1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả lâu dài của phẫu thuật cắt bè củng giác mạc điều trị glôcôm nguyên phát tại khoa glôcôm Bệnh viện Mắt Trung ương

10 83 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 272,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tập trung đánh giá kết quả lâu dài và tình trạng biến chứng muộn sau phẫu thuật cắt bè củng giác mạc (CBCGM).

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ LÂU DÀI CỦA PHẪU THUẬT CẮT BÈ CỦNG GIÁC MẠC ĐIỀU TRỊ GLÔCÔM NGUYÊN

PHÁT TẠI KHOA GLÔCÔM BỆNH VIỆN MẮT TRUNG ƯƠNG

VŨ THỊ THÁI, NGUYỄN THỊ HÀ THANH

Bệnh viện Mắt Trung ương

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả lâu dài và tình trạng biến chứng muộn sau phẫu thuật

cắt bè củng giác mạc (CBCGM) Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: những bệnh

nhân (BN) glôcôm nguyên phát đã được phẫu thuật CBCGM lần đầu trong năm 2000 Nghiên cứu mô tả hồi cứu cắt ngang Phẫu thuật được đánh giá là thành công khi nhãn

áp (NA) ≤ 23 mmHg (Maclakov) đồng thời không có tổn hại tiến triển của bệnh Kết

quả: nghiên cứu 255 mắt của 141 BN NA trung bình tại thời điểm đánh giá (sau mổ 7

năm) đã giảm hẳn so với trước mổ từ 30,3 mmHg ± 5,8 mmHg xuống còn 19,4 ± 3,9 mmHg NA ở mức ≤ 23 mmHg đạt tới 91% trong khi tỷ lệ phẫu thuật thành công chỉ đạt

là 53,7% ở mức NA ≤ 18 mmHg thì tỷ lệ phẫu thuật thành công đạt tới 96,5% Một số biến chứng muộn được phát hiện bao gồm: đục thể thuỷ tinh (16,1%), vỡ dò sẹo bọng

(3,5%), viêm màng bồ đào (4,7%), tăng NA tái phát (12,2%) Kết luận: Phẫu thuật

CBCGM có hiệu quả hạ NA tốt Tỷ lệ NA ≤ 23 mmHg đạt tới 91%, tuy nhiên tỷ lệ phẫu thuật thành công lại thấp hơn nhiều chỉ còn 53,7% Một số biến chứng muộn sau phẫu thuật như đục thể thuỷ tinh, tăng NA tái phát, viêm màng bồ đào, vỡ rò sẹo bọng

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh glôcôm có nhiều cơ chế sinh

bệnh học khác nhau và được điều trị bằng

nhiều phương pháp khác nhau Cũng như

các phương pháp điều trị glôcôm khác,

phẫu thuật CBCGM nhằm đạt được kết quả

là hạ NA để bảo vệ thị thần kinh (TTK) và

hạn chế tổn hại thị trường Rất nhiều nghiên

cứu trên thế giới đã chứng minh tính an

toàn và hiệu quả hạ NA của phẫu thuật (PT)

đối với nhiều hình thái glôcôm, đặc biệt là

glôcôm nguyên phát Tuy nhiên, có nhiều

nghiên cứu chỉ ra rằng tác dụng hạ NA của

PT có xu hướng giảm dần theo thời gian

Ngoài tiêu chuẩn về hạ NA, phẫu thuật

CBCGM được đánh giá là thành công khi

không có tổn hại tiến triển của bệnh glôcôm

sau PT Vì vậy, việc theo dõi BN glôcôm

định kỳ, thường xuyên sau PT là hết sức cần thiết để có thể sớm phát hiện được nguy

cơ tiến triển của bệnh cũng như các biến chứng sau phẫu thuật Chúng tôi tiến hành

đề tài này nhằm đánh giá kết quả lâu dài và tình trạng biến chứng muộn sau PT CBCGM

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Đối tượng nghiên cứu

BN được chẩn đoán là glôcôm nguyên phát đã được PT CBCGM lần đầu tại khoa Glôccôm từ tháng 01/2000 đến 12/2000

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Trang 2

Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt

ngang với cỡ mẫu tính được là 188 mắt

2.2.2 Tiến hành nghiên cứu

- Tập hợp toàn bộ hồ sơ bệnh án của

những BN trong đối tượng nghiên cứu

Loại bỏ những hồ sơ không đạt yêu cầu

Thu thập thông tin trong hồ sơ bệnh án

của những BN thuộc tiêu chuẩn lựa chọn

- Gửi thư mời BN đến khám lại

- Tiến hành khám đánh giá BN theo

các tiêu chuẩn nghiên cứu

- Điền các thông tin cần đánh giá

vào phiếu nghiên cứu

2.2.2.1 Đánh giá tình hình BN trước PT

Dựa vào các thông tin trong hồ sơ

bệnh án: tuổi, giới, thị lực, NA, thị

trư-ờng, đĩa thị giác, hình thái bệnh, giai

đoạn bệnh

2.2.2.2 Tiến hành khám lại BN: khám

triệu chứng cơ năng (thị lực, thị trường,

NA), thực thể (tình trạng sẹo bọng, lỗ cắt

bè, lỗ cắt mống mắt chu biên, đĩa thị

giác)

2.2.2.3 Đánh giá kết quả lâu dài của PT

thành công là: NA sau mổ ≤ 23 mmHg

* Kết quả thực thể

* Kết quả chung của phẫu thuật

Phẫu thuật thành công khi NA≤23mmHg TTK và thị trường không có tổn hại tiến triển (thành công hoàn toàn khi không dùng thuốc tra hạ NA bổ sung, thành công tương đối khi phải dùng thêm thuốc tra

hạ NA bổ sung)

2.2.2.4 Đánh giá tình trạng biến chứng:

Xác định tỷ lệ các biến chứng dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 255 mắt của 141 BN Trong đó có

114 BN mổ 2 mắt, 27 BN mổ 1 mắt

3.1 Đặc điểm BN nghiên cứu

3.1.1 Tình hình BN theo tuổi và giới

Tuổi trung bình của nhóm BN nghiên cứu là 54,6 ± 10,5 Tuổi cao nhất

là 77, thấp nhất là 26 Trong nghiên cứu của chúng tôi BN nữ chiếm đa số (63%)

3.1.2 Đặc điểm hình thái và giai đoạn bệnh trước mổ

Bảng 1 Phân bố bệnh nhân theo hình thái và giai đoạn bệnh

Trong 255 mắt glôcôm nguyên

phát có 172 mắt glôcôm góc đóng (chiếm

67,5%) và 83 mắt glôcôm góc mở (chiếm

32,5%) ở cả hai hình thái, đa số BN đều

đã ở giai đoạn có tổn hại TTK và thị

trường Chỉ có 37 mắt glôcôm góc đóng,

11 mắt glôcôm góc mở ở giai đoạn sơ phát chưa có tổn hại TTK và TT, chiếm

tỷ lệ 18,8% (48/255)

3.2 Kết quả lâu dài sau PT

3.2.1 Giai đoạn bệnh sau mổ

Giai đoạn

Hình thái

Sơ phát ( n )

Tiến triển ( n )

Trầm trọng ( n )

Gần mù ( n )

Mù ( n )

Tổng ( n )

Trang 3

Bảng 2 Sự chuyển đổi giai đoạn bệnh sau mổ so với trước mổ

Giai đoạn bệnh Trước mổ Sau mổ

Căn cứ vào các tiêu chuẩn đã đề ra

để đánh giá sự chuyển giai đoạn bệnh,

chúng tôi thấy rằng sau mổ, số mắt thuộc

giai đoạn tiến triển tuy có giảm so với

trước mổ nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất

86/255 (33,7%)

Số mắt ở giai đoạn sơ phát cũng

giảm đi so với trước mổ, chiếm 16,9%

Tỷ lệ những mắt của giai đoạn trầm trọng, gần mù và mù lại tăng lên so với trước mổ Đặc biệt giai đoạn mù tăng gần gấp đôi (7,4%), do có 3 mắt trước mổ thuộc giai đoạn trầm trọng và 6 mắt thuộc giai đoạn gần mù sau mổ thị lực đã giảm xuống chỉ còn ST âm tính

3.2.2 Nhãn áp

Bảng 3 Nhãn áp trung bình tại thời điểm khám lại

Hình thái Nhãn áp trung bình (mmHg) p

Trước mổ Sau mổ

Sau PT, NA trung bình giảm xuống

đáng kể so với trước PT, NA trung bình

trước PT là 30,3 ± 5,8mmHg, sau PT chỉ

còn 19,4 ± 3,9mmHg, giảm được 36% so

với trước PT Sau PT, NA cao nhất là 29

mmHg, thấp nhất là 14mmHg Ở từng

hình thái glôcôm góc mở, góc đóng, cũng như ở toàn bộ nhóm mắt nghiên cứu, NA trung bình sau mổ giảm xuống

so với trước mổ có ý nghĩa thống kê với

p < 0,001

Trang 4

91

5,9 7,8

32,5

1,2

61,6

0

0 20 40 60 80 100

%

mmHg

Biểu đồ 1 Sự thay đổi NA tại thời điểm khỏm lại

Theo tiờu chuẩn đó đặt ra, mức NA

≤ 23mmHg được đỏnh giỏ là thành cụng

Số mắt đạt được mức NA này chiếm

232/255 (91%), trong đú cú 30 mắt phải

dựng thờm thuốc tra hạ NA bổ sung,

chiếm 11,8% Số mắt cú NA sau mổ

bằng hoặc dưới 23mmHg mà khụng cần tra thuốc hạ NA bổ sung chiếm 79,2%

Tỷ lệ NA khụng thành cụng là 23/255 (9%), trong đú khụng cú trường hợp nào

NA trờn 32mmHg

3.2.3.1 Kết quả chung

Dựa vào tiờu chuẩn đỏnh giỏ kết quả chung của PT, tỷ lệ thành cụng và thất bại của PT được phõn bố như sau:

ư

45,5%

8,2%

46,3%

Hoàn toàn Tư ơng đối Thất bạ i

Biểu đồ 2 Kết quả chung của PT

Tỷ lệ thành cụng là 53,7%, trong đú thành cụng hoàn toàn là 45,5%

Tỷ lệ thất bại khỏ cao, chiếm 46,3%

Trang 5

3.2.3.2 Phân bố kết quả PT theo giai đoạn bệnh trước mổ

70,8

29,2 70,1

29,9 37,5 62,5

25 75

20 80

0 10 20 30 40 50 60 70 80

%

Biểu đồ 3 Phân bố kết quả phẫu thuật theo giai đoạn bệnh trước mổ

Biểu đồ 3.3 cho thấy số mắt được

đánh giá là thành công bao gồm thành

công hoàn toàn và thành công tương đối

chiếm tỷ lệ cao nhất nằm trong giai đoạn

sơ phát (70,8%) Tỷ lệ thành công giảm

dần từ giai đoạn sơ phát tới giai đoạn

tuyệt đối ở giai đoạn tuyệt đối, đánh giá

kết quả PT chỉ dựa trên thành công về

NA thì có 20% các trường hợp thành công Kết quả PT ở các giai đoạn khác nhau có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

3.2.3.3 Liên quan giữa mức NA sau mổ với kết quả PT

Bảng 4 Liên quan giữa mức NA sau mổ với kết quả phẫu thuật

Mức NA (mmHg)

Kết quả PT ≤ 18 ≤ 19 ≤ 20 ≤ 21 ≤ 22 ≤ 23

Tỷ lệ PT thành công(%) 96,5 92,4 88,1 85,7 68,4 53,7

Tỷ lệ PT thất bại (%) 3,5 7,6 11,9 14,3 31,6 46,3

Ở mức NA ≤ 23 mmHg tỷ lệ thành

công là 53,7% Tỷ lệ PT thành công tăng

dần ở các mức NA thấp hơn Đa số các

trường hợp (96,5%) đạt được kết quả

thành công khi NA ≤ 18 mmHg

3.2.3.4 Liên quan giữa NA trung bình

sau mổ với kết quả phẫu thuật ở các giai

đoạn bệnh

Trong nhóm kết quả PT thành

công, NA trung bình sau mổ được đánh

giá theo từng giai đoạn bệnh

Giai đoạn sơ phát có NA trung bình là 19,8 ± 2,0mmHg

Các giai đoạn còn lại có NA trung bình là 17,5 ± 1,3mmHg

Trong nhóm kết quả PT thành công, NA trung bình sau mổ của giai đoạn sơ phát lớn hơn NA trung bình của

4 giai đoạn còn lại có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

3.3 Tình trạng biến chứng

Trang 6

Bảng 5 Tình trạng biến chứng

Đục TTT là biến chứng có tỷ lệ

cao nhất 41/255 mắt, chiếm 16,1% Tỷ

lệ biến chứng vỡ dò sẹo bọng là 3,5%

(9/255), mức độ dò sẹo bọng rất khác

nhau

IV BÀN LUẬN

4.1 Nhận xét về đặc điểm bệnh nhân

4.1.1 Tuổi và giới

Độ tuổi trên 50 là chủ yếu

(103/141 số trường hợp), độ tuổi dưới 40

chỉ có 15/141 số trường hợp Kết quả này

là hợp lý, vì glôcôm nguyên phát thường

được phát hiện ở độ tuổi từ 55 đến 65,

rất ít khi gặp ở người trẻ

Trong toàn bộ nhóm BN nghiên

cứu, tỷ lệ BN nữ (63%) cao gần gấp đôi

BN nam (37%) Sự phân bố BN theo tuổi

và giới trong nghiên cứu của chúng tôi

cũng phù hợp với đặc điểm dịch tễ học

lâm sàng của glôcôm nguyên phát ở dân

số Châu Á

4.1.2 Hình thái và giai đoạn bệnh

Trong tổng số 255 mắt đã được mổ

cắt bè CGM, có 172 mắt (67,5%)

glôcôm góc đóng và 83 mắt (32,5%)

glôcôm góc mở Thực tế lâm sàng cũng

như kết quả thống kê cho thấy tỷ lệ BN

glôcôm góc đóng đến khám và điều trị

tại khoa glôcôm, bệnh viện Mắt trung

ương cao hơn tỷ lệ BN glôcôm góc mở

Kết quả này cũng hoàn toàn phù hợp với

nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế

giới đó là ở châu Á, glôcôm góc mở ít gặp hơn glôcôm góc đóng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, hầu hết BN của cả 2 nhóm glôcôm góc đóng và góc mở được PT cắt bè CGM khi bệnh đã ở giai đoạn muộn Trong tổng số 255 mắt được PT, thì chỉ có 48/255 mắt (18,8%) là chưa có tổn hại TTK và thị trường Kết quả này phù hợp với thực tế lâm sàng ở Việt Nam, hầu hết

BN đến khám khi bệnh đã ở giai đoạn muộn

4.2 Kết quả lâu dài sau PT

4.2.1 Sự biến đổi thị trường và giai đoạn bệnh

Nhìn chung, sau mổ cắt bè 7 năm

tỷ lệ thị trường ổn định chiếm tỷ lệ khá cao (54,3%) Thị trường mở rộng hơn để chuyển sang giai đoạn bệnh tốt hơn chiếm 2,9%, đây là những mắt bị cơn glôcôm cấp, NA tăng cao, sau mổ cả TL

và thị trường đều được cải thiện Tuy nhiên vẫn có một tỷ lệ thị trường bị tổn hại tiến triển

4.2.2 Tình trạng NA

NA là yếu tố nguy cơ có vai trò quan trọng nhất trong tiến triển của bệnh glôcôm Dựa vào chỉ số NA trung bình trước và sau PT có thể đánh giá hiệu quả

hạ NA của PT Xét riêng ở từng hình thái glôcôm, trong nghiên cứu của chúng tôi,

NA trung bình sau mổ của nhóm glôcôm

Trang 7

góc đóng là 19,3 ± 3,0 mmHg, của nhóm

glôcôm góc mở là 19,7 ± 5,4 mmHg NA

trung bình sau mổ của 2 hình thái đều

thấp hơn so với trước mổ có ý nghĩa

thống kê với p < 0,001 Điều này chứng

tỏ PT CBCGM có hiệu quả hạ NA ở cả

hai hình thái So sánh chỉ số NA trung bình

sau mổ giữa hai hình thái thấy sự khác nhau

không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Như vậy hiệu quả hạ NA sau PT là như

nhau ở cả hai hình thái glôcôm góc mở và

góc đóng Mức NA sau mổ được đánh giá

là thành công khi NA ≤ 21mmHg đo bằng

NA kế Goldmann (≤23mmHg đo bằng NA

kế Maclakov), tỷ lệ NA được đánh giá là

thành công sau mổ khá cao (91%)

4.2.3 Kết quả chung của PT

PT CBCGM đã được công nhận là

có hiệu quả hạ NA tốt Tỷ lệ NA đạt

được ở mức thành công khá cao Nhưng

mục đích của PT cắt bè CGM cũng như

các phương pháp điều trị bệnh glôcôm

khác là làm chậm lại quá trình tổn hại

tiến triển của bệnh Do đó PT cắt bè

CGM được đánh giá là thành công không

chỉ về chỉ số NA, mà quan trọng hơn là

sự ổn định, không có tổn hại tiến triển

của bệnh

Mặc dù sau PT, tỷ lệ NA thành

công khá cao, nhưng về mặt ổn định

bệnh thì có tỷ lệ thấp hơn nhiều Trong

nghiên cứu của chúng tôi, có 91% các

trường hợp đạt được NA ở mức thành

công, nhưng chỉ có 53,7% bệnh ổn định,

có tới 37,3% bệnh vẫn tổn hại tiến triển

Điều này càng khẳng định ngoài NA còn

có nhiều yếu tố khác tác động tới quá

trình tiến triển của bệnh glôcôm mà trong

phạm vi đề tài này chúng tôi chưa thể

khảo sát được như độ dày trung tâm giác

mạc, chiều dài trục nhãn cầu, dao động

NA trong ngày, một số bệnh toàn thân gây giảm cấp máu cho đầu TTK như tim mạch, tiểu đường,… Nhiều tác giả cũng

đã nhận định quá trình tiến triển của bệnh glôcôm là rất đa dạng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố và mang tính riêng biệt ở từng cá nhân Chính đó có thể là lý do tại sao mà ở mức NA được coi là thành công, thì chỉ có một số trường hợp bệnh ổn định, số khác bệnh vẫn tiếp tục tiến triển

4.2.4 Phân bố kết quả PT theo giai đoạn bệnh trước mổ

Đánh giá kết quả PT ở từng giai đoạn bệnh, chúng tôi thấy rằng tỷ lệ thành công

và thất bại khác nhau ở các giai đoạn bệnh

Tỷ lệ thành công giảm dần từ giai đoạn sơ phát (70,8%) tới giai đoạn tuyệt đối (2%) Trái với tỷ lệ thành công, tỷ lệ thất bại tăng dần từ giai đoạn sơ phát (29,2%) tới giai đoạn tuyệt đối (80%) Kết quả này cũng phù hợp với nhận định của nhiều tác giả cho rằng có sự khác nhau này do độ ổn định của TT và lõm đĩa cao nhất ở giai đoạn sơ phát và độ ổn định này cũng giảm dần theo giai đoạn bệnh Giai đoạn càng muộn, mức

độ tổn hại tiến triển của TT và gai thị càng nhiều do đó tỷ lệ PT thành công thấp

4.2.5 Liên quan giữa NA với kết qủa

PT

Đánh giá kết quả PT ở từng mức

NA sau mổ thấy rằng tỷ lệ PT thành công tăng dần khi NA giảm dần Khi NA

≤23mmHg thì chỉ có 53,7% các trường

hợp có kết quả PT thành công, tỷ lệ này

tăng lên tới 96,5% khi NA ≤18mmHg Như vậy khi NA sau PT ≤18mmHg thì

đa số các trường hợp có kết quả PT thành công, mức NA này là tương đối an toàn,

Trang 8

không có hoặc có rất ít tổn hại tiến triển

của TTK và TT ở mức NA này

Để đạt được kết quả PT thành

công, NA sau mổ phải giảm xuống tới

mức không gây tổn hại tiến triển cho đầu

TTK và thị trường Tuy nhiên mức NA

này lại khác nhau tuỳ thuộc trước mổ,

bệnh đã ở giai đoạn sớm hay muộn

Trong nghiên cứu của chúng tôi, xét

trong nhóm có kết quả PT thành công,

những BN trước mổ bệnh ở giai đoạn sơ

phát thì có NA trung bình sau mổ là 19,8

± 2,0mmHg, còn những BN ở các giai

đoạn đã có tổn hại TTK, TT thì NA trung

bình sau mổ là 17,5 ± 1,3mmHg Sự

khác nhau này có ý nghĩa thống kê với p

< 0,05, chứng tỏ để PT thành công,

những BN ở giai đoạn đã có tổn hại TTK

và TT thì sau mổ NA phải hạ thấp hơn

những BN chưa có tổn hại

4.3 Nhận xét về tình trạng biến

chứng

Tỷ lệ biến chứng của các nghiên

cứu khác nhau Tỷ lệ biến chứng là

31,8%, trong đó 5 mắt có đồng thời 3

loại biến chứng, 2 mắt có đồng thời 2

loại biến chứng Biến chứng đục TTT

với nhiều mức độ, hình thái đục khác

nhau Có trường hợp đục TTT phải PT

lấy TTT, thay TTT nhân tạo, có trường

hợp chưa có chỉ định mổ Tỷ lệ viêm

màng bồ đào chỉ gặp 12/255 trường hợp

(4,7%) Những trường hợp có biến chứng

này đa số (7/12) là những mắt đã mổ

CBCGM trên 2 lần Biến chứng vỡ dò

sẹo bọng gặp đứng hàng thứ hai sau biến

chứng đục TTT Biểu hiện lâm sàng khác

nhau ở mỗi trường hợp Có trường hợp sẹo dò nhiều, thuỷ dịch thoát ra ngoài, tự

BN phát hiện được, lại có những trường hợp dò thuỷ dịch kín đáo, chỉ phát hiện được khi thử nghiệm Seidel dương tính

Có 31/255 mắt (12,2%) tăng NA tái phát sau mổ, trong đó 11 mắt phải mổ cắt bè lại và cả 11 mắt đó đều có sự tổn hại tiến triển của bệnh Điều này càng khẳng định

NA là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiến triển của bệnh glôcôm

V KẾT LUẬN

- Phẫu thuật cắt bè CGM có hiệu quả

hạ NA tốt Sau mổ, NA đã giảm được 36% so với trước mổ, NA trung bình trước PT là 30,3 ± 5,8mmHg, sau PT giảm xuống chỉ còn 19,4 ± 3,9mmHg 91% các trường hợp sau mổ có NA hạ

xuống được ở mức ≤23mmHg

- Mặc dù sau mổ, tỷ lệ NA thành công cao nhưng tỷ lệ thành công của PT chỉ đạt 53,7%

- Sau mổ, ở mức NA càng thấp, tỷ lệ

thành công của PT càng cao ở mức NA ≤

18mmHg, tỷ lệ thành công của PT đạt tới 96,5% Cũng như vậy, tỷ lệ thành công của

PT đạt được cao hơn ở giai đoạn sớm của bệnh Để PT thành công, ở giai đoạn muộn, NA sau mổ cần phải được hạ thấp hơn ở giai đoạn sớm

- Số mắt có biến chứng chiếm tỷ lệ

là 31,8% Trong đó, 5 mắt có đồng thời 3 biến chứng, 2 mắt có đồng thời 2 biến chứng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 NGUYỄN TRỌNG NHÂN VÀ CỘNG SỰ (1982), “Phẫu thuật cắt bè củng giác mạc” Nhãn khoa thực hành số 1, 62- 64

Trang 9

2 NGUYỄN THỊ THANH THU (2002), Nghiên cứu nhãn áp trung bình của một nhóm

người Việt Nam trưởng thành bằng nhãn áp kế Goldmann, Luận văn Thạc sỹ Y học,

Đại học Y Hà Nội

3 EDMUNDS, THOMSON J.R., BUNCE C.V (2004), “Factors associated with success in first time trabeculectomy for patients at low risk of fairlure with chronic

open angle glaucoma”, Ophthalmology , 111(1), 97-103

4 EHRNROOTH P., PUSKA P., LEHTO I (2002), “Long-term outcome of

trabeculectomy in terms of intraocular pressure”, Acta Ophthalmol Scand, 80(3),

267-271

5 FAINGOLD D., FRANCIS C.J (2003), “Late complication of trabeculectomy”, J

Glaucoma, 12(4), 374-378

6 IKEDA H., ISHIGOOKA H., MUTO T (2004), “Long-term outcome of

trabeculectomy for the treatment of developmental glaucoma”, Arch Ophthalmol,

12(8), 1122-1128

7 JONAS J.B, MARTUS P., HORN F (2004), “Predictive factor of the optic nerve head for development or progression of glaucomatous visual field loss”, Invest

Ophthalmology Visual Sci, 45(8), 2613-2618

8 LABBE A, HARMARD P (2007), “Utility OCT in the follow up of glaucoma

surgery”, J Fr Ophthalmol, 30(3), 225-231

9 LAW S.K, NGUYEN A.M., COLEMAN A.L (2007), “Severe loss of central vision in

patients with advanced glaucoma undergoing trabeculectomy”, Arch Ophthalmol,

125(8), 1044-1050

10 SIHOTA R., GUPTA V., AGARWAL H (2004), “Long-term evaluate of trabeculectomy in POAG and PACG in an Asian population”, Clinical

Experiment Ophthalmol, 32(1), 23-28

SUMMARY

OUTCOME OF TRABECULECTOMY IN PRIMARY GLAUCOME TREATED

IN GLAUCOMA DEPARTMENT IN VIET NAM NATIONAL INSTITUT OF

OPHTHAMOLOGY

Objective: To determine the long term outcome and late complication of trabeculectomy Method: A cross retrospective study Patients suffered from primary

glaucoma and underwent trabeculectomy in the year 2000 for the first time Success of surgery was defined when IOP ≤ 23mmHg (Maclakov) and had no progressive

glaucomatous damage Results: 255 eyes of 141 patients underwent trabeculectomy

The mean IOP was 30.3 ± 5.8mmHg before surgery and dropped to 19.4 ± 3.9mmHg at the time of 7 years after operation 91% of eyes had IOP ≤ 23mmHg meanwhile success

of surgery was 53.7% In cases that IOP < 18mmHg, success of surgery was 96.5% Late complications comprised of cataract (16.1%), uveitis (4.7%), leaking bleb (3.5%),

recurrent elevated IOP (12.2%) Conclusion: The IOP reduced by trabeculectomy was

Trang 10

proven Although success of IOP was 91% but success of surgery was 53.7%, concurrently had some late complications of surgery

Ngày đăng: 20/01/2020, 12:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w