Tình hình nghiên cứu và mục tiêu của đề tài trình bày về: Bướu xương hàm ở trẻ em có những đặc điểm khác với người lớn, thường gây khó khăn trong chẩn đoán, điều trị và tiên lượng. Nghiên cứu này thực hiện nhằm xác định tỉ lệ các loại bướu xương hàm ở trẻ em và một số yếu tố dịch tễ liên quan với bệnh lý này.
Trang 1TỈ LỆ CÁC LOẠI BƯỚU XƯƠNG HÀM Ở TRẺ EM
VÀ CÁC YẾU TỐ DỊCH TỄ LIÊN QUAN
Nguyễn Lê Hữu Khoa*, Nguyễn Thị Hồng**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Bướu xương hàm ở trẻ em có những đặc điểm khác với người lớn, thường gây khó khăn trong
chẩn đoán, điều trị và tiên lượng Nghiên cứu này thực hiện nhằm xác định tỉ lệ các loại bướu xương hàm ở trẻ
em và một số yếu tố dịch tễ liên quan với bệnh lý này
Phương pháp: Hồi cứu mô tả đa trung tâm Đối tượng là các bệnh nhân ≤ 18 tuổi điều trị bướu xương hàm
tại 4 bệnh viện ở TP.HCM: Bệnh viện Nhi Đồng I, Bệnh viện RHM Trung Ương TP.HCM, Bệnh viện RHM TP.HCM và Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM, từ năm 2010 đến 2012
Kết quả: Trong tổng số 124 bệnh nhân, có 56% bướu do răng lành tính, 38% bướu không do răng lành tính
và 6% bướu không do răng ác tính Tỉ lệ bướu lành:bướu ác là 16,7:1; tỉ lệ bướu do răng:bướu không do răng là 1,25:1 Bướu lành tính thường gặp nhất là bướu nguyên bào men (19%) và u răng (17%), bướu ác tính thường gặp nhất là limphôm (5%) Tuổi trung bình của bệnh nhân là 12,7 tuổi, khác nhau tùy theo loại bướu (p < 0,05)
Tỉ lệ bướu xương hàm tăng dần theo tuổi (p < 0,05) Trẻ dưới 6 tuổi đa số có bướu không do răng (85%), và có tỉ
lệ bướu ác (31%) cao hơn trẻ trên 6 tuổi (3%) (p < 0,01) Bướu xảy ra ở nam (58%) nhiều hơn nữ (42%), với tỉ lệ nam:nữ là 1,38:1 Một số bướu thường gặp ở trẻ nam (bướu nguyên bào men, bướu biểu mô do răng canxi hóa, bướu xương, bướu sừng dạng nang do răng, bướu sợi hóa xương, loạn sản sợi, limphôm); trong khi một số loại khác hay gặp ở trẻ nữ hơn (bướu dạng tuyến do răng, bướu nhầy do răng, bướu mạch máu, u hạt tế bào khổng lồ trung tâm, u răng)
Kết luận: Bướu xương hàm tương đối phổ biến ở trẻ em nước ta Các yếu tố dịch tễ đa dạng, có liên quan
mật thiết đến các loại bướu ở xương hàm Do đó, khi thiết lập chẩn đoán và xử trí, bác sĩ cần phải chú trọng đến những yếu tố này
Từ khóa: Bướu xương hàm, trẻ em, do răng, không do răng, lành tính, ác tính
ABSTRACT
FREQUENCY OF JAW TUMORS IN VIETNAMESE CHILDREN AND THE RELATED
EPIDEMIOLOGICAL FACTORS
Nguyen Le Huu Khoa, Nguyen Thi Hong
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 2 - 2014: 144 - 151
Objectives: Jaw tumors in children have different from in alduts and often causes difficulties in diagnosis,
treatment and prognosis This study was carried out to determine the frequency of jaw tumors in children and the related epidemiological factors
Patients and methods: A retrospective multicentric study was conducted on patients under 18 years old
with jaw tumors treated in 4 hospitals in Ho Chi Minh city, including Children's Hospital I, National Hospital of Odonto-Stomatology, HCM city Hospital of Odonto-Stomatology and Oncology Hospital, from 2010 to 2012
Results: Among a total of 124 trường hợpses of jaw tumors, there were 56% benign odontogenic, 38%
Trang 2benign non-odontogenic and 6% malignant non-odontogenic Benign-to-malignant ratio was 16.7, and odontogenic-to-non-odontogenic ratio was 1.25:1 Ameloblastoma (19%) and odontoma (17%) were the most common benign tumors, and lymphoma (5%) was the most common malignant tumors The mean age of patients was 12.7 years, significantly different between tumor types (p < 0.05) The frequency of jaw tumors increased with age (p < 0.05) Almost children aged under 6 years had non-odontogenic tumors (85%), with the frequency of malignant tumors (31%) significantly higher than children aged over 6 years (3%) (p < 0.01) Jaw tumors were found in males (58%) than in females (42%), with the ratio of male:female being 1.38:1 Some tumors were more common in males (ameloblastoma, keratocyst odontogenic tumor, calcifying epithelial odontogenic tumor, ossifying fibroma, fibrous dysplasia, osteoma, lymphoma), while others were common in females (adenomatoid odontogenic tumor, odontogenic myxoma, hemangioma, central giant cell granuloma, odontoma)
Conclusions: Jaw tumors are relatively common in children in Vietnam Tumor types exhibit variable
epidemiological features Diagnosis and management of these tumors should therefore be guided by their features
Key words: J aw tumors , children, odontogenic, non-odontogenic, benign, malignant
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở trẻ em, bướu xương hàm chỉ chiếm 3-5%
các bướu vùng đầu cổ(15) Tuy nhiên, đây là nhóm
bệnh lý đa dạng và phức tạp về mặt bệnh sinh,
lâm sàng, X quang, giải phẫu bệnh, cũng như
cách thức điều trị Các đặc điểm bệnh học và
điều trị bướu xương hàm ở trẻ em có thể khác so
với người lớn
Đến nay đã có một số nghiên cứu trong nước
về bướu xương hàm, tập trung vào một vài loại
bướu thường gặp như bướu nguyên bào
men(11,14), nhưng chưa có nghiên cứu riêng về
bướu xương hàm ở trẻ em Chính điều này đã
thôi thúc chúng tôi thực hiện nghiên cứu bướu
xương hàm ở trẻ em, với mong muốn giúp bác sĩ
lâm sàng có thêm thông tin khoa học về đặc
điểm của các loại bướu này để phát hiện sớm,
chẩn đoán và điều trị hiệu quả Nghiên cứu này
nhằm các mục tiêu sau:
1 Xác định tỉ lệ các loại bướu xương hàm, do
răng và không do răng, lành tính và ác tính ở trẻ
em
2 Xác định một số đặc điểm dịch tễ về tuổi,
giới tính, yếu tố nguy cơ của bướu xương hàm ở
trẻ em
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân ≤ 18 tuổi đến khám và điều
trị bướu xương hàm tại 4 bệnh viện tuyến trên ở TP.HCM có điều trị bướu xương hàm gồm Bệnh viện Nhi Đồng I, Bệnh viện RHM Trung Ương TP.HCM, Bệnh viện RHM TP.HCM và Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM, từ 01/01/2010 đến 31/12/2012
Tiêu chí chọn mẫu
≤ 18 tuổi
Có chẩn đoán lâm sàng và giải phẫu bệnh xác định bướu ở xương hàm
Chưa điều trị đặc hiệu
Tiêu chí loại trừ
Nang xương hàm
Chẩn đoán lâm sàng bướu xương hàm nhưng không có giải phẫu bệnh hoặc kết quả giải phẫu không phải là bướu
Bướu xương hàm tái phát
Bướu nơi khác tiến triển xâm lấn hay di căn đến xương hàm
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Hồi cứu mô tả, đa trung tâm
Các bước thực hiện
(1) Ghi nhận các dữ liệu dịch tễ, lâm sàng từ
hồ sơ bệnh án (2) Chẩn đoán loại bướu: căn cứ vào kết quả giải phẫu bệnh Xếp loại bướu lành hay ác, bướu
Trang 3do răng hay không do răng dựa theo Phân loại
bướu xương hàm của Tổ chức Sức khỏe thế giới
(WHO) năm 2005(5), và theo Phân loại quốc tế về
ung thư trẻ em ICCC của Hiệp hội quốc tế
phòng chống ung thư (UICC) năm 1996(10)
(3) Nhập và phân tích dữ liệu bằng phần
mềm Excel và SPSS 20.0 Dùng kiểm định χ² nếu
vọng trị > 5 và kiểm định chính xác Fisher nếu
vọng trị ≤ 5 để so sánh các tỉ lệ % Dùng kiểm
định ANOVA (nếu phân phối chuẩn) hoặc kiểm
định Kruskal-Wallis (nếu phân phối không
chuẩn) để so sánh các giá trị trung bình Liên
quan có ý nghĩa khi p < 0,05
KẾT QUẢ
Tỉ lệ bướu xương hàm ở trẻ em
Trong thời gian ba năm, tổng hợp các số liệu
tại bốn bệnh viện đầu ngành Ung Bướu và Răng
Hàm Mặt ở TP.HCM, chúng tôi chọn được tất cả
124 hồ sơ đạt tiêu chuẩn nghiên cứu, gồm 34 ca
(27%) năm 2010, 41 ca (33%) năm 2011, và 49 ca
(40%) năm 2012 Trong số này, có 117 ca (94%)
bướu lành và 7 ca (6%) bướu ác, với tỉ lệ bướu
lành:bướu ác là 16,7:1
Tổng cộng có 69 ca (56%) bướu do răng và 55
ca (44%) bướu không do răng, tỉ lệ bướu do răng:
bướu không do răng là 1,25;1 Cụ thể ở trẻ em,
thường gặp nhất bướu do răng lành tính (56%),
kế tiếp là bướu không do răng lành tính (38%) và
bướu không do răng ác tính (6%), không gặp
bướu do răng ác tính Kết quả giải phẫu bệnh
xác định bướu nguyên bào men thường gặp nhất
(19%) (Bảng 1)
Bảng 1: Tỉ lệ các loại bướu xương hàm ở trẻ em
Bướu xương hàm trẻ em Số
ca
Tỉ lệ
%
Tổng
Số ca (%)
Bướu răng
lành tính
69 (55,6)
Bướu sừng dạng nang
Bướu biểu mô do răng
Bướu dạng tuyến do
Bướu gai do răng
Bướu xương hàm trẻ em Số
ca
Tỉ lệ
%
Tổng
Số ca (%)
Bướu sợi-nguyên bào
Bướu không do răng lành tính
48 (38,8)
Bệnh mô bào
U hạt tế bào khổng lồ
Bướu ngoại bì thần kinh
Bướu không do răng ác
7 (5,6)
Tổng 124 100,0 124
(100,0)
Tuổi bệnh nhân
Tuổi trung bình của trẻ bị bướu xương hàm
là 12,73 ± 0,40 tuổi, nhỏ nhất 1 tuổi và lớn nhất 18 tuổi Nhóm trẻ 0-5 tuổi chiếm 11%, trẻ 6-12 tuổi chiếm 27%, trẻ 13-18 tuổi có tỉ lệ cao nhất 62%
Ở mọi lứa tuổi trẻ em, bướu ở xương hàm thường gặp lành tính hơn ác tính Tuy nhiên, trẻ dưới 6 tuổi có tỉ lệ bướu ác (31%) cao hơn trẻ trên
6 tuổi (3%) có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) (Bảng 2)
Bảng 2: Phân bố bướu lành và ác tính ở xương hàm
theo nhóm tuổi
Tuổi Bướu xương hàm Tổng số
ca (%)
Lành:
Ác
Giá trị p Lành tính Ác tính
Kiểm định Fisher
(100,0)
16,7:1
Biểu đồ 1: Tuổi bệnh nhân bướu do răng và bướu
không do răng
Tuổi
Trang 4Phân tích số ca bướu xương hàm tại từng
tuổi (Biểu đồ 1) cho thấy:
Dưới 4 tuổi: chỉ gặp bướu không do răng
Từ 5 – 7 tuổi: bướu không do răng gặp nhiều
hơn bướu do răng
Từ 8 – 18 tuổi: thường gặp bướu do răng, nhất là sau 12 tuổi (ngoại trừ khoảng 11 tuổi thường gặp bướu không do răng hơn)
Tỉ lệ bướu do răng tăng dần theo tuổi (p < 0,01) (Bảng 3)
Bảng 3: Phân bố bướu do răng và không do răng theo nhóm tuổi
Tuổi Bướu xương hàm Tổng Số ca (%) Bướu do R: không do R Giá trị p
Bướu do răng Không do răng
0,001 Kiểm định χ²
Giới tính
Mẫu nghiên cứu gồm 72 nam (58%) và 52 nữ
(42%), với tỉ lệ nam:nữ là 1,38:1 Không có sự
khác biệt rõ về tỉ lệ nam:nữ giữa các nhóm tuổi, giữa bướu lành và bướu ác, giữa bướu do răng
và bướu không do răng (p > 0,05) (Bảng 4)
Bảng 4: Phân bố giới tính theo tuổi, bướu lành/ác,bướu do răng/không do răng
Số ca (%) Tỉ lệ Nam:Nữ
Giá trị
p Nam (n = 72) Nữ (n = 52)
0 -5 tuổi
6 - 12 tuổi
13 – 18 tuổi
9 (69,2)
18 (53,0)
45 (58,4)
4 (30,8)
16 (47,0)
32 (41,6)
13 (10,5)
34 (27,4)
77 (62,1)
2,3:1 1,1:1 1,4:1
0,596a
Bướu lành
Bướu ác
67 (57,3)
5 (71,4)
50 (42,7)
2 (28,6)
117(94,4)
7 (5,6)
1,34:1 2,5:1
0,698b
Sự phân bố giới tính khác nhau tùy theo loại
bướu ở xương hàm (Bảng 5) Tuổi trung bình của
bệnh nhân khác nhau tùy theo loại bướu có ý
nghĩa thống kê (Kiểm định Kruskal-Wallis, p = 0,015)
Bảng 5: Tuổi và giới tính của các bệnh nhân các loại bướu xương hàm
Trang 5Nơi cư trú
Miền Tây nam bộ (33 %), TP.HCM (25%),
Nam trung bộ (16%), Đông nam bộ (14 %), Tây
nguyên (9%), Bắc trung Bộ và nơi khác (3%)
Tiền sử bệnh
13 ca có tiền sử bệnh toàn thân; bao gồm 3 ca
viêm dạ dày, 2 ca dị ứng, 2 ca sốt xuất huyết, 1 ca
đái tháo nhạt và thiểu sản tuyến yên, 1 ca viêm
gan siêu vi B, 1 ca sốt co giật, 1 ca suyễn, 1 ca
viêm tai giữa và 1 ca bướu mạch máu ở mặt
Không có tiền sử chấn thương, phẫu thuật vùng
hàm mặt
BÀN LUẬN
Về tỉ lệ bướu xương hàm lành và ác ở trẻ
em
Đa số bướu xương hàm ở trẻ em là bướu
lành (94%), ít gặp bướu ác (6%) Kết quả này phù
hợp với hầu hết các nghiên cứu trên thế giới,
thường ghi nhận tỉ lệ bướu lành chiếm hơn 80%
các bướu ở xương hàm (Bảng 6) Tuy nhiên, một
vài nghiên cứu ở Châu Phi có tỉ lệ bướu ác cao
hơn, phổ biến nhất là limphôm Burkitt - loại
bướu thường xảy ra ở trẻ em châu Phi và có liên
quan với virút Epstein-Barr(4)
Ở trẻ em, tỉ lệ bướu xương hàm lành và ác
khác nhau nhiều giữa các nghiên cứu, có thể do
sự khác biệt về chủng tộc, địa dư, yếu tố nguy
cơ, bệnh sinh, lứa tuổi nghiên cứu
Bảng 6: So sánh tỉ lệ % bướu xương hàm lành và ác
giữa các nghiên cứu
Tác giả (quốc gia) Bướu xương hàm ở trẻ em
Bướu lành Bướu ác Lành: Ác
Như vậy, nhận định đa số bướu xương hàm
lành tính không chỉ đúng cho người lớn mà cả ở
trẻ em, mặc dù ở trẻ em tỉ lệ bướu lành:ác thấp hơn ở người lớn (16,7:1) Nghiên cứu 172 trường hợp bướu xương hàm tại Bệnh viện RHM Trung Ương TP.HCM năm 2007 và 2008 cho kết quả
168 bướu lành (97,7%) và 4 bướu ác (2,3%), với tỉ
lệ lành:ác là 42:1(14) Tổng hợp 1.642 ca bướu do răng ở Trung Quốc, Jing và c.s (2007) ghi nhận tỉ
lệ bướu lành:ác là 32,3:1(9)
Về tỉ lệ bướu do răng và không do răng ở trẻ em
Bướu do răng là loại bướu đặc thù ở xương hàm, xuất phát từ những thành phần biểu mô và
mô liên kết của cơ quan tạo răng Kết quả bướu
do răng (56%) thường gặp hơn bướu không do răng (44%) gấp 1,25 lần Một điều khác cũng cần chú ý bướu xương hàm ở trẻ em thường gặp bướu do răng (59%), ngược lại bướu ác là bướu không do răng Kết quả tương tự nghiên cứu của Sato ở Nhật Bản có 79 ca (81%) bướu do răng lành, 11 ca (11%) bướu không do răng lành và 8
ca (8%) bướu không do răng ác (trong đó 5 ca limphôm), không gặp bướu do răng ác(18)
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trên thế giới tìm thấy bướu xương hàm ở trẻ em thường là bướu không do răng (Bảng 7) Sự khác biệt này một phần có thể do bướu nguyên bào men khá phổ biến ở nước ta, chiếm tỉ lệ 19%, cao hơn bất
cứ loại bướu không do răng
Bảng 7: So sánh tỉ lệ % bướu do răng và không do
răng giữa các nghiên cứu
Tác giả (quốc gia) Bướu
do răng
Bướu không do răng
Bướu do răng:Không
do răng
Về tỉ lệ các loại bướu xương hàm ở trẻ em
Kết quả bướu nguyên bào men thường gặp nhất, chiếm tỉ lệ cao nhất 19% trong các bướu xương hàm nói chung, và 35% trong các bướu do
Trang 6răng nói riêng Tỉ lệ này tương tự tỉ lệ 18% của
Saxena và c.s (2012) ở trẻ em Ấn Độ(19)
Mamabolo và c.s (2011) ghi nhận tỉ lệ bướu
nguyên bào men cao nhất 44,7% trong 244
trường hợp bướu do răng ở trẻ em châu Phi(12)
Tuy nhiên, một số nghiên cứu tìm thấy bướu
nguyên bào men đứng thứ hai sau u răng, như
nghiên cứu ở trẻ em Nhật Bản của Sato(18) có tỉ lệ
bướu nguyên bào men 30% và u răng 52%, của
Tanaka(20) tỉ lệ bướu nguyên bào men 33% và u
răng 42% Thực ra u răng được xem là mô thừa
dạng bướu do rối loạn quá trình tạo răng hơn là
một sự tân sinh thật sự(6,16,17), cho nên nếu chỉ tính
bướu thật thì bướu nguyên bào men thường gặp
nhất mặc dù tỉ lệ thay đổi tùy theo mỗi quốc gia,
từ 11% (Israel)(22) đến 49% (châu Phi)(1) Kết quả
cũng tương tự ở người lớn, với tỉ lệ bướu nguyên
bào men 30%(14) Từ đó, có thể nhận định rằng:
Cho dù ở trẻ em hay người lớn, ở nước ta, bướu
nguyên bào men là loại bướu thường gặp nhất
trong các bướu ở xương hàm Tỉ lệ bướu nguyên
bào men khá cao ở trẻ em là một kết quả đáng lo
ngại, khi mà đây là một loại bướu nguy hiểm do
có tính chất phá hủy xương nhiều và dễ tái phát
nếu chỉ lấy bướu(6,16,17)
Đứng hàng thứ hai là u răng, chiếm tỉ lệ 17%
các bướu xương hàm nói chung và 30% các bướu
do răng nói riêng Kết quả gần tương tự tỉ lệ 12%
trong một nghiên cứu chủ yếu ở người lớn tại
Bệnh viện RHM Trung Ương năm 2007-2008(11),
tỉ lệ 22% trong các bướu lành tính do răng ở trẻ
em trong nghiên cứu của Saxena (Ấn Độ)(19)
Theo y văn, bướu nguyên bào men chiếm
1% các u nang xương hàm, 11-13% các bướu do
răng và phổ biến thứ hai sau u răng (70%)(16) Kết
quả tỉ lệ u răng (17%) thấp hơn bướu nguyên bào
men (19%) có thể phản ánh thực tế bướu nguyên
bào men khá phổ biến, nhưng cũng có thể do u
răng thường nhỏ, có vỏ bao, việc phẫu thuật lấy
u không quá khó nên có thể điều trị ở các tuyến
cơ sở mà không cần chuyển bệnh nhân lên bệnh
viện tuyến cao
Đứng hàng thứ ba trong bảng xếp hạng là loạn sản sợi, chiếm tỉ lệ 13% Đây là tổn thương thường gặp nhất trong các bướu không do răng Kết quả phù hợp với nghiên cứu năm 2007-2008 chủ yếu ở người lớn ghi nhận loạn sản sợi phổ biến nhất trong các bướu không răng, chiếm 28%(14)
Bướu sừng dạng nang do răng xếp thứ tư (10%) trong các bướu xương hàm, nhưng phổ biến thứ hai (17%) trong các bướu xương hàm thật sự Loại bướu này đáng quan tâm, do tính chất phá hủy xương mạnh và dễ tái phát nếu chỉ lấy bướu
Các loại bướu khác ít gặp hơn Trong số này, bướu mạch máu thuộc nhóm nguy hiểm, thậm chí có thể gây tử vong Nhổ răng trẻ em thường không khó, nhưng các bác sĩ RHM cũng phải cảnh giác khi mà trong vòng 3 năm đã phát hiện
8 ca bướu mạch máu ở xương hàm
Phổ biến nhất trong các bướu xương hàm ác tính ở trẻ em là limphôm (86%) Nhận định này nhất quán ở đa số các nghiên cứu(18) Theo Albright và c.s., ung thư đầu cổ chiếm 12% các ung thư ở trẻ em Mỹ, trong đó limphôm phổ biến nhất (816/3.050 ca, 27%)(2)
Về tuổi bệnh nhân bướu xương hàm
Đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về độ tuổi trẻ em giữa các nghiên cứu Năm 2002, trong một tổng kết 3.050 ca ung thư đầu cổ ở trẻ
em ở nhiều bang nước Mỹ, Albright và c.s nghiên cứu từ 0-18 tuổi(2) Do đó, chúng tôi chọn khảo sát bướu xương hàm ở trẻ 0-18 tuổi Về phân nhóm tuổi cũng không có sự thống nhất Chúng tôi chọn mốc 6 tuổi (tuổi bắt đầu mọc răng vĩnh viễn) và mốc 12 tuổi (tuổi kết thúc mọc răng vĩnh viễn nếu không kể răng khôn) để phân thành 3 nhóm: 0-5 tuổi, 6-12 tuổi và 13-18 tuổi Hơn nữa, 6 tuổi và 12 tuổi cũng là lứa tuổi chủ chốt mà Tổ chức Sức khỏe thế giới (WHO) chọn để đánh giá tình trạng sức khỏe răng miệng ở trẻ em toàn cầu
Kết quả tìm thấy trẻ dưới 6 tuổi có tỉ lệ bướu
ác (31%) cao hơn trẻ trên 6 tuổi (3%), và có tỉ lệ
Trang 7bướu không do răng (85%) cao hơn trẻ 6-12 tuổi
(53%) và trẻ 12-18 tuổi (33%) (p < 0,05) Nghiên
cứu này cũng như nhiều nghiên cứu ở trẻ em
châu Phi(1), Israel(22), Nhật Bản(18,20) không gặp
bướu ác do răng
Bướu do răng có tỉ lệ tăng dần theo tuổi (từ
15% ở trẻ dưới 6 tuổi, 47% ở trẻ 6-12 tuổi, đến
66% ở trẻ 13-18 tuổi) (p < 0,05) Điều này có thể
phản ánh sự tạo răng vĩnh viễn dễ rối loạn tăng
sinh thành bướu hơn sự tạo răng sữa Theo Sato
và Tanaka, đa số các răng vĩnh viễn hoàn tất sự
tạo thân răng lúc 4 – 5 tuổi Do vậy, các bướu do
răng dường như phát sinh sau khi đã tạo xong
thân răng(18,20)
Đa số các bướu xương hàm phát hiện lúc
trên 12 tuổi Ở trẻ em, 88% bướu nguyên bào
men phát hiện từ 12-18 tuổi, tương tự tỉ lệ 93%
trong nghiên cứu của Sato và c.s. (18) ở Nhật Bản
Thường gặp ở trẻ trên 12 tuổi còn có bướu nhầy
(100%), bướu biểu mô do răng canxi hóa (75%),
bướu sừng dạng nang do răng (67%), bướu dạng
tuyến do răng (67%), loạn sản sợi (56%), u hạt tế
bào khổng lồ (67%) Điều này phù hợp với y văn
ghi nhận tuổi thường gặp của bướu nguyên bào
men từ 20-40 tuổi(17) hay 30-50 tuổi(6), bướu biểu
mô canxi hóa 40 tuổi(6,16,17), bướu nhầy lúc 30
tuổi(16), bướu sừng dạng nang do răng 20-30
tuổi(16,17), loạn sản sợi và u hạt tế bào khổng lồ
10-20 tuổi(6,16,17) Hầu hết u răng xảy ra ở trẻ trên 6
tuổi, như nghiên cứu của Sato 94%(18), Tanaka
93%(20) , 96% (nghiên cứu này)
Đa số bướu mạch máu xương hàm phát hiện
ở trẻ 6-12 tuổi (50%) và 13-18 tuổi (38%), trung
bình 12,25 tuổi Nghiên cứu của Nguyễn Văn
Đẩu trên 16 ca bướu mạch máu xương hàm xác
nhận độ tuổi trung bình 9,8 tuổi(13) Theo Regezi,
bướu mạch máu xương hàm thường gặp nhất từ
10-20 tuổi(16)
Bệnh mô bào Langerhans và limphôm xảy ra
sớm nhất, trung bình 4,25 tuổi Theo y văn, bệnh
mô bào Langerhans gồm có: (1) u hạt ái toan
(dạng khu trú mạn tính) có tổn thương ở một
hay nhiều xương, chủ yếu ở trẻ lớn và người trẻ,
(2) bệnh Hand-Schüller-Christian (dạng lan tỏa mạn tính) có tổn thương ở nhiều cơ quan, xương, hạch, ở trẻ dưới 10 tuổi, và (3) bệnh Letterer-Swive (dạng lan tỏa cấp tính) tổn thương nhiều cơ quan, tủy xương, hạch, da, chỉ gặp ở trẻ dưới 3 tuổi(17) Trong 4 trường hợp bệnh, có 1 bé gái 1 tuổi nghi ngờ bệnh Hand-Schüller-Christian do có tam chứng gồm tổn thương nhiều xương sọ-mặt, lồi mắt, đái tháo nhạt, ngoài ra có kèm theo thiểu sản thùy sau tuyến yên
Sarcôm xương (sarcôm sinh xương) là bướu ác nguyên phát phổ biến nhất ở xương, thường xảy ra ở những xương dài như xương đùi, ít gặp ở vùng đầu cổ Nghiên cứu này chỉ gặp 1 trường hợp sarcôm xương ở xương hàm trẻn của bé gái 5 tuổi Sapp và c.s.cho rằng sarcôm xương ở xương hàm có đỉnh cao 33 tuổi, tức muộn hơn 10 tuổi so với đỉnh cao 24 tuổi của sarcôm ở xương dài(19)
Về giới tính bệnh nhân bướu xương hàm
Theo y văn, không có sự khác biệt rõ về giới tính đối với bướu xương hàm ở trẻ em(22) Tuy nhiên, nghiên cứu này ghi nhận bướu xảy ra ở trẻ nam hơi nhiều hơn trẻ nữ, với tỉ lệ nam:nữ là 1,38:1, nhất là khi trẻ dưới 6 tuổi (2,3:1)
Tỉ lệ nam:nữ trong bướu do răng và trong bướu không do răng đều là 1,4:1, nhưng trong bướu ác (2,5:1) cao hơn so với bướu lành (1,34:1) Bướu thường gặp ở nam hơn nữ là bướu nguyên bào men, bướu biểu mô do răng canxi hóa, bướu sừng dạng nang do răng, bướu sợi hóa xương, loạn sản sợi, bướu xương, limphôm Kết quả bướu xương phù hợp với y văn(16) Bướu nguyên bào men có tỉ lệ nam hơi nhiều hơn hay bằng nữ(14,17,19) Tuy nhiên, kết quả bướu sợi hóa xương, bướu biểu mô canxi hóa, loạn sản sợi ở trẻ em có khác biệt so với các nghiên cứu(6,16,17) Ở
nữ nhiều hơn nam có bướu dạng tuyến do răng, bướu nhầy do răng, bướu mạch máu, u hạt tế bào khổng lồ trung tâm, tương tự kết quả của nhiều nghiên cứu(1,6,16,17) Kết quả u răng và bệnh
Trang 8mô bào Langerhans hầu như không khác biệt
giới tính cũng phù hợp với y văn(6,18)
KẾT LUẬN
Bướu xương hàm ở trẻ em đa dạng, đa số
lành tính, thường gặp bướu do răng hơn bướu
không do răng Tuy nhiên, trẻ dưới 6 tuổi
thường gặp bướu không do răng và có tỉ lệ ác
tính cao hơn so với trẻ trên 6 tuổi Mặt khác, có
sự khác biệt về tuổi và giới tính bệnh nhân giữa
các loại bướu khác nhau ở xương hàm Do đó,
khi thiết lập chẩn đoán và xử trí, bác sĩ cần phải
chú trọng đến những yếu tố này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ajayi OF, Ladeinde AL, Adeyemo WL, Ogunlewe MO (2004):
Odontogenic tumors in Nigerian children and adolescents: A
retrospective study of 92 cases World J Surg Oncol, 2,
pp.39-44
2 Albright JT, Topham AK, Reilly JS (2002): Pediatric head and
neck malignancies: US incidence and trends over 2 decades
Arch Otolaryngol Head Neck Surg, 128(6), pp.655-659
3 Ali MA (2011): Biopsied jaw lesions in Kuwait: A six-year
retrospective analysis Med Princ Pract, 20, pp.550–555.
4 Asamoa EA, Ayanlere AO, Olaitan AA, Adekeye EO (1990):
Paediatric tumours of the jaws in northern Nigeria: Clinical
presentation and treatment J Craniomaxillofac Surg, 18(3),
pp.130-135
5 Barnes LEJW, Reichart P (2005): Pathology and genetics head
and neck tumours World Health Organization
6 Cawson RA, Odell EW, Proter S (2008): Cawson’s essentials of
oral pathology and oral medicine, Churchill Livingstone,
Elservier, 8 th edition, pp.277-311
7 Chuong R, Kaban LB (1985): Diagnosis and treatment of jaw
tumors in children J Oral Maxillofac Surg, 43(5), pp.323-332
8 Das S, Das AK (1993): A review of pediatric oral biopsies from
a surgical pathology services in dental school Pediatr Dent,
15, pp.208-211
9 Jing W, Xuan M, Lin Y, et al (2007): Odontogenic tumours: A
retrospective study of 1642 cases in a Chinese population Int J
Oral Maxillofac Surg, 36(1), pp.20-25
10 Kramárová E, Stiller CA (1996): The international classification
of childhood cancer Int J Cancer, 68, pp.759-765
11 Lâm Ngọc Ấn, Bùi Hữu Lâm (2000): Tình hình u bướu tại Viện Răng Hàm Mặt từ 1975-1985 Kỷ Yếu Công Trình Khoa Học 1975-1993, tr.203-206
12 Mamabolo M, Noffke C, Raubenheimer E (2011): Odontogenic tumours manifesting in the first two decades of life in a rural African population sample: a 26 year retrospective analysis Dentomaxillofac Radiol, 40(6), pp.331-337
13 Nguyễn Văn Đẩu, Lâm Hoài Phương (2011): Đặc điểm bệnh
lý u mạch máu xương hàm ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng I
và kết quả của phương pháp điều trị bảo tồn Tạp chí Y học TP.HCM, tập 15, phụ bản số 2, tr.213-221
14 Phan Huỳnh An (2009): Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và X quang u nguyên bào men Khóa luận tốt nghiệp Bác sĩ Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM
15 Rapidis AD, Economidis J, Goumas PD (1988): Tumours of the head and neck in children A clinico-pathological analysis of
1007 cases J Craniomaxillofac Surg, 16(6), pp.279-286
16 Regezi JA, Sciubba JJ, Jordan RCK (2008): Oral pathology: Clinical pathologic correlations Saunders, Elsevier, 5 th edition, pp.160-330
17 Sapp JP, Eversole LR, Wysocki GP (2004): Contemporay oral and maxillofacial pathology Mosby, 2 nd edition, pp.112-163
18 Sato M, Tanaka N, Sato T, Amagasa T (1997): Oral and maxillofacial tumours in children: A review Br J Oral Maxillofac Surg, 35(2), pp.92-95
19 Saxena S, Kumar S, (2012): Pediatric jaw tumors: Our experience J Oral Maxillofac Pathol, 16(1), pp.27-30
20 Tanaka N, Murata A, Yamaguchi A, Kohama G (1999): Clinical features and management of oral and maxillofacial tumors in children Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral Radiol Endod, 88(1), pp.11-15
21 Tanrikulu R, Erol B, Haspolat K (2004): Tumors of the maxillofacial region in children: retrospective analysis and long-term follow-up outcomes of 90 patients Turk J Pediatrics,
46, pp.60-66
22 Ulmansky M, Lustmann J, Balkin N (1999): Tumors and tumor-like lesions of the oral cavity and related structures in Israeli children Int J Oral Maxillofac Surg, 28(4), pp.291-294