1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật dẫn lưu dịch trong điều trị tụ dịch dưới màng cứng mạn tính do chấn thương ở trẻ em - nhân 3 trường hợp

6 133 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 470,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phẫu thuật dẫn lưu dịch là một trong những phương pháp được sử dụng để điều trị tụ dịch dưới màng cứng ở trẻ em. Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về phương pháp này. Nghiên cứu nhằm khảo sát kết quả bước đầu của loại phẫu thuật này trong điều trị tụ dịch dưới màng cứng mạn tính do chấn thương ở trẻ em.

Trang 1

DƯỚI MÀNG CỨNG MẠN TÍNH DO CHẤN THƯƠNG Ở TRẺ EM – 

NHÂN 3 TRƯỜNG HỢP 

Nguyễn Phong* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Phẫu thuật dẫn lưu dịch là một trong những phương pháp được sử dụng để điều trị tụ dịch dưới 

màng cứng ở trẻ em. Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về phương pháp này. Nghiên cứu nhằm  khảo sát kết quả bước đầu của loại phẫu thuật này trong điều trị tụ dịch dưới màng cứng mạn tính do chấn  thương ở trẻ em. 

Phương  pháp:  Mô tả tiến cứu hàng loạt ca. Từ 01/01/2012 đến 01/05/2014, tại bệnh viện Chợ Rẫy có 3 

bệnh nhân tụ dịch dưới màng cứng mạn tính do chấn thương được điều trị bằng phương pháp dẫn lưu dịch. 

Kết quả: 3 bệnh nhân trong nghiên cứu, có 2 bệnh nhân 12 tháng tuổi và 1 bệnh nhân 34 tháng tuổi, cả 3 

bệnh nhân đều có tiền căn chấn thương đầu cách 1‐5 tháng. Triệu chứng lâm sàng trước phẫu thuật là: mờ mắt  (1BN), quấy khóc, kích thích (2BN), động kinh (1BN), đầu to (1BN), thóp căng (1BN). Cả 3 bệnh nhân có hình  hình ảnh CLVT và MRI trước mổ tụ dịch dưới màng cứng 2 bán cầu. Các bệnh nhân được tiến hành phẫu thuật  dẫn lưu dịch tổng cộng 7 lần, thời gian lưu dẫn lưu từ 5‐7 ngày. Kết quả có 1 bệnh nhân thành công sau 1 lần  phẫu thuật, 2 bệnh nhân tái phát cần phẫu thuật dẫn lưu dịch, mỗi bệnh nhân 3 lần. Không biến chứng sau phẫu  thuật. Thời gian theo dõi sau phẫu thuật 5‐10 tháng, cả 3 trường hợp triệu chứng lâm sàng đều cải thiện, phát  triển bình thường  

Kết luận: Tuy với tỉ lệ tái phát khá cao, nhưng phương pháp dẫn lưu dịch là phương pháp điều trị đơn giản, 

ít biến chứng, cần được xem xét chọn lựa trong điều trị tụ dịch dưới màng cứng mạn do chấn thương ở trẻ em.  

Từ khóa: tụ dịch dưới màng cứng mạn tính, tụ máu dưới màng cứng mạn tính, trẻ em, chấn thương, dẫn 

lưu dịch. 

ABSTRACT 

SUBDURAL DRAINAGE SURGERY IN TREATMENT FOR THE CHILDREN WITH TRAUMATIC 

CHRONIC SUBDURAL HYGROMA‐ REPORT OF 3 CASES 

Nguyen Phong * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 247 – 252 

Objective:  Subdural drainage surgery is one of the treatment options for the children with traumatic 

chronic subdural hygroma and there are only a few reports about that in Vietnam. The goal of this research is 

to evaluate the initial results of this surgery in the treatment of the children with traumatic chronic subdural  hygroma. 

Methods: Prospective case series. Three patients with traumatic chronic subdural hygroma underwent 

the subdural drainage operations at Cho Ray hospital between January 2012 and May 2014.  

Results: In three patients, there are two 12 months old infants and one 34 months old child, all have the 

history  of  head  trauma  1‐5  months  before.  Pre‐operation  clinical  manifestations  are  visual  deficit  (1pts),  Irritability  (2pts),  seizure  (1pts),  macrocrania  (1pts),  bulging  fontanel  (1pts).  CLVT  and  MR  imaging  demonstrate  bilateral  subdural  hydgroma  in  all  three  patients.  They  have  received  7  subdural  external  drainage procedures, which were maintained 5‐7 days. It was effective in one patients, where as in another 2 

* Khoa Ngoại Thần Kinh Bệnh viện Chợ Rẫy 

Trang 2

it needs to perform 2 more subdural drainage procedures. There was no post‐operation complication. All the  patients have good clinical outcomes within 5‐10 months follow up. 

Conclusion: Despite of the relatively high recurrence rate, subdural drainage is a simple procedure, less 

of  complications.  Therefore,  this  method  should  be  considered  in  initial  treatment  for  the  children  with  traumatic chronic subdural hygroma.  

Keywords:  Chronic  subdural  hygroma,  chronic  subdural  hematoma,  children,  trauma,  subdural 

drainage 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Ở trẻ em, thuật ngữ tụ dịch dưới màng cứng 

mạn  tính  để  chỉ  một nhóm  bệnh  bao  gồm  máu 

tụ dưới màng cứng mạn tính và tụ dịch não tủy 

dưới màng cứng mạn tính. Tụ dịch não tủy dưới 

màng cứng mạn tính có thể diễn tiến thành máu 

tụ  dưới  màng  cứng  mạn  tính  sau  3‐  4  tuần,  có 

thể  gây  khó  khăn  trong  việc  chẩn  đoán(5).  Tỉ  lệ 

tiến  triển  từ  tụ  dịch  não  tủy  dưới  màng  cứng 

mạn  tính  thành  máu  tụ  dưới  màng  cứng  ở  trẻ 

em  và  người  lớn  khoảng  33%(7),  chưa  có  tỉ  lệ 

riêng  cho  trẻ  em.  90%  trường  hợp tụ  dịch  dưới 

màng  cứng  mạn  tính  xảy  ra  ở  trẻ  em  dưới  hai 

tuổi,  độ  tuổi  trung  bình  là  10  tháng(2).  Hai 

nguyên nhân hàng đầu là chấn thương và viêm 

màng  não  vi  trùng,  các  nguyên  nhân  hiếm  gặp 

hơn như biến chứng của đặt shunt và ở một số 

trường hợp không tìm thấy nguyên nhân(2,3). Tụ 

dịch dưới màng cứng mạn tính có thể biểu hiện 

lâm sàng ở 2 nhóm có triệu chứng và không có 

triệu  chứng.  Lâm  sàng  của  tụ  dịch  dưới  màng 

cứng  bao  gồm  triệu  chứng  tăng  áp  lực  nội  sọ 

(đau  đầu,  nôn  ói,  thóp  trán  phồng),  dấu  thần 

kinh  khu  trú,  động  kinh,  chậm  phát  triển.  Việc 

chẩn đoán thường được dựa vào hình ảnh trên 

CLVT  sọ  não  có  hoặc  không  có  cản  quang  và 

MRI  sọ  não.  Về  phương  diện  điều  trị,  hiện  nay 

vẫn chưa có sự thống nhất. Phần lớn các trường 

hợp tụ dịch dưới màng cứng mạn tính lành tính 

không triệu chứng ở trẻ nhũ nhi sẽ tự hấp thu, 

thường trong khoảng 8‐9 tháng. Thủ thuật chọc 

xuyên  thóp  có  thể  sử  dụng  với  mục  đích  chẩn 

đoán  (loại  trừ  trường  hợp  teo  não  và  nhiễm 

trùng) và có thể làm tăng thêm tỉ lệ tự hấp thu 

dịch.  Khi  điều  trị  bảo  tồn,  bệnh  nhân  cần  được 

theo dõi chu vi vòng đầu mỗi 3‐6 tháng, siêu âm 

xuyên  thóp,  CLVT  hoặc  MRI  kiểm  tra.  Đối  với  các trường hợp tụ dịch dưới màng cứng có triệu  chứng,  cần  phải  điều  trị.  Các  phương  pháp  có  thể  chọn  lựa  là:  (1)  chọc  xuyên  thóp  nhiều  lần,  hiệu  quả  của  phương  pháp  này  còn  chưa  được  kiểm  chứng  đầy  đủ,  kết  quả  chưa  được  thống  nhất  giữa  các  nghiên  cứu.  (2)  khoan  sọ  một  lỗ  dẫn  lưu,  phương  pháp  này  có  ưu  điểm  là  đơn  giản tuy nhiên không hiệu quả trong các trường  hợp mất cân xứng sọ và nhu mô não nặng, nhu 

mô não không giãn nở được. (3) Đặt shunt dưới  màng cứng – màng bụng, đặt shunt một bên có  thể dẫn lưu tụ dịch hai bên. Áp lực rất thấp được 

sử dụng, và shunt được rút bỏ sau 2‐3 tháng một  khi mục đích dẫn lưu đã đạt được để giảm khả  năng  biến  chứng  vôi  hóa  shunt,  nguy  cơ  động  kinh  sau  này(3).  Tuy  nhiên  bất  lợi  là  nhiều  biến  chứng  hơn:  nhiễm  trùng  shunt,  tắc  shunt,  thay  đổi nhu động ruột. Năm 2005, trong nghiên cứu  trên  25  trường  hợp  tụ  dịch  dưới  màng  cứng  mạn, Jun Beom Cho và cộng sự đã kết luận khi  chỉ  định  phẫu  thuật,  phương  pháp  nên  chọn  là  khoan  sọ  một  lỗ  dẫn  lưu  vì  phương  pháp  này  đơn giản hơn đặt shunt dưới màng cứng –màng  bụng và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống 

kê  về  thời  gian  tái  phát  tụ  dịch  giữa  hai  nhóm  khoan sọ một lỗ và đặt shunt(5). Năm 2011,Klimo 

P  Jr  và  cộng  sự  đã  nghiên  cứu  phẫu  thuật  26  trường hợp tụ dịch dưới màng cứng mạn, và kết  luận mở sọ nhỏ có ưu thế hơn khoan sọ một lỗ, tỉ 

lệ  thành  công  ở  nhóm  mở  sọ  nhỏ  và  nhóm  khoan sọ một lỗ lần lượt là 80% và 70%(6).Ở Việt  Nam, hiện tại có rất ít công trình nghiên cứu về 

tụ  dịch  dưới  màng  cứng  mạn  tính  do  chấn  thương ở trẻ em. Kết quả điều trị bằng phương  pháp khoan sọ một lỗ dẫn lưu dịch còn chưa rõ 

Trang 3

ràng.  Vì  vậy,  chúng  tôi  tiến  hành  thực  hiện 

nghiên cứu khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm 

sàng và điều trị phẫu thuật dẫn lưu dịch ở bệnh 

nhi  tụ  dịch  dưới  màng  cứng  mạn  tính  do  chấn 

thương tại bệnh viện Chợ Rẫy. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Mô tả đặc điểm lâm sàng tụ dịch dưới màng 

cứng do chấn thương ở trẻ em.  

Khảo sát kết quả điều trị tụ dịch dưới màng 

cứng  do  chấn  thương  ở  trẻ  em  bằng  phương 

pháp phẫu thuật dẫn lưu dịch. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu  

Tất  cả  các  trường  hợp  trẻ  em  được  chẩn 

đoán  tụ  dịch  dưới  màng  cứng  do  chấn  thương 

và được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật 

dẫn  lưu  dịch  tại  khoa  ngoại  Thần  Kinh  bệnh 

viện Chợ Rẫy từ 01/01/2012 đến 01/05/2014. 

Phương pháp nghiên cứu 

Mô tả tiền cứu hàng loạt ca. 

Cách chọn mẫu 

Chọn mẫu thuận tiện. 

Cách thức tiến hành 

Thu thập các dữ liệu lâm sàng và cận lâm 

sàng, kết quả phẫu thuật và theo dõi diễn tiến 

theo mẫu bệnh án có sẵn cho tất cả bệnh nhân. 

Các biến số nghiên cứu bao gồm: tuổi, giới, lý 

do  nhập  viện,  thời  gian  bệnh  sử,  triệu  chứng 

lâm  sàng,  hình  thái  tụ  dịch  dựa  trên  CT  và 

MRI, biến chứng sau phẫu thuật. Triệu chứng 

lâm  sàng  được  so  sánh  trước  và  sau  phẫu 

thuật.  Chỉ  định  phẫu  thuật  dẫn  lưu  dịch  cho 

các  bệnh  nhân  có  triệu  chứng  tăng  áp  lực  nội 

sọ,  tăng  kích  thước  vòng  đầu,  động  kinh,  có 

dấu thần kinh khu trú, chậm phát triển trí tuệ 

và khi bề dày lớp dịch trên 7mm. Kỹ thuật mổ: 

Bệnh  nhân  nằm  ngữa,  mê  nội  khí  quản,  rạch 

da  đường  thẳng  nhỏ  ở  trán,  khoan  sọ  một  lỗ, 

xẻ,  đốt  màng  cứng  và  bao  máu  tụ,  bơm  rữa 

bằng  ống  dẫn  lưu  mềm,  ống  dẫn  lưu  được 

luồn  dưới  da  và  nối  với  hệ  thống  dẫn  lưu 

ngoài,  lưu  thời  gian  5‐7  ngày,  bình  dẫn  lưu  được đặt thấp dưới đầu.  

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Trong  thời  gian  2,5  năm,  có  3  trường  hợp  bệnh nhân tụ dịch dưới màng cứng mạn tính do  chấn thương được phẫu thuật dẫn lưu dịch. Cả 3  bệnh nhân đều là nam, tuổi từ 12‐34 tháng. 

Trường hợp 1 

Bệnh  nhân  nam  34  tháng  có  tiền  căn  chấn  thương  đầu  cách  1  tháng,  được  điều  trị  nội  khoa, chụp CLVT đầu kiểm tra sau 1 tháng có  hình ảnh tụ dịch dưới màng cứng hai bán cầu  (Hình  1).  Lâm  sàng  trước  phẫu  thuật,  bệnh  nhân biểu hiện mờ 2 mắt. Kết quả soi đáy mắt:  teo gai thứ phát sau phù gai. Bệnh nhân được  phẫu  thuật  dẫn  lưu  tụ  dịch  dưới  màng  cứng  mạn 2 bán cầu. Tính chất dịch trong lúc phẫu  thuật: dịch màu vàng chanh, áp lực cao, không 

có bao fibrin. Dẫn lưu được rút sau 6 ngày. Kết  quả  sau  phẫu  thuật  tốt,  không  biến  chứng.  CLVT đầu kiểm tra: nhu mô não nở tốt, hết tụ  dịch.  Theo  dõi  sau  5  tháng,  bệnh  nhân  phát  triển tốt, không triệu chứng lâm sàng. 

 

Hình 1: Trường hợp 1,A,B: hình ảnh CLVT đầu 

trước mổ, C,D: hình ảnh CLVT đầu sau mổ 

Trang 4

Bệnh  nhân  nam  12  tháng  tuổi  có  tiền  căn 

chấn  thương  cách  5  tháng,  nhập  viện  vì  quấy 

khóc, kích thích. Lâm sàng bệnh nhân trước mổ: 

thóp  căng,  đầu  to  (vòng  đầu  49  cm,  Percentile 

97,2),  không  động  kinh,  không  dấu  thần  kinh 

định  vị.  Hình  ảnh  CLVT  và  MRI  trước  mổ:  tụ 

dịch  dưới  màng  cứng  mạn  2  bán  cầu  kèm  teo 

não (Hình 2A). Bệnh nhân được phẫu thuật dẫn 

lưu  dịch  dưới  màng  cứng  bán  cầu  bên  trái  và 

dẫn  lưu  máu  tụ  bán  cầu  bên  phải  1  tuần  sau 

(Hình 2B).  Tính  chất  dịch trong  lúc phẫu thuật: 

bán  cầu  trái  dịch  vàng  chanh,  áp  lực  cao,  bên 

phải dịch hồng có bao fibrin. Sau phẫu thuật lâm 

sàng bệnh nhân cải thiện, được xuất viện. Sau 2  tháng, bệnh nhân biểu hiện quấy khóc, bú kém  được  chụp  MRI  sọ  não  kiểm  tra,  có  hình  ảnh  máu  tụ  dưới  màng  cứng  2  bán  cầu  (Hình  2C),  bệnh nhân được mổ dẫn lưu máu tụ dưới màng  cứng 2 bán cầu lần 2. 2 tháng sau, bệnh nhân tái  khám được chụp MRI sọ não kiểm tra, còn máu 

tụ  dưới  màng  cứng  mạn  bán  cầu  phải,  tiếp  tục  được  phẫu  thuật  dẫn  lưu  máu  tụ  dưới  màng  cứng  bán  cầu  phải  (Hình  2  D).  Sau  phẫu  thuật  không biến chứng. Hình ảnh CLVT đầu kiểm tra  sau 1 tháng, nhu mô não nở tốt, hết tụ dịch. Lâm  sàng  theo  dõi  sau  10  tháng,  Bệnh  nhân  không  triệu chứng, phát triển bình thường. 

 

Hình 2: trường hợp 2, A: MRI sọ não trước mổ lần 1, B: CLVT sọ não sau mổ lần 1, C: MRI sọ não trước mổ lần 2, C: 

hình ảnh CLVT não sau mổ lần 2, E: MRI sọ não trước mổ lần 3, F: hình ảnh CLVT đầu kiểm tra sau 3 tháng 

Trường hợp 3 

Bệnh  nhân  nam  12  tháng  tuổi  có  tiền  căn 

chấn  thương  đầu  cách  2  tháng,  nhập  viện  vì 

động kinh. Lâm sàng trước mổ không ghi nhận 

triệu  chứng  tăng  áp  lực  nội  sọ,  dấu  thần  kinh 

khu trú. Bệnh nhân được chọc xuyên thóp rút ra 

50ml  máu  đen  loãng.  Bệnh  nhân  được  phẫu 

thuật dẫn lưu máu tụ dưới màng cứng hai bán 

cầu  (  Hình  3A).  Lâm  sàng  ổn  xuất  viện,  sau  2 

tháng  bệnh  nhân  có  những  cơn  gồng  người, 

quấy khóc, hình ảnh chụp CLVT sọ não có máu 

tụ  dưới  màng  cứng  2  bán  cầu  (Hình  3E).  Bệnh  nhân  được  phẫu  thuật  dẫn  lưu  máu  tụ  dưới  màng cứng 2 bán cầu lần 2, tính chất dịch vàng  chanh  có  bao  fibrin.  Sau  1  tháng,  Bệnh  nhân  được  chụp  MRI  sọ  não  kiểm  tra,  còn  máu  tụ  dưới màng cứng 2 bán cầu (Hình 3F), bệnh nhân  được phẫu thuật dẫn lưu dịch dưới màng cứng 2  bán cầu lần 3. Tính chất dịch màu vàng chanh có  bao  fibrin  dày.  Sau  phẫu  thuật  không  biến  chứng.  Lâm  sàng  theo  dõi  sau  10  tháng,  bệnh  nhân hết triệu chứng, phát triển bình thường. 

Trang 5

Hình 3: trường hợp 3, A: Hình CLVT đầu lúc nhập viên, B: Hình CLVT đầu sau chọc thóp, C,D: Hình CLVT 

đầu trước và sau phẫu thuật lần 1. E: hình CLVT đầu trước phẫu thuật dẫn lưu dịch lần 2, F: hình MRI não  trước phẫu thuật dẫn lưu dịch lần 3 

BÀN LUẬN  

Tụ dịch dưới màng cứng mạn tính ở trẻ em là 

thương tổn hiếm gặp, tần suất khoảng 21/100000 

trẻ(4), 90% xảy ra ở độ tuổi dưới 2 tuổi, trung bình 

là 10 tháng tuổi. Trong nghiên cứu của chúng tôi, 

có 2 bệnh nhân 12 tháng tuổi và 1 bệnh nhân 34 

tháng tuổi, cả 3 bệnh nhân đều là nam, có tiền căn 

chấn thương đầu cách 1‐5 tháng. Triệu chứng lâm 

sàng  trước  phẫu  thuật  là:  mờ  mắt  (1BN),  quấy 

khóc,  kích  thích  (2BN),  động  kinh  (1BN),  đầu  to 

(1BN),  thóp  căng  (1BN).  Triệu  chứng  lâm  sàng 

tương  tự  như  trong  các  nghiên  cứu  khác  của 

Caldarelli M, Jun Beom Cho(1,5). Về phương diện 

chẩn  đoán  hình  ảnh,  hình  ảnh  CLVT  và  MRI  sẽ 

giúp chẩn đoán phân biệt với tụ dịch dưới màng 

nhện  lành  tính  ở  trẻ  em  (đầu  nước  bên 

ngoài),thương  tổn  không  cần  phẫu  thuật.  Cả  3 

bệnh nhân trong nghiên cứu đều có tụ dịch dưới 

màng  cứng  2  bán  cầu.  Về  phương  diện  điều  trị, 

điều trị tụ dịch dưới màng cứng ở trẻ em có rất ít 

nghiên  cứu  so  với  tụ  máu  dưới  màng  cứng  ở 

người  lớn.  Ở  người  lớn,  hiệu  quả  của  nhiều 

phương  pháp  phẫu  thuật  đã  được  nghiên  cứu 

(bao gồm:khoan sọ một lỗ có kèm dẫn lưu dưới  màng cứng hoặc không, khoan sọ 2 lỗ, mở sọ…)  tuy  nhiên  vai  trò  của  dẫn  lưu  dưới  màng  cứng  luôn được nhấn mạnh, làm giảm đáng kể tỉ lệ tái  phát. Ở trẻ em, các phương pháp điều trị hiện nay  bao gồm (i) chọc xuyên thóp, (ii) khoan sọ một lỗ,  đặt dẫn lưu dưới màng cứng, (iii) đặt shunt dưới  màng  cứng‐  ổ  bụng.  Mỗi  phương  pháp  đều  có 

ưu,  nhược  điểm  riêng.  Chọc  hút  xuyên  thóp  là  phường  pháp  ít  xâm  lấn  nhất,  có  thể  thực  hiện  nhanh,tại  giường  bệnh,  có  thể  lặp  lại,  tuy  nhiên  chỉ  có  thể  áp  dụng  trong  khoảng  thời  gian  giới  hạn (thường dưới 2 tuần) có thể kèm các nguy cơ  nhiễm trùng, xuất huyết nội sọ, tổn thương nhu 

mô  tăng  lên  theo  số  lần  chọc  hút.  Phương  pháp  này  không  thể  áp  dụng  cho  trường  hợp  tụ  dịch  dưới màng cứng nhiều ổ, hoặc khu trú. Tỉ lệ thất  bại  của  phương  pháp  này  là  78%  trong  nghiên  cứu của Litofsky(8), là 42 % trong nghiên cứu của  của Tolias và 25 % bệnh nhân sẽ có biến chứng tụ 

mủ  dưới  màng  cứng(9).  Do  đó,  hiện  tại  phương  pháp này ít được sử dụng.  

Trang 6

có  tỉ  lệ  thành  công  60‐70%  theo  các  nghiên  cứu 

trước đây(1,2). Tỉ lệ thành công sẽ cao hơn nếu lưu 

ống  dẫn  lưu  lâu, kiểm soát  lượng dịch dẫn  lưu 

bằng  cách  điều  chỉnh  độ  cao  của  hệ  thống  dẫn 

lưu thay vì rút ống dẫn lưu sớm. Thời gian lưu 

ống  dẫn  lưu  thường  3‐8  ngày.  Liên  quan  đến 

biến chứng nhiễm trùng, tỉ lệ nhiễm trùng trong 

các nghiên cứu trước đây lần lượt là 4,5% trong 

nghiên cứu của Jun Beom Cho & cs(5), 3% sau 12 

ngày  lưu  dẫn  lưu  trong  nghiên  cứu  của 

Caldarelli  &  cs(1).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng 

tôi,  không  có  trường  hợp  nào  có  biến  chứng 

nhiễm  trùng  sau  dẫn  lưu.  Trong  3  bệnh  nhân 

của  chúng  tôi  có  2  trường  hợp  tái  phát,  phải 

phẫu  thuật  dẫn  lưu  dịch  tới  lần  thứ  3.  Tuy  cỡ 

mẫu chỉ có 3 trường hợp, không đại diện được, 

nhưng tỉ lệ tái phát này cao hơn các nghiên cứu 

trước đây. Điều này có thể lí giải các bệnh nhân 

của chúng tôi có các nguy cơ tái phát như tụ dịch 

dưới  màng  cứng  2  bên,  đậm  độ  dịch  hổn  hợp 

trên hình  ảnh CLVT, não  teo,  bất  cân  xứng  của 

não và hộp sọ, dẫn tới não không dãn nỡ tốt sau 

phẫu thuật dẫn lưu. Mặc dù có tỉ lệ thành công 

cao hơn, nhưng phẫu thuật đặt shunt dưới màng 

cứng phúc mạc không phải là chọn lựa ưu tiên 

trên các bệnh nhân tụ dịch dưới màng cứng mạn 

tính  vì  tỉ  lệ  biến  chứng  sớm  và  muộn  cao.  Với 

phẫu  thuật  đặt  shunt  vào  ổ  bụng,  tỉ  lệ  nhiễm 

trùng cũng tương đương với phương pháp dẫn 

lưu dưới màng cứng ra ngoài, trong khi nguy cơ 

tắc  dẫn  lưu  cao  hơn,  đặc  biệt  trong  các  trường 

hợp  tụ  dịch  có  lẫn  máu  dưới  màng  cứng  mạn 

tính.  Và  thường  bệnh  nhân  cần  thêm  một  cuộc 

mổ  để  tháo  bỏ  shunt.  Theo  Erahin,  tỉ  lệ  biến 

chứng  của  đặt  shunt  dưới  màng  cứng‐khoan 

phúc  mạc  là  36  %  (bao  gồm  tắc  shunt,  nhiễm 

trùng shunt, shunt lạc chỗ, không dủ dẫn lưu tụ 

dịch 2 bên, hoại tử da)(2). Tuy vậy một số trường 

hợp  thất  bại  với  phẫu  thuật  dẫn  lưu  dịch  dưới 

màng cứng, thì việc đặt shunt dưới màng cứng 

phúc mạc là một chọn lựa tiếp theo. Theo quan 

điểm  của  chúng  tôi,  việc  đặt  shunt  dưới  màng 

cứng‐  khoan  phúc  mạc  nên  cân  nhắc  vì  những  biến  chứng  tiềm  tàng  trên  bệnh  nhi  có  khoảng  thời gian sống còn rất dài. Do vậy, chúng tôi ưu  tiên phương pháp phẫu thuật dẫn lưu dịch dưới  màng cứng hơn. 

KẾT LUẬN 

Tuy với tỉ lệ tái phát khá cao, nhưng phương  pháp dẫn lưu dịch là phương pháp điều trị đơn  giản,  ít  biến  chứng  cần  được  xem  xét  chọn  lựa  trong  điều  trị  tụ  dịch  dưới  màng  cứng  mạn  do  chấn  thương  ở  trẻ  em.  Nghiên  cứu  này  với  cỡ  mẫu  nhỏ,  chưa  đại  diện  cần  có  các  nghiên  cứu  tiếp theo để có những bằng chứng tốt hơn. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Caldarelli M, Di Rocco C, Romani R (2000). Surgical treatment 

of  chronic  subdural  hygroma  in  infants  and  children.  Acta 

Neurochir, 144:581‐588. 

2 Ersahin  Y,  Tabur  E,  Kocaman  S,  Mutluer  S  (2000). 

Complications of subduroperitoneal shunting. Child Nerv Syst, 

16:433‐36. 

3 Greenberg  MS  (2010).  Traumatic  subdural  hygroma.  In:  Greenberg  MS  (ed)  Handbook  of  Neurosurgery,7 th   edition,  pp903‐905, Thieme. 

4 Jayawant  S,  Rawlinson  A,  Gibbon  F,  Price  J,  Schulte  J,  Sharples  P  (1998)  Subdural  haemorrhages  in  infants: 

population based study. BMJ 317: 1558‐1561. 

5 Jun Beom Cho, Ki Hong Cho, Se Hyuk Kim, Yong Sam Shin,  Wonchung Lee & Soo Han Yoon (2005). Surgical Treatment of 

Subdural  Hygromas  in  Infants  and  Children.  J  Korean 

Neurosurg Soc, 38:273‐280. 

6 Klimo  P  Jr,  Matthews  A,  Lew  SM,  Zwienenberg‐Lee  M  &  Kaufman  BA  (2011).  Minicraniotomy  versus  bur  holes  for  evacuation  of  chronic  subdural  collections  in  infants‐a 

preliminary  single‐institution  experience.  J Neurosurg Pediatr, 

8(5):423‐429. 

7 Lee  KS,  Bae  WK,  Bae  HG  &  Yun  IG  (2000).  The  fate  of  traumatic subdural hygroma in serial computed tomographic 

scan. J Korean Med Sci, 15:560‐568. 

8 Litofsky  NS,  Raffel  C,  McComb  JG  (1992).  Management  of  symptomatic  chronic  extra‐axial  fluid  collections  in  pediatric 

patients. Neurosurgery 31:445–450. 

9 Tolias C, Sgouros S, Walsh AR, Hockley AD (2000). Outcome 

of surgical treatment for subdural fluid collections in infants.  Pediatr Neurosurg 33:194–197. 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo:   2/11/2014 

Ngày đăng: 20/01/2020, 13:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w