Nghiên cứu nhằm mục tiêu: So sánh giá trị điểm mMRC và CCQ trong đánh giá triệu chứng lâm sàng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Nghiên cứu mô tả phân tích trên 151 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại phòng khám hô hấp Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ 01/2009-01/2011.
Trang 1SO SÁNH GIÁ TRỊ ĐIỂM mMRC VÀ CCQ TRONG ĐÁNH GIÁ
TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
Lê Khắc Bảo*
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: GOLD2014khuyến cáo đánh giá triệu chứng lâm sàng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
(BPTNMT)bằng cách dùng 1 trong ba thang điểm mMRC, CAT hoặc CCQ với các điểm cắt tương ứng là 2, 10
và 1 – 1,5 GOLD không nêu rõ điểm số ưu tiên.Chứng cứcho thấy sử dụng thang điểm CAT hoặc mMRC dẫn đến hai kết quả phân loại khác nhau
Mục tiêu: So sánh giá trị điểm mMRC và CCQ trongđánh giá triệu chứng lâm sàng BPTNMT
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả phân tích trên 151 bệnh nhân BPTNMT tại
phòng khám hô hấp BVĐHYD từ 01/2009–01/2011 Chúng tôi xác định hệ số tương quan giữa mMRC và CCQ lần lượt với mức độ khó thở (BDI), khả năng gắng sức (6MWD), chất lượng cuộc sống (SGRQ).Hai phương trình hồi qui tuyến tính giữa mMRC và CCQ với SGRQ cho phép tính điểm cắt tương ứng của mMRC và CCQ
Kết quả: Hệ số tương quan giữa mMRC với BDI, 6MWD và SGRQ là – 0,74; – 0,50 và 0,64 (p < 0,01)
Hệ số tương quan giữa CCQ với BDI, 6MWD và SGRQ là – 0,70; – 0,47 và 0,73 (p < 0,01) Điểm cắt phân biệt triệu chứng ít hay nhiềucủa CCQ và mMRC đều bằng 1
Kết luận: Để đánh giá triệu chứng lâm sàng BPTNMT, CCQ có giá trị đại diện tốt hơn mMRC Điểm cắt
phân biệt triệu triệu chứng ít hay nhiều của mMRCvà CCQ đều bằng 1
Từ khóa: Khó thở, khả năng gắng sức, chất lượng cuộc sống, BPTNMT
ABSTRACT
COMPARISON VALUE OF mMRC AND CCQ FORSYMPTOM ASSESSMENT IN CHRONIC
OBSTRUCTIVE PULMONARY DISEASE
Le Khac Bao * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 1 - 2015: 541 - 548
Background: GOLD 2014 recommends the assessment of symptoms in chronic obstructive pulmonary
disease (COPD) using either one of three scales: mMRC, CAT or CCQ Their respective cut-off points are 2, 10 and 1 – 1.5 GOLD has not mentioned the preferred scale Evidence shows that the use of CAT or mMRC leads to two different classification results
Methodology: A descriptive cross sectional study was conducted on 151 patients with COPD at outpatient
respiratory department of Medical University Center at HCMC from Jan 2009 to Jan 2011.We find the correlation ratios between mMRC and CCQ with dyspnea severity (BDI), exercise capacity (6MWD), quality of life (SGRQ) The two linear regression equations between mMRC and CCQ with SGRQ allow calculating the respective cut–off points for mMRC and CCQ
Results: The correlation ratios between mMRC with BDI, 6MWD and SGRQ are – 0.74; – 0.50 and
0.64 respectively (p < 0.01) The correlation ratios between CCQ with BDI, 6MWD and SGRQ are – 0.70; – 0.47 and 0.73 respectively (p < 0.01) The cut–off points to differentiate more and less symptoms of both mMRC and CCQ are 1
* Bộ môn Nội, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 2Conclusion: To assess symptoms in COPD, CCQ has a higher representative value than mMRC The cut–
off points to differentiate more and less symptoms of both mMRC and CCQ are 1
Key words: dyspnea, exercise capacity, quality of life, COPD
ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm 2011, GOLD thay đổi khuyến cáo đánh
giá lâm sàng BPTNMT từ dựa trên một thành
phần sang nhiều thành phần: triệu chứng lâm
sàng, tiền căn đợt cấp, chức năng hô hấp8) Để
đánh giá thành phần triệu chứng lâm sàng,
GOLD 2014 khuyến cáo dùng 1 trong 3 thang
điểm mMRC, CAT hoặc CCQ nhưng lại không
xác định rõ nên ưu tiên dùng thang điểm nào9)
Paul Jones thấy rằng khi lấy điểm SGRQ làm
mốc, điểm cắt mMRC = 2 không tương đương
với điểm cắt CAT = 10 trong phân loại bệnh
nhân thành nhóm ít và nhiều triệu
chứng(12).Sunmin Kim nhận thấy thay đổi tiêu
chí phân loại từ mMRC sang CAT đã làm số
bệnh nhân được phân vào nhóm nhiều triệu
chứng (nhóm B, D) tăng đáng kể(16) Kết quả
nghiên cứu của Summin Kim cũng lập lại trên
nghiên cứu của Ciro Casanova(5)và củaDavid
Price(27) David Price thấy thay đổi tiêu chí phân
loại từ mMRC sang CAT làm thay đổi phân loại
của 53,6% bệnh nhân, trong số đó 99,6% chuyển
từ nhóm ít triệu chứng (nhóm A, C) sang nhóm
nhiều triệu chứng (nhóm B, D)(27) GOLD 2014
cũng thừa nhận điểm cắt CCQ = 1 – 1,5 là áp đặt
vì thiếu chứng cứ(9)
Nghiên cứu tương quan giữa các thang điểm
đại diện với các biến số đánh giá triệu chứng lâm
sàng BPTNMT cho phép xác định được thang
điểm ưu tiên đồng thời xác định được điểm cắt
chính xác cho từng thang điểm Vì thế chúng tôi
tiến hành đề tài nghiên cứu: “So sánh giá trị
điểm mMRC và CCQ trong đánh giá triệu chứng
lâm sàng BPTNMT”
Mục tiêu nghiên cứu
Tổng quát
So sánh giá trị điểm mMRC và CCQ trong
đánh giá triệu chứng lâm sàng BPTNMT
Chuyên biệt
Xác định hệ số tương quan giữa mMRC và CCQ lần lượt với BDI, 6MWD, SGRQ trong đánh giá triệu chứng lâm sàng BPTNMT
Xác định phương trình hồi qui tuyến tính giữa mMRC và CCQ với SGRQ và tính điểm cắt của mMRC và CCQ
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang mô tả phân tích
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân BPTNMT tại Tp.HCM và các tỉnh lân cận đến khám tại phòng khám hô hấp
BV.ĐHYD Tp.HCM từ tháng 01/2009 – 01/2011
Tiêu chuẩn nhận bệnh
Bệnh nhân thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn
chọn bệnh:
Nam hoặc nữ tuổi ≥ 40
-Có ≥ 1 triệu chứng lâm sàng chỉ điểm BPTNMT:
Khó thở khi gắng sức, dai dẳng, tiến triển nặng dần hàng tháng hay hàng năm
Ho, khạc đàm kéo dài ≥ 3 tuần
-Tiền căn tiếp xúc yếu tố nguy cơ:
Đã từng hay đang hút thuốc lá ≥ 10 gói.năm
và / hoặc
Đã từng hay đang tiếp xúc chất đốt sinh khối (biomass) ≥ 10 giờ.năm
FEV1/FVC sau trắc nghiệm giãn phế quản < 0,7
Tiêu chuẩn loại bệnh
Bệnh nhân vi phạm ít nhất một tiêu chuẩn loại bệnh:
-Tiền căn bệnh lý:
Hen suyễn, dãn phế quản, ung thư phế quản, lao phổi, bệnh phổi mô kẽ, cắt thùy phổi,
Trang 3thuyên tắc phổi, tràn dịch màng phổi, tràn khí
màng phổi, gù vẹo cột sống
Suy tim trái, đau thắt ngực không ổn định
hoặc nhồi máu cơ tim một tháng trước đó, tai
biến mạch máu não
Di chứng sốt bại liệt, chấn thương gãy xương
chi dưới, đoạn chi dưới, biến dạng khớp do viêm
khớp, suy tĩnh mạch chi dưới
-Tình trạng lúc khám:
Không hiểu tiếng Việt để trả lời các bộ câu
hỏi: mMRC, BDI, CCQ, SGRQ
Nhịp tim> 120 lần/phút, huyết áp > 180/100
mmHg Không thể hợp tác đo 6MWT
Có chống chỉ định đo phế thân ký (7,21) hoặc
không thể hợp tác đo phế thân ký
-Các xét nghiệm hỗ trợ:
X quang ± CT scan: lao phổi, dãn phế quản,
u phổi, bệnh phổi mô kẽ, tràn khí / dịch màng
phổi
Soi đàm: trực trùng kháng cồn acid
Điện tâm đồ ± siêu âm tim: rối loạn nhịp,
thiếu máu cơ tim, suy tim
Các biến số nghiên cứu
Đặc điểm dân số học
Tuổi – Giới – Chiều cao – Cân nặng
Tình trạng hút thuốc lá hiện tại
Tiền căn hút thuốc lá ± tiếp xúc chất đốt sinh
khối
Tiền căn đợt cấp BPTNMT: số đợt cấp trong
12 tháng trước đó
Triệu chứng lâm sàng
Mức độ khó thở đánh giá với bộ câu hỏi
mMRC (20) và BDI (19)
Khả năng gắng sức đánh giá với khoảng
cách đi bộ sáu phút 6MWD (2)
Chất lượng cuộc sống đánh giá với bộ câu
hỏi CCQ và SGRQ (9)
Chức năng hô hấp
Đánh giá với máy phế thân kế của hãng CareFusion (Hoa Kỳ):
Tắc nghẽn luồng khí đánh giá với % FEV1 so với dự đoán, tỷ lệ FEV1/ FVC
Tăng kháng lực đường thở đánh giá với % sGaw so với dự đoán
Ứ khí phế nang đánh giá với % FRC so với
dự đoán, tỷ lệ RV/TLC
Cách đánh giá các biến số nghiên cứu
Bệnh nhân tự đọc và trả lời câu hỏi mMRC, SGRQ, CCQ Nếu bệnh nhân không tự đọc được, bác sỹ sẽ đọc to cho bệnh nhân nghe, không giải thích thêm Bệnh nhân không mang
bộ câu hỏi về nhà trả lời, người thân đi kèm không được giải thích khibệnh nhân trả lời câu hỏi.Đối với bộ câu hỏi BDI: bác sỹ hỏi và cho điểm Một bác sỹ hỏi, cho điểm BDI trong suốt nghiên cứu để tránh biến thiên giữa hai người đánh giá.Trình tự trả lời mMRC, CCQ, SGRQ và cho điểm BDI, được thay đổi ngẫu nhiên để tránh kết quả trả lời bị tác động qua lại khi trả lời liên tiếp các bộ câu hỏi
Trắc nghiệm đi bộ sáu phút (6MWT)được thực hiện trên một hành lang dài 40 m, lót gạch 20x20 cm Hai bên hành lang, mỗi 5 m có một vạch đánh dấu giúp tính khoảng cách đi Hai ghế nhựa được đặt ở hai đầu hành lang để đánh dấu vị trí quanh lại Qui trình thực hiện và ghi nhận kết quả của 6MWT tuân thủ hướng dẫn ATS 2002(2)
Phân tích thống kê
Phần mềm SPSS 15.0 được sử dụng để lưu
trữ và xử lý dữ liệu
Phân tích tương quan đơn biến giữa mMRC
và CCQ lần lượt với BDI, 6MWD, SGRQ
Trang 4Vẽ biểu đồ tương quan đơn biến giữa
mMRC và CCQ với SGRQ, qua đó xác định
phương trình hồi qui tuyến tính và điểm cắt
của mMRC và CCQ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm dân số nghiên cứu
174 bệnh nhân đồng ý tham gia.23 bệnh nhân có tiêu chuẩn loại gồm:9 lao phổi, 4 gù vẹo, 3 dãn phế quản, 2 suy tim, 5 không thể đo phế thân ký Cuối cùng,151 bệnh nhân được thu dung
Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu
Đặc điểm dân số học (n = 151) Triệu chứng &chức năng phổi (n = 151)
mMRC: Điểm khó thở theo bộ mMRC BDI: Điểm khó thở tính theo chỉ số BDI SGRQ: Điểm chất lượng cuộc sống SGRQ CCQ: Điểm chất lượng cuộc sống CCQ 6MWD: Khoảng cách đi bộ 6 phút Post: Sau trắc nghiệm giãn phế quản
Hệ số tương quan giữa giữa mMRC và CCQ lần lượt với BDI, 6MWD, SGRQ
Bảng 2: Hệ số tương quan giữa mMRC, CCQ với BDI, 6MWD, SGRQ
mMRC: Điểm khó thở theo bộ mMRC BDI: Điểm khó thở tính theo chỉ số BDI SGRQ: Điểm chất lượng cuộc sống SGRQ
Trang 5Phương trình hồi qui tuyến tính giữa mMRC và CCQ với SGRQ; Điểm cắt mMRC và CCQ
Biểu đồ 1: Tương quan mMRC và SGRQ SGRQ:
Điểm chất lượng cuộc sống tính theo bộ câu hỏi SGRQ
mMRC: Điểm khó thở tính theo bộ câu hỏi khó thở mMRC
Phương trình hồi qui tuyến tính: mMRC = 0,04 x SGRQ
Biểu đồ 2: Tương quan CCQ và SGRQ SGRQ: điểm
chất lượng cuộc sống tính theo bộ câu hỏi SGRQ CCQ: điểm chất lượng cuộc sống tính theo bộ câu hỏi CCQ
Phương trình hồi qui tuyến tính: CCQ = 0,04 x SGRQ
Biểu đồ phân tán tương quan giữa mMRC
với SGRQ (Biểu đồ 1) giúp thành lập phương
trình hồi qui tuyến tính giữa mMRC và SGRQ
Biểu đồ phân tán tương quan giữa CCQ với
SGRQ (Biểu đồ 2) giúp thành lập phương trình
hồi qui tuyến tính giữa CCQ và SGRQ
Hai phương trình hồi qui tuyến tính giữa
mMRC, CCQ và SGRQ ở trên cho phép tính được
SGRQ = 25 tương đương CCQ = 1 và mMRC = 1
SGRQ = 25 được dùng làm điểm mốc phân loại
BPTNMT thành nhóm ít hay nhiều triệu
chứng(23) Do vậy, CCQ = 1 hay mMRC = 1 cũng
có thể làm điểm cắt phân loại BPTNMT thành
nhóm ít hay nhiều triệu chứng
BÀN LUẬN Tương quan giữa mMRC với mức độ khó thở, khả năng gắng sức, chất lượng cuộc sống
Bảng 3: Tương quan giữa mMRC với mức độ khó thở, khả năng gắng sức, chất lượng cuộc sống
Nghiên cứu Cỡ
mẫu
Mức
độ khó thở
Khả năng gắng sức
Chất lượng cuộc sống
Chhabra, S K.(6) 88 – 0,67 Camargo Lilia Azzi (4) 50 – 0,60 – 0,51
Nguyễn Ngọc Phương
Chúng tôi 151 – 0,74 – 0,50 0,64
Tất cả các hệ số tương quan đều có ý nghĩa thống kê với p < 0,01
Tương tự nghiên cứu của Camargo Lilia Azzi(4) và Lonneke M Boer(3), chúng tôi xác định tương quan cóý nghĩa thống kê mức độ vừa giữa mMRC với khả năng gắng sức Do
total SGRQ visit 1
0
1
2
3
4
MRC visit 1
MRC visit 1 = 0.04 * SGRQ_total_1
Linear Regression through the Origin
Điểm SGRQ Điểm SGRQ
Trang 6hệsố tương quan ở mức vừa, Lonneke M Boer
kết luận mMRC không thểđại diện khả năng
gắng sức và đề nghị GOLD 2011 nêu rõ vấn đề
này(3) Tuy nhiên trên thực hành, 6MWT và
SWT không phải là luôn khả thi trong đánh giá
khả năng gắng sức(17).Trong bối cảnh đó, điểm
mMRC vẫn có thểđại diện đánh giá khả năng
gắng sức.Denis E O’Donnell nêu mMRC như
thang đánh giá khả năng gắng sức quan trọng
ngoài 6MWT và SWT(26) Janwillem WH Kocks
khẳng định điểm mMRC và điểm CCQ chức
năng là phương tiện đánh giá khả năng gắng
sức tốt nhất trên lâm sàng(17)
Thang điểm SGRQ vẫn được xem là chuẩn
mực đểđánh giá triệu chứng lâm sàng tại các thử
nghiệm lâm sàng trong BPTNMT, điểm SGRQ =
25 được chứng minh là điểm cắt phân loại bệnh
nhân BPTNMT thành nhóm triệu chứng ít và
nhiều, trong đó SGRQ < 25 ít gặp trên bệnh nhân
BPTNMT, ngược lại SGRQ ≥ 25 ít gặp trên người
khỏe mạnh(1,23) Nghiên cứu chúng tôi xác định
SGRQ = 25 tương đương mMRC = 1 (Biểu đồ 1)
Khi dùng mMRC đại diện đánh giá triệu chứng
lâm sàng BPTNMT, điểm cắt phân loại thành
nhóm ít và nhiều triệu chứng nên là mMRC = 1
chứ không phải điểm cắt mMRC = 2 của
Điểm cắt mMRC = 2 do GOLD đề nghị thực
sự là chủđề cho nhiều tranh luận Nghiên cứu của
Sunmin Kim trên 257 bệnh nhân BPTNMT cho
thấy thay đổi tiêu chí phân loại dựa trên mMRC
hay CAT làm thay đổi khá lớn kết quả phân
loại(16) Kết quả nghiên cứu này đã được khẳng
định một lần nữa trong nghiên cứu của David
Price trên 1659 bệnh nhân BPTNMT(27): thay đổi
tiêu chí phân loại dựa trên mMRC = 2 sang CAT
= 10 dẫn đến thay đổi phân loại của 890 (54%)
bệnh nhân, trong đó 99,7% đổi từ nhóm ít triệu
chứng (A/C) sang nhóm nhiều triệu chứng (B/D),
chỉ 0,3% đổi ngược từ nhóm nhiều triệu chứng
(B/D) sang ít triệu chứng(27) Điểm cắt mMRC = 2
dường như phân nhóm “dưới mức” trong khi đó
điểm cắt CAT = 10 phân nhóm “quá mức” triệu chứng BPTNMT Điều này dẫn đến nhu cầu phải chọn lại điểm cắt mMRC và/hoặc CAT sao cho phân loại dựa trên hai tiêu chí tương đồng David Price sử dụng thuật toán thống kê Kappa và đường cong ROC đề nghịđiểm cắt CAT = 24 – 26 tương đương mMRC = 2(27), nghĩa là chấp nhận CAT phân nhóm “quá mức” triệu chứng Paul W Jones, ngược lại, dựa trên phân tích tương hợp giữa mMRC và CAT đề nghịđiểm cắt mMRC = 1 tương đương CAT = 10(12), nghĩa là chấp nhận mMRC phân nhóm “dưới mức” triệu chứng Chúng tôi ủng hộđề nghị của Paul W Jones với lý
do là điểm cắt CAT = 10 đã được tính toán dựa trên phương trình hồi qui tuyến tính: CAT = 1,54 + 0,36 x SGRQ chứng minh CAT = 10 tương đương SGRQ = 25, là điểm mốc phân loại bệnh nhân thành nhóm ít hay nhiều triệu chứng(13) Nói cách khác, điểm cắt mMRC = 2 đã phân nhóm “dưới mức”, chứ không phải điểm cắt CAT
= 2 phân nhóm “quá mức” triệu chứng BPTNMT
Tương quan đơn biến giữa CCQ với mức độ khó thở, khả năng gắng sức, chất lượng cuộc sống
Bảng 4: Tương quan giữa CCQ với mức độ khó thở, khả năng gắng sức, chất lượng cuộc sống
Nghiên cứu n Mức độ
khó thở
Khả năng gắng sức
Chất lượng cuộc sống
Lonneke M
Thys van der
Björn
Chúng tôi 151 – 0,70 – 0,47 0,73
Tương tự nghiên cứu của các tác giả (3,29, 35), nghiên cứu chúng tôi xác định CCQ tương quan mạnh với mức độ khó thở và chất lượng cuộc sống, nhưng chỉ tương quan vừa với khả năng gắng sức Như vậy, trên lý thuyết, CCQ có thể đại diện đánh giá mức độ khó thở và chất lượng cuộc sống, nhưng không thể đại diện đánh giá khả năng gắng sức Tuy nhiên trên thực hành, cũng như mMRC(25,26), CCQ vẫn có thể được dùng đại diện đánh giá khả năng gắng sức(17)
Trang 7Khi dùng CCQ làm đại diện đánh giá triệu
chứng lâm sàng BPTNMT, điểm cắt CCQ = 1 từ
nghiên cứu chúng tôi (Biểu đồ 2) cũng nằm
trong khoảng giá trị CCQ từ 1 – 1,5 do GOLD
2014 đề nghị(9) Trong phạm vi hiểu biết của
chúng tôi, hiện chưa có nhiều nghiên cứu công
bố về điểm cắt CCQ trong BPTNMT(15)
So sánh giữa mMRC và CCQ vềgiá trị đại
diện đánh giá triệu chứng lâm sàng BPTNMT,
nghiên cứu chúng tôi xác định điểm CCQ tương
quan mạnh với đồng thời chất lượng cuộc sống
và khó thở, tương quan vừa với khả năng gắng
sức, trong khi đó mMRC chỉ tương quan mạnh
với khó thở, tương quan vừa với chất lượng cuộc
sống và khả năng gắng sức (Bảng 2) Kết quả
này gợi ý khả năng đại diện đánh giá triệu
chứng lâm sàng BPTNMT của CCQ tốt hơn
mMRC
Đề xuất này cũng phù hợp với suy luận
thông thường là CCQ bao gồm ba phần đánh giá
triệu chứng (ho, khó thở), chức năng và tâm
thần(35), mMRC chỉ đánh giá khó thở nên có thể
đánh giá sót các triệu chứng khác như ho, khạc
đàm(20) Khó thở là triệu chứng quan trọng
nhưng không phải là duy nhất trong BPTNMT,
ho kéo dài, khạc đàm thường là triệu chứng xuất
hiện đầu tiên, đồng thời là yếu tố tiên lượng đợt
cấp, nhập viện và tiến triển nặng hơn của
BPTNMT(34) Hiện nay, SGRQ là thước đo đánh
giá triệu chứng lâm sàng tin cậy vì có đề cập
nhiều khía cạnh khác nhau trong BPTNMT(9)
Nghiên cứu chúng tôi xác định SGRQ tương
quan mạnh với CCQ nhưng chỉ tương quan vừa
với mMRC (Bảng 2).Nghiên cứu của các tác giả
khác cũng xác định tương quan mạnh giữa CCQ
và SGRQ(29,35) và ủng hộ đề xuất dùng CCQ thay
SGRQ đánh giá chất lượng cuộc sống và triệu
chứng lâm sàng BPTNMT(34)
Nghiên cứu chúng tôi không cho phép so
sánh trực tiếp CCQ và CAT về giá trị đại diện
đánh giá triệu chứng lâm sàng BPTNMT vì
không có số liệu, tuy nhiên có thể cho phép so
sánh gián tiếp thông qua các nghiên cứu khác
Bảng 5: Tương quan đơn biến giữa SGRQ với CCQ
và CAT
Nghiên cứu Cỡ
mẫu
SGRQ &
CCQ
SGRQ &
CAT Trị số p
Ioanna G Tsiligianni(32) 90 0,77 0,65 < 0,01
Chúng tôi 151 0,73 < 0,01
Nghiên cứu của Paul W Jones và Björn Ställberg được thiết kế nhằm kiểm định lần lượt CAT và CCQ bằng cách so sánh với SGRQ Dù hai nghiên cứu này không so sánh trực tiếp CAT
và CCQ trên cùng dân số, hệ số tương quan giữa SGRQ lần lượt với CAT (r=0,80) và CCQ (r=0,84) trong hai nghiên cứu đều rất cao và tương đương nhau gợi ý vai trò tương đương giữa CAT và CCQ trong đánh giá chất lượng cuộc sống và triệu chứng lâm sàng BPTNMT(15,29) Kết quả trên được khẳng định lại một lần nữa trong hai nghiên cứu so sánh đối đầu trực tiếp CAT và CCQ của Thomas Ringbaek(28) và Ioanna G Tsiligianni(32) Thomas Ringbaek so sánh CAT và CCQ trên 90 bệnh nhân BPTNMT giai đoạn nặng tham gia phục hồi chức năng hô hấp(28), Ioanna G Tsiligianni so sánh CAT và CCQ trên 90 bệnh nhân BPTNMT ở mọi giai đoạn nặng của bệnh(32) Cả hai nghiên cứu đều thấy vai trò tương đương giữa CAT và CCQ Sự khác biệt nếu có giữa CAT và CCQ, như đã chỉ
ra từ nghiên cứu của Ioanna G Tsiligianni, chỉ là
sự ưa thích sử dụng của bệnh nhân mà thôi, trong đó 61% bệnh nhân cho rằng CCQ phản ảnh tốt triệu chứng hơn CAT vì có nhiều chi tiết hỏi về khó thở vốn quan trọng với bệnh nhân hơn là câu hỏi về giấc ngủ hay là sức sống (energy)(32)
Nghiên cứu kiểm định CAT tại Việt Nam của Thái Thị Thùy Linh trên 100 bệnh nhân tại bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM cho r = 0,51 tương quan giữa CAT và SGRQ(31) Hệ số này thấp hơn hệ số r = 0,73 tương quan giữa CCQ và SGRQ từ nghiên cứu chúng tôi Tuy nhiên, sẽ là
Trang 8trong đánh giá chất lượng cuộc sống và triệu
chứng lâm sàng BPTNMT tại Việt Nam Hệ số
tương quan r = 0,51 trong nghiên cứu của Thái
Thị Thùy Linh có thể là ngoại lệ vì thấp hơn rất
nhiều so với kết quả các nghiên cứu kiểm định
CAT từng thực hiện Các nghiên cứu kiểm định
CAT bằng cách xác định hệ số tương quan giữa
CAT và SGRQ tại Hoa Kỳ (n = 277) cho r =
0,80(15), tại Nhật Bản (n= 301) cho r = 0,82(33), tại
Hàn Quốc (n= 100) cho r = 0,76(11) Nghiên cứu
kiểm định CAT trên 100 bệnh nhân tại bệnh viện
Bạch Mai của Tạ Hữu Duy cho hệ số tương quan
r = 0,80(30) Như vậy, hệ số tương quan r giữa
CAT và SGRQ trong các nghiên cứu cũng tương
tự hệ số r giữa CCQ và SGRQ trong nghiên cứu
chúng tôi
Tổng quan kết quả 36 nghiên cứu chất lượng
về CAT đã thực hiện từ năm 2009 cho hệ số
tương quan trực tiếp giữa CAT và CCQ trên
BPTNMT ngoài đợt cấp dao động trong khoảng
0,68 – 0,78(10) CCQ và CAT vẫn tương quan
mạnh trong và sau đợt cấp BPTNMT bất kể đợt
cấp phải nhập viện hay chỉ cần điều trị ngoại trú
với r = 0,75 – 0,78(22) Kết quả này một lần nữa
khẳng định có thể dùng CCQ hay CAT đại diện
đánh giá triệu chứng lâm sàng BPTNMT với vai
trò như nhau
KẾT LUẬN
Để đánh giá triệu chứng lâm sàng BPTNMT,
CCQ có giá trị đại diện tốt hơn mMRC Điểm cắt
phân biệt triệu triệu chứng ít hay nhiều của
mMRC và CCQ đều bằng 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Agusti A, et al (2010)."Characterisation of COPD heterogeneity
in the ECLIPSE cohort" Respir Res, vol 11, pp 122
2 American Thoracic Society (2002) "ATS statement: guidelines
for the six-minute walk test" Am J Respir Crit Care Med, vol
166(1), pp 111-7
3 Boer LM, et al (2012) "How do dyspnoea scales compare with
measurement of functional capacity in patients with COPD and
at risk of COPD?" Prim Care Respir J, vol 21(2), pp 202-7
4 Camargo LA, et al (2010) "Dyspnea in COPD: beyond the
modified Medical Research Council scale" J Bras Pneumol, vol
36(5), pp 571-8
5 Casanova C et al (2014) "New GOLD classification:
longitudinal data on group assignment" Respir Res, vol 15, p 3
6 Chhabra SK, et al (2009) "Evaluation of three scales of dyspnea
in chronic obstructive pulmonary disease" Ann Thorac Med, vol 4(3), pp 128-32
7 Cooper BG (2011)."An update on contraindications for lung function testing" Thorax, vol 66(8), pp 714-23
8 Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (2011) Global Strategy for the Diagnosis, Management and Prevention
of Chronic Obstructive Pulmonary Disease
9 Global Initiative for Chronic Obstructive Lung Disease (2014) Global Strategy for the Diagnosis, Management and Prevention
of Chronic Obstructive Pulmonary Disease
10 Gupta N, et al (2014) "The COPD assessment test: a systematic review" Eur Respir J 44(4): 873 - 884
11 Hwang YI, et al (2013) "A Validation Study for the Korean Version of Chronic Obstructive Pulmonary Disease Assessment Test (CAT) "Tuberc Respir Dis (Seoul), vol 74(6), pp 256-63
12 Jones PW, et al (2013) "Comparisons of health status scores with MRC grades in COPD: implications for the GOLD 2011 classification" Eur Respir J, vol 42(3), pp 647-54
13 Jones, PW, et al (2011) "Properties of the COPD assessment test
in a cross-sectional European study" Eur Respir J, vol 38(1), pp 29-35
14 Jones PW, et al (2012) "Patient-centred assessment of COPD in primary care: experience from a cross-sectional study of health-related quality of life in Europe" Prim Care Respir J, vol 21(3),
pp 329-36
15 Jones PW, et al (2009) "Development and first validation of the COPD Assessment Test" Eur Respir J, vol 34(3), pp 648-54
16 Kim S, et al (2013) "Differences in classification of COPD group using COPD assessment test (CAT) or modified Medical Research Council (mMRC) dyspnea scores: a cross-sectional analyses" BMC Pulm Med, vol 13, pp 35
17 Kocks JW, et al (2011) "Functional status measurement in COPD: a review of available methods and their feasibility in primary care" Prim Care Respir J, vol 20(3), pp 269-75
18 Kon SS, et al (2014) "The clinical chronic obstructive pulmonary disease questionnaire: cut point for GOLD 2013 classification"
Am J Respir Crit Care Med, vol 189(2), pp 227-8
19 Mahler DA, et al (1984) "The measurement of dyspnea Contents, interobserver agreement, and physiologic correlates
of two new clinical indexes" Chest, vol 85(6), pp 751-8
20 Mahler DA, Wells CK (1988) "Evaluation of clinical methods for rating dyspnea" Chest, vol 93(3), pp 580-6
21 Miller MR, et al (2005) "General considerations for lung function testing" Eur Respir J, vol 26(1), pp 153-61
22 Miravitlles M, et al (2013) "Course of COPD assessment test (CAT) and clinical COPD questionnaire (CCQ) scores during recovery from exacerbations of chronic obstructive pulmonary disease" Health Qual Life Outcomes, vol 11, pp 147
23 Miravitlles M, et al (2009) "Prevalence of COPD in Spain: impact of undiagnosed COPD on quality of life and daily life activities" Thorax, vol 64(10), pp 863-8
24 Nishimura K, et al (2014) "Reanalysis of the Japanese experience using the combined COPD assessment of the 2011 GOLD classification" Respir Investig, vol 52(2), pp 129-35
25 Nguyễn Ngọc Phương Thư, Lê Thị Tuyết Lan (2005) "Khảo sát
sự tương quan giữa mức độ khó thở và FEV1 với chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính" Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 9(1), tr 11 - 15
Trang 926 O'Donnell DE, et al (2014) "Activity restriction in mild COPD: a
challenging clinical problem" Int J Chron Obstruct Pulmon Dis,
vol 9, pp 577-88
27 Price DB, et al (2014) "Real-world characterization and
differentiation of the Global Initiative for Chronic Obstructive
Lung Disease strategy classification" Int J Chron Obstruct
Pulmon Dis, vol 9, pp 551-61
28 Ringbaek T, et al (2012) "A comparison of the assessment of
quality of life with CAT, CCQ, and SGRQ in COPD patients
participating in pulmonary rehabilitation" COPD, vol 9(1), pp
12-5
29 Stallberg B, et al (2009)."Validation of the clinical COPD
Questionnaire (CCQ) in primary care" Health Qual Life
Outcomes, vol 7, pp 26
30 Tạ Hữu Duy (2011) Nghiên cứu áp dụng bộ câu hỏi CAT đá nh
giá chất lượng cuộc sống bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Trung
tâm Hô hấp bệnh viện Bạch Mai Luận án thạc sỹ y học Trường
đại học Y Hà Nội
31 Thái Thị Thùy Linh, Lê Thị Tuyết Lan (2012) "Ứng dụng bộ câu
hỏi CAT phiên bản tiếng Việt đểđánh giá chất lượng cuộc sống
ởbệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính" Y học thành phố
Hồ Chí Minh, tập 16(1), tr 33-38
32 Tsiligianni IG, et al (2012) "Assessing health status in COPD A head-to-head comparison between the COPD assessment test (CAT) and the clinical COPD questionnaire (CCQ)" BMC Pulm Med, vol 12, pp 20
33 Tsuda T, et al (2012) "Development of the Japanese version of the COPD Assessment Test" Respir Investig, vol 50(2), pp 34-9
34 Van der Molen T, et al (2013) "COPD management: role of symptom assessment in routine clinical practice" Int J Chron Obstruct Pulmon Dis, vol 8, pp 461-71
35 Van der Molen T, et al (2003) "Development, validity and responsiveness of the Clinical COPD Questionnaire" Health Qual Life Outcomes, vol 1, pp
Ngày nhận bài báo: 07/11/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/10/2014 Ngày bài báo được đăng: 10/01/2015