Mục đích: đánh giá kết quả chẩn đoán và điều trị vỡ tá tràng ở những bệnh nhân đã được mổ từ các bệnh viện tỉnh chuyển lên và số bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy. Phương pháp và số liệu:Trong thời gian từ tháng 8/1998 tới tháng 3/2004 có 50 hồ sơ được phân tích hồi cứu cho thấy: chỉ định mổ còn muộn, 82,4% số ca mổ sau 12 giờ trong đó có 7,1% số ca mổ sau 48 giờ, đặc biệt với những trường hợp vỡ tá tràng mặt sau ngoài phúc mạc chẩn đoán hết sức chậm trễ; chẩn đoán hướng tới vỡ tá tràng trước mổ chỉ có 14,9%.
Trang 1NHỮNG SAI LẦM TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ VỠ TÁ TRÀNG: NHÂN 50 TRƯỜNG HỢP
Nguyễn Minh Hải, Lâm Việt Trung, Tôn Thất Bửu, Phạm Kim Hiếu,
Hồ Cao Vũ, Ung Văn Việt *
TÓM TẮT
Mục đích: đánh giá kết quả chẩn đoán và điều trị vỡ tá tràng ở những bệnh nhân đã được mổ từ các bệnh viện tỉnh chuyển lên và số bệnh nhân điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy
Phương pháp và số liệu:Trong thời gian từ tháng 8/1998 tới tháng 3/2004 có 50 hồ sơ được phân tích hồi cứu cho thấy: chỉ định mổ còn muộn, 82,4% số ca mổ sau 12 giờ trong đó có 7,1% số ca mổ sau 48 giờ, đặc biệt với những trường hợp vỡ tá tràng mặt sau ngoài phúc mạc chẩn đoán hết sức chậm trễ; chẩn đoán hướng tới vỡ tá tràng trước mổ chỉ có 14,9% Kết quả: 3/26 (11,5%) trường hợp ở bệnh viện tỉnh chuyển lên bỏ sót tổn thương ở mặt sau tá tràng và dạ dày Tỉ lệ bục xì tổn thương tá tràng sau mổ lần đầu tại các bệnh viện tuyến tỉnh còn cao 10/23 bệnh nhân (43,5%) cho thấy phương pháp xử lý chưa thích hợp với tình trạng tổn thương Trong số 24 ca mổ lần đầu tại bệnh viện Chợ Rẫy, không có trường hợp nào bục xì tổn thương tá tràng, chỉ có 1
ca dò chân ống đặt nuôi ăn tại hỗng tràng Tỉ lệ tử vong nói chung là 10%, đã giảm đáng kể so với các thời kỳ trước đây là 25% (1980-1992) trong đó chỉ có 3(6%) trường hợp tử vong liên quan tới bục tá tràng, 2 trường hợp còn lại tử vong do sốc chấn thương và hôn mê do chấn thương sọ não
Kết luận: Để có thể chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời cần tìm hiểu rõ cơ chế tổn thương, chụp XQ hoặc CT có uống thuốc cản quang tan trong nước, nội soi chẩn đoán nếu nghi nghờ Dẫn lưu tốt dịch tiêu hóa ở khung tá tràng là chìa khóa của thành công đối với tổn thương tá tràng Phương pháp khâu tá tràng và đặt ống hút giảm áp ở dạ dày cho những tổn thương nhỏ, đơn giản và nối Roux en Y vào tổn thương tá tràng cho những tổn thương lớn, phức tạp, mổ lại nhiều lần có kết quả tốt Không nên nối vị tràng mà không loại trừ môn vị vàkhông dẫn lưu trực tiếp qua chỗ vỡ trong điều trị vỡ tá tràng
SUMMARY
PITFALLS IN DIAGNOSIS AND TREATMENT OF DUODENAL INJURY: 50 CASES
EXPERIENCE
Nguyen Minh Hai, Lam Viet Trung, Ton That Buu, Pham Kim Hieu, Ho Cao Vu, Ung Van Viet
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 8 * Supplement of No 3 * 2004: 88 - 93
To evaluate diagnosis and treatment of duodenal injury of those patients treated at provincial hospitals and some patients treated at ChoRay hospital, we have retrospectively reviewed 50 cases of duodenal injury operated on from 8/1998 to 3/2004 The study showed: 82.4% of patients operated 12 hours after injury and 7.1% after 48 hours The diagnosis was especially very late for the posterior duodenal ruptures Preoperative diagnosis of duodenal ruptures was only 14.9%
Results: 11.5% cases transferred from provincial hospital have missed lesions on the posterior sides of duodenum and stomach 43.5% of patients from provincial hospitals developed duodenal fistula in post-suturing of duodenum have suggested an anappropriate treatments In 24 cases operated at ChoRay hospital,
Khoa Ngoại Tiêu Hóa, Bệnh viện Chợ Rẫy
* Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy
Trang 2no duodenal fistula was encountered Only one case had leakage the site of jejunostomy Mortality rate was 10% (compared to the previous period: 25% (1980-1992)), in which 3 patients (6%) died in related with duodenal fistula, the other two died of traumatic shock and brain injury
Conclusion: To have early diagnosis and appropriate management of duodenal injury, it should be better find out trauma mechanism and in case of suspection, water-soluble X ray or enhanced CT scan or explorative laparoscopy seem to be useful Adequate decompression of duodenal lumen is key to success Duodenal suturing and gastrostomy is apprpriate for small and simple duodenal injuries For the more complicate cases (big lesions, reoperated cases…), an Roux en Y to the duodenal lesions brings good results Gastrojejunostomy without pyloric exclusion and direct drainage of the duodenal lesions should not be done
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vỡ tá tràng là một cấp cứu ngoại khoa có tỉ lệ tử
vong và biến chứng cao Phương pháp xử lý đa dạng
và còn nhiều bàn cãi(1,2,3) Mục đích của nghiên cứu
này là đánh giá kết quả điều trị vỡ tá tràng ở những
bệnh nhân đã được điều trị từ các bệnh viện tỉnh
chuyển lên và số bệnh nhân điều trị tại bệnh viện
Chợ Rẫy để rút ra những kinh nghiệm trong chẩn
đoán và xử lý
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Trong thời gian từ tháng 8/1998 tới tháng
3/2004: 50 hồ sơ bệnh án vỡ tá tràng được phân tích
và đánh gia,ù đối chiếu với kết quả điều trị 24 bệnh
nhân được mổ lần đầu tại bệnh viện Chợ Rẫy và 26
bệnh nhân khác được mổ từ các bệnh viện tỉnh như:
Lâm Đồng, Tây Ninh, Daklak, Tiền Giang, Đồng Nai,
….chuyển tới Bệnh viện Chợ Rẫy sau mổ
Nhửng sai lầm trong chẩn đoán và xử
trí
Chỉ định mổ muộn
Chỉ định mổ muộn dẫn tới tình trạng viêm phúc
mạc nặng là nguyên nhân của tử vong cao và nhiều
biến chứng sau mổ(1) Chỉ có 12/42 (28,6%) được mổ
trước 12 giờ sau khi chấn thương 40% các trường
hợp mổ từ 12 h tới 24 h (bảng 1)
Bảng 1: Thời gian chỉ định mổ sau chấn thương:
Thời gian chỉ
định mổ
Số ca (%) 12/42
(28,6%)
17/42 (40%)
10/42 (23%)
3/42 (7,1%)
Điều này cho thấy chỉ định mổ ở những trường hợp có vỡ tá tràng còn rất chậm trễ Một trong những lý do dẫn đến tình trạng chẩn đoán chậm là bệnh nhân thường vào trong tình trạng đa thương: chấn thương sọ não, gãy xương, chấn thương ngực bụng…làm khó khăn cho đánh giá tình trạng bụng Việc chẩn đoán những trường hợp vỡ tá tràng mặt sau cũng rất khó khăn, Có 3 ca chỉ được chỉ định mổ sau 48 h Rõ ràng sự thiếu kinh nghiệm của các bác sĩ là một trong những lý do chính dẫn tới sự chẩn đoán chậm trễ này
Tỉ lệ chẩn đoán chính xác vỡ tá tràng còn thấp
Trong 50 trường hợp, chẩn đoán vỡ tá tràng chỉ đặt ra ở 7/47 ca (14,9%) Dấu hiệu liềm hơi dưới hoành gặp ở 4/24 ca (số bệnh nhân tới bệnh viện Chợ Rẫy ngay sau chấn thương) Hình ảnh hơi sau phúc mạc và quanh thận phải chỉ có 2/ 23 bênh nhân (8,6%) Đa số các trường hợp được chẩn đoán là viêm phúc mạc do vỡ tạng rỗng do chấn thương hoặc xuất huyết nội Vấn đề chẩn đoán chính xác vỡ tá tràng trước mổ còn thấp do phẫu thuật viên không tìm hiểu rõ cơ chế tổn thương; chỉ định phẫu thuật cấp cứu chỉ dựa trên tình trạng viêm phúc mạc và xuất huyết nội Một số trường hợp vỡ tá tràng mặt sau thường khó chẩn đoán do không có tình trạng viêm phúc mạc Chúng tôi có 2 trường hợp vỡ tá tràng măt sau chỉ định mổ sau 3 ngày và 1 trường hợp sau 10 ngày Bệnh nhân không có tình trạng viêm phúc mạc và vẫn còn nhu động ruột Khi khám thấy bụng chướng nhẹ, không có đề kháng nhưng co ùhội chứng nhiễm trùng rõ Chụp CT bụng có cản quang thấy tụ dịch vùng quanh thận phải dễ làm nhầm lẫn với tụ máu
Trang 3sau phúc mạc Chỉ định nội soi chẩn đoán đặt ra khi
chúng tôi không xác định rõ viêm phúc mạc ở 2
trường hợp đầu Nội soi ổ bụng cho thấy khối tụ dịch
màu vàng có lẫn bọt khí nhỏ ở sau phúc mạc dọc
theo mạc treo đại tràng xuống vùng tiểu khung Hình
ảnh này cho phép chúng tôi chẩn đoán được vỡ tá
tràng mặt sau và chuyển sang mổ hở Trường hợp
thứ 3 chỉ được chẩn đoán sau 10 ngày khi phát hiện
ra khối tụ dịch vùng thắt lưng lan xuống bẹn Bệnh
nhân được điều trị kháng sinh nên tình trạng nhiễm
trùng bị lu mờ Mặt khác, sự thiếu kinh nghiệm của
bác sĩ điều trị trong trường hợp này cũng là lý do cho
sự chẩn đoán muộn màng
Bỏ sót tổn thương khi mổ
Vở Tá tràng mặt sau không chỉ khó khăn trong
chẩn đoán mà còn dễ bị bỏ sót ngay khi đã mở bụng
nếu phẫu thuật viên không có kinh nghiệm về phẫu
thuật vùng tá tụy Nếu chúng ta không làm thủ thuật
Kocher để lật toàn bộ khối tá tụy thì sẽ dễ bỏ sót tổn
thương ở vùng này(1,3) Có 3 (3/26-11,5%) trường hợp
đã mổ từ bệnh viện tỉnh chuyển lên bệnh viện Chợ
Rẫy sót tổn thương ở mặt sau D3 tá tràng và mặt sau
dạ dày Cả 3 trường hợp này đều kèm theo các tổn
thương khác như vỡ dạ dày mặt trước, hồi tràng, tá
tràng mặt trước Phẫu thuật viên chỉ chú ý tới những
tổn thương này mà quên mất không thám sát vùng
sau của tá tràng
Đặc biệt khó khăn cho chẩn đoán khi có tổn
thương vùng móc tụy kèm theo vỡ tá tràng D3
Trong trường hợp này, do tổn thương những mạch
máu từ móc tụy đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng
trên (TMMTTT) và các nhánh động mạch của tụy
nên máu chảy nhiều và thường tạo ra một khối
máu tụ lớn do có các lá mạc treo dạ dày, đại tràng
ở phía trước và dưới che lấp cả tổn thương của tá
tràng phía sau Phẫu thuật viên không có kinh
nghiệm về phẫu thuật tá tụy thường gặp nhiều khó
khăn khi đi vào vùng này Không có cách nào khác
là phải lấy toàn bộ khối máu tụ để tìm rõ tổn
thương và luôn phải chú ý tới tĩnh mạch mạc treo
tràng trên để tránh gây tổn thương nó Chúng tôi
gặp 3 trường hợp vỡ tá tràng D3 kèm theo vỡ móc
tụy chỉ được xử trí kỳ đầu là khâu chỗ tụ máu ở mạc treo đại tràng và đặt dẫn lưu cạnh tá tràng tại Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện tỉnh Do không cầm máu được từ chỗ vỡ móc tụy ôm quanh TMMTTT nên khối máu tụ ngày càng lan rộng 1 trường hợp tử vong do mất máu nhiều mặc dù can thiệp lại ngay sau mổ đã tìm rõ tổn thương và khâu cầm máu những mạch máu từ TMMTTT và mặt vỡ móc tụy 2 trường hợp còn lại phát hiện chảy dịch tiêu hóa và máu sau 48 giờ qua dẫn lưu cạnh tổn thương được mổ lại
Trong trường hợp tổn thương nhỏ ở măt sau tá tràng, việc tìm tổn thương trong mổ cũng hết sức khó khăn Ngay trong thời kỳ học tập tại Pháp chúng tôi tham gia một ca mổ nghi vỡ tá tràng Phẫu thuật viên đã phải bơm xanh Metylen qua ống thông dạ dày nhưng cũng không tìm thấy tổn thương Sau 1 tuần, bênh nhân phải mổ lại do vỡ tá tràng mặt sau
Bục, xì chỗ khâu tá tràng
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới bục chỗ khâu tá tràng như: tình trạng tại chỗ vỡ tá tràng; mức độ viêm phúc mạc; phương pháp và kỹ thuật xử trí
Do đặc điểm về giải phẫu và sinh lý vùng này phức tạp: khung tá tràng như bị đóng lại bởi ở trên là môn vị, ở dưới là góc Treitz bị kéo cao lên trong khi với một đoạn ruột dài khoảng 12 cm mà chứa một lượng dịch tiết trong 24 giờ khoảng 5-6 lit bao gồm dịch dạ dày tá tràng: 2-3 lít, dịch mật: 500-1000
ml, dịch tụy: 500-1000 ml trong khi sự lưu thông của ruột chưa tốt sau mổ nên áp lực trong khung tá tràng là rất lớn Chính vì vậy nếu giải quyết tình trạng lưu thông dịch tiêu hóa không tốt, điểm yếu nhất là chỗ tổn thương ở tá tràng dễ bục sau mổ Nhiều phương pháp mổ đã được đề cập trong y văn Nhưng hầu như không có một nghiên cứu tiền cứu, so sánh, nghẫu nhiên và đối chứng được đưa ra để khẳng định phương pháp nào là tối ưu hơn ca(1) Vấn đề này còn nhiều bàn luận trong y văn Qua phân tích đánh giá những trường hợp vỡ tá tràng đơn thuần được xử lý tại các bệnh viện tỉnh chuyển lên và tại bệnh viện Chợ Rẫy chúng tôi có một số nhận xét sau:
Trang 4+ Tỉ lệ bục xì tổn thương tá tràng sau mổ lần
đầu tại:
Bệnh viện tỉnh: 10/23 (43,5%)
Bệnh viện Chợ Rẫy: 0/24 (0%)
Số bệnh nhân mổ ngay lần đầu tại bệnh viện Chợ
Rẫy không có ca nào bục xì miệng nối (0/24)
Lưu ý:
+Số bệnh nhân mổ ở Bệnh viện tỉnh là 26,
nhưng có 2 ca sót tổn thương chuyển lên Bệnh viện
Chợ Rẫy mổ lại ngay ngày thứ 2 sau mổ và 1 ca chỉ
buộc túm tổn thương chuyển lên Bệnh viện Chợ Rẫy
mổ lại ngay nên tỉ lệ bục xì ở bệnh viện các tỉnh chỉ
tính trên 23 bệnh nhân
+Số bệnh nhân mổ tại Bệnh viện tỉnh chuyển
lên Bệnh viện Chợ Rẫy phải mổ lại
1 lần: 6/26, 2 lần: 2/26, 3 lần: 1/26
Lý do mổ lại:
Bục chỗ khâu tá tràng 5 ca
Áp xe tồn lưu vỡ 2 ca
Tắc ruột do dính 2 ca
Sót tổn thương 3 ca
Dò niệu quản 1 ca
Có 5 ca dò chỗ khâu tá tràng ở bệnh viện tỉnh
chuyển lên đươc điều trị nội khoa ổn định, không
phải can thiệp phẫu thuật
+Tỉ lệ bục xì liên quan tới phương pháp điều trị
như sau: (các phương pháp mổ có thể qui thành 5
nhóm chính như sau)
Bảng 2: Tỉ lệ bục xì tổn thương tá tràng và phương
pháp điều trị
Phương pháp mổ Tỉ lệ bục xì tá
tràng tại BV tỉnh
Tỉ lệ bục xì tá tràng tại BV Chợ Rẫy*
Khâu tá tràng + đặt
ống hút giảm áp(1
ống, 2 ống, hoặc 3
ống)
Nối Roux en Y +kết
hợp với hút giải áp từ
Gastrostomy
Phương pháp mổ Tỉ lệ bục xì tá
tràng tại BV tỉnh
Tỉ lệ bục xì tá tràng tại BV Chợ Rẫy*
Khâu tá tràng + nối vị tràng
3/6 (50%) khâu tá tràng + nối vị
tràng + loaiï trừ môn vị
1/2 (50%) Kehr tá tràng + Nối vị
tràng
1/1 (100%) Cắt đoạn D3-D4, nối
tận tận
* Tỉ lệ bục xì tại bệnh viện Chợ Rẫy bao gồm cả những trường hợp mổ ở tuyến tỉnh chuyển lên phải mổ lại do bục xì tổn thương tá tràng
Qua kết quả trên cho thấy: Việc xử lý tổn thương chưa tốt Tỉ lệ biến chứng ở các tuyến tỉnh còn cao Trong thời gian từ năm 1980 tới nay vấn đề xử trí tổn thương vùng tá tràng tại bệnh viện Chợ Rẫy có nhiều thay đổi Tỉ lệ tử vong là 25% giai đoạn 1980-1992(2) Theo nghiên cứu của chúng tôi thì tỉ lệ tử vong nói chung là 10% trong đó có 2 ca tử vong do sốc chấn thương không hồi phục và hôn mê do chấn thương sọ não 3 ca bục tá tràng từ bệnh viện tỉnh chuyển lên tử
vong Như vậy tỉ lệ tử vong liên quan tới bục xì ở tá tràng chỉ là 3/50 (6%) trong đó chỉ có 1 ca mổ lại
Phương pháp điều trị thích hợp đã góp phần làm giảm tỉ lệ biến chứng và tử vong Chúng tôi chủ trương:
+Với nhửng thương tổn nhỏ < 50 % khẩu kính tá tràng, khâu tổn thương tá tràng kết hợp với đặt ống giải áp theo phương pháp 2 ống hoặc 3 ống Giai đoạn sau chúng tôi thường chỉ dùng 2 ống hút dịch qua gastrostomy và ống nuôi ăn Đặt ống từ hỗng tràng ngược lên qua góc treitz thường không dễ dàng và hiệu quả hút sau mổ không cao Để lưu thông dịch tiêu hóa qua góc treitz dễ dàng hơn nên hạ góc treitz xuống tối đa Không thấy nói tới hiệu quả của hạ góc treiz trong y văn nhưng chúng tôi cho rằng khi góc treitz đã đươc hạ thấp thì tổn thương ở tá tràng cũng đươc coi như bất cứ tổn thương nào ở ruột non
+Với những tổn thương > 50 % khẩu kính và mổ lại lần 2, lần 3 chúng tôi thường nối Roux En Y có kết hợp đặt ống hút giải áp ở gastrostomy hoặc không hoặc khâu loại trừ môn vị Trong số 9 trường hợp nối
Trang 5Roux En Y của chúng tôi cho những tổn thương tá
tràng D2, D3 phức tạp có tình trạng viêm phúc mạc,
kết quả hoàn toàn tốt
+Chúng tôi không một lần nào khâu tổn thương
tá tràng và nối vị tràng Qua nhiều nghiên cứu tại Việt
Nam từ năm 1980 tới nay như: Bệnh viện Chợ Rẫy,
Bệnh viện Bình Dương, Bệnh viện Việt Đức cho thấy
phương pháp này có biến chứng xì dò cao từ 20% tới
100%(1,2,3,4) Nối vị tràng làm tình trạng ứ đọng dịch ở
khung tá tràng càng tăng lên trong khi vẫn còn một
phần dịch dạ dày chảy vào quai đến dẫn tới bục chỗ
khâu tá tràng Nhất là khi nối vị tràng trước mạc treo
đại tràng ngang thì tình trạng ứ đọng cành nghiều do
quai đến dài Một số tác giả khuyên nên khâu kín
môn vị khi nối vị tràng Phương pháp này cũng cho
kết quả tốt ở nhiều nghiên cứu(5) Tuy nhiên sau khi
thực hiện phương pháp này nếu có bục tổn thương tá
tràng thì rất khó khăn cho xử trí lần sau
Nên loại bỏ phương pháp đặt trực tiếp ống dẫn
lưu vào tổn thương tá tràng vì tá tràng nằm cố định,
cách xa thành bụng nên khó dẫn lưu và dễ dò chân
dẫn lưu khi dịch tiêu hóa dò qua chân dẫn lưu
thường phá hủy tổ chức xung quanh gây chảy máu và
hoại tử cơ quan lân cận nên rất khó khăn cho xử lý
lần sau
Vấn đề chăm sóc sau mổ
Trong những trường hợp đặt ống hút giải áp dạ
dày hay hỗng tràng không phải lúc nào hút cũng có
hiệu quả Nên hút ngắt quãng và áp lực thấp Cần bù
đủ dịch dinh dưỡng và điện giải cho bệnh nhân
Chúng tôi chủ trương cho ăn sớm qua ống nuôi ăn ở
hỗng tràng Qua những ca dò tổn thương tá tràng
điều trị trong khoa chúng tôi, nếu có nuôi ăn bằng
đường tiêu hóa bệnh nhân sẽ sống Ở điều kiện Việt
Nam thì nếu chỉ có nuôi ăn bằng tĩnh mạch sẽ không
bao giờ là đủ cho những bệnh nhân dò tiêu hóa Mặt
khác chi phí điều trị rất cao Bệnh nhân và gia đình
đều kiệt quệ do dò tiêu hóa Nhiều nghiên cứu cho
thấy nuôi ăn sớm qua đường tiêâu hóa sau mổ giúp
khả năng miễn dịch của bệnh nhân tốt hơn so với chỉ
nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch Vì vậy trong
những trường hợp vỡ tá tràng phức tạp và mổ lại nhiều lần thì nên đặt ống nuôi ăn ở hỗng tràng
KẾT LUẬN
Chúng tôi xin nêu một số kinh nghiệm trong
chẩn đoán và điều trị từ những trường hợp đã gặp:
- Không bao giờ quên hỏi cơ chế chấn thương
- Khi nghi ngờ vỡ tá tràng mặt sau trên lâm sàng và XQ không sửa soạn, cần chụp CT bụng có cản quang và cho bệnh nhân uống thuốc cản quang tan trong nước Hình ảnh CT cho thấy khối tụ dịch vùng quanh tá tràng và thận phải, có thể thấy thuốc cản quang lan ra ngoài (Nếu không có CT chỉ cần chụp
XQ bụng với uống thuốc cản quang tan trong nước)
- Khi khó xác định chẩn đoán mặc dù có CT, trên lâm sàng vẫn nghi nghờ nên nội soi ổ bụng chẩn đoán
- Trong khi phẫu thuật, nếu thấy tụ dịch quanh tá tràng có kèm theo bóng khí phải nghĩ tới vỡ tá tràng mặt sau Phải làm thủ thuật Kocher để thám sát toàn bộ khung tá tràng và đầu tụy
- Khi có tụ máu vùng trước đầu tụy và sau mạc nối vị-đại tràng cần lấy hết máu tụ để kiểm tra tổn thương vùng móc tụy và tá tràng Hết sức chú ý tới TMMTTT để tránh gây tổn thương nó
- Phương pháp xử lý tùy theo tổn thương Vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo dẫn lưu tốt dịch trong khung tá tràng Tránh làm tăng thêm ứ đọng dịch ở khung tá tràng Với những tổn thương nhỏ ở tá tràngthì nên khâu tổn thương tá tràng + đặt ống hút giảm áp và ống nuôi ăn Với những tổn thương tá tràng phức tạp, mổ lại nhiều lần phương pháp dẫn lưu trong bằng miệng nối Roux en Y có hiệu quả tốt Không nên nối vị tràng mà không loại trừ môn vị Không dẫn lưu trực tiếp qua chỗ vỡ trong điều trị vỡ tá tràng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ngô Minh Nhật: Nhận xét về chẩn đoán và điều trị vỡ tá tràng, Luận văn thạc sĩ y học 2001.Trường đại học
y dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 Nguyễn Tấn Cường: Chấn thương và vết thương tá tràng 32 trường hợp trong 13 năm tại Bệnh viện Chợ
Trang 6Rẫy Báo cáo khoa học hội nghị ngoại khoa trường đại
học Y Dược TP Hồ Chí Minh năm 1997
4 Phạm Bửu Tâm, Văn Tần, Văn Kỳ Nam, Lê Quang Nghĩa Thương tích tá tụy điều trị tại bệnh viện Bình Dân trong 11 năm (1970-1980) Hội nghị khoa học bệnh viện Bình Dân 1975-1980, 22-28
3 Phạm Đức Huấn, Nguyễn Anh Tuấn, Trịnh Văn Tuấn,
Đỗ Đức Vân: Một số nhận xét về lâm sàng và điều trị
vỡ tá tràng Ngoại khoa 9/1995: Số chuyên đề “Hội
nghị ngoại khoa về cấp cứu bụng và cơ quan vận
động”, 157-163
5 Ginzburg E, Carrillo EH, Sosa JL: Pyloric exclusion in the management of duodenal trauma Amer Surg, 11/1997, 63(11): 964-966