bone Joint 

Surg Am, 90:62–69. 

8 Khan  MS,  Rehman  S,  Ali  MA,  Sultan  B,  Sultan  S.  (2008), 

“Infection in Orthopedic Implant Surgery, Its Risk Factors and 

Outcome”, J Ayub Med Coll Abbottabad, 20(1):23‐5 

9 Schimmel  JJ,  Horsting  PP,  de  Kleuver  M,  Wonders  G,  van  Limbeek  J.  (2010),  “Risk  factors  for  deep  surgical  site  infections after spinal fusion”,  Eur Spine J, 19(10):1711‐9 

Ngày nhận bài báo:       15/10/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  02/11/2014  Ngày bài báo được đăng:     05/12/2014 

 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 13:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w