1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của β‐hCG sau hút nạo thai trứng toàn phần trong tiên lượng sớm bệnh nguyên bào nuôi tồn tại

6 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 362,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thai trứng là một bệnh lý có liên quan đến sự phát triển bất thường của tế bào nuôi. Đa số các bệnh nhân thai trứng bệnh sẽ thoái lui sau hút nạo, tuy nhiên một số bệnh nhân sẽ tiến triển thành bệnh nguyên bào nuôi tồn tại, đây là một bệnh lý ác tính cần phải được điều trị với hóa chất. Vì vậy nghiên cứu với mục tiêu xác định vai trò của nồng độ β‐hCG sau hút nạo thai trứng toàn phần (TTTP) trong tiên lượng sớm BNBNTT.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA β‐hCG SAU HÚT NẠO THAI TRỨNG TOÀN PHẦN   TRONG TIÊN LƯỢNG SỚM BỆNH NGUYÊN BÀO NUÔI TỒN TẠI 

Nguyễn Vũ Hà Phúc*, Lê Hồng Cẩm* 

TÓM TẮT 

Mở  đầu:  Thai trứng là một bệnh lý có liên quan đến sự phát triển bất thường của tế bào nuôi. Đa số các 

bệnh nhân thai trứng bệnh sẽ thoái lui sau hút nạo, tuy nhiên một số bệnh nhân sẽ tiến triển thành bệnh nguyên  bào nuôi tồn tại (BNBNTT), đây là một bệnh lý ác tính cần phải được điều trị với hóa chất. 

Mục tiêu: Xác định vai trò của nồng độ β‐hCG sau hút nạo thai trứng toàn phần (TTTP) trong tiên lượng 

sớm BNBNTT. 

Phương pháp: Hồi cứu hồ sơ toàn bộ các bệnh nhân TTTP được chẩn đoán và theo dõi tại bệnh viện Hùng 

Vương từ tháng 11/2011 đến tháng 11/2012. Sử dụng đường cong ROC và hồi quy đa biến để tìm ra yếu tố  giúp tiên đoán tốt nhất nguy cơ diễn tiến thành BNBNTT. 

Kết  quả:  Có  42  bệnh  nhân  diễn  tiến  thành  BNBNTT  được  chẩn  đoán  theo  tiêu  chuẩn  Charing  Cross 

Hospital trong tổng số 131 bệnh nhân TTTP. Nồng độ β‐hCG sau hút nạo tuần thứ 2 là một yếu tố tiên lượng  độc lập có ý nghĩa thống kê cho nguy cơ diễn tiến BNBNTT sau hút nạo ở các bệnh nhân TTTP (p < 0,001). Tại  ngưỡng chẩn đoán của nồng độ β‐hCG sau hút nạo tuần thứ 2 ≥ 850 mUI/mL cho giá trị tiên đoán BNBNTT  với: độ nhạy 73%, độ chuyên 79%, giá trị tiên đoán dương 62%, và giá trị tiên đoán âm 86%.  

Kết luận: Nồng độ β‐hCG sau hút nạo tuần thứ 2 có thể là một yếu tố giúptiên đoán sớm nguy cơ diễn tiến 

thành BNBNTT sau hút nạo TTTP. 

Từ khóa: thai trứng toàn phần, bệnh nguyên bào nuôi, bệnh nguyên bào nuôi tồn tại 

ABSTRACT 

POST EVACUTATION BETA‐hCG LEVEL AS A PREDICTIVE MARKER 

 OF DEVELOPING PERSISTENT GESTATIONAL TROPHOBLASTIC DISEASE  

IN WOMEN WITH COMPLETE MOLAR PREGNANCY 

Nguyen Vu Ha Phuc, Le Hong Cam  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 41‐46 

Background: Hydatidiform mole is characterised by an overgrowth of trophoblasts within the uterus. Most 

women with hydatidiform mole can be cured by evacuation. However, in some women the growth persists and  develops into persistent gestational trophoblastic disease (GTD), a malignant form requiring chemotherapy.  

Objectives: To evaluate the role of post evacuation β‐hCG levels to predict the risk of developing persistent 

GTD in women with complete molar pregnancies. 

Method: Reviewed past medical records of all patients from Hung Vuong hospital diagnosed with complete 

molar pregnancies between November 2011 and November 2012. Persistent GTD was diagnosed using Charing  Cross criteria. Values of beta hCG measurements at two weeks after evacuation of complete molar pregnancy were  taken.  A  receiver  operating  characteristic  (ROC)  curve  and  multivariate  logistic  regression  were  used  to  determine the predictive value of post evacuation beta hCG level on the persistent development of GTD. 

Results: Out of the 131 women, 42 was diagnosed as persistent GTD. The two‐week post evacuation β‐

* Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược TP HCM 

Trang 2

hCG  level  was  a  significant  independent  prognostic  factor  for  the  risk  of  developing  persistent  GTD  in  patients with complete molar pregnancies (p < 0.001). The optimal cut‐off value of two‐week post evacuation  β‐hCG  level  was  850  mUI/mL  with  73%  sensitivity,  79%  specificity,  62%  positive  predictive  value,  and  86% negative predictive value. 

Conclusion:  Post  evacuation  β‐hCG  level  is  a  predictor  of  developing  persistent  GTD  in  women  with 

complete molar pregnancies.  

Key words: complete mole, gestational trophoblastic disease, persistent gestational trophoblastic neoplasia. 

MỞ ĐẦU 

Bệnh lý nguyên bào nuôi là một bệnh lý có 

liên  quan  đến  sự  phát  triển  bất  thường  của  tế 

bào nuôi, trong đó thai trứng là dạng lâm sàng 

phổ  biến  nhất,  bao  gồm  thai  trứng  toàn  phần 

(TTTP) và thai trứng bán phần (TTBP). Hút nạo 

được xem là phương pháp điều trị lựa chọn đối 

với  thai  trứng  không  biến  chứng.  Theo  y  văn, 

sau  hút  nạo  nguy  cơ  tiến  triển  thành  bệnh 

nguyên bào nuôi tồn tại (BNBNTT) là 6‐20% đối 

với TTTP, và 0,5‐4% đối với TTBP(3). 

Việc  quản  lý  bệnh  nhân  sau  hút  nạo  có  ý 

nghĩa  đặc  biệt  quan  trọng  đối  với  tất  cả  bệnh 

nhân  thai  trứng.  Trong  số  BNBNTT  sau  thai 

trứng có đến 50‐70% là thai trứng xâm lấn và 30‐

50%  bệnh  có  thể  sẽ  phát  triển  thành  ung  thư 

nguyên bào nuôi(6). 

Trên  thế  giới  đã  có  nhiều  nghiên  cứu  được 

thực  hiện  với  nỗ  lực  tiên  lượng  sớm  BNBNTT 

sau  thai  trứng.  Cho  đến  nay,  theo  dõi  biểu  đồ 

của hCG sau hút nạo thai trứng vẫn là một yếu 

tố quan trọng nhất trong tiên lượng BNBNTT(5). 

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên đưa ra kết luận 

không  đồng  nhất  về  thời  điểm  cũng  như  điểm 

cắt khoảng của nồng độ β‐hCG sau hút nạo, hơn 

nữa  các  nghiên  cứu  lại  sử  dụng  các  tiêu  chuẩn 

khác nhau để chẩn đoán BNBNTT. Nước ta xuất 

độ bệnh lý nguyên bào nuôi khá phổ biến, đa số 

bệnh nhân thuộc diện nghèo, dân trí thấp và tập 

trung ở vùng nông thôn, hơn nữa việc theo dõi 

sau  hút  nạo  thai  trứng  đòi  hỏi  phải  lâu  dài  và 

tốn  kém  nên  việc  tiên  lượng  và  phát  hiện  sớm 

BNBNTT rất cần thiết.  

Mục tiêu 

Xác định vai trò của nồng độ β‐hCG sau hút 

nạo TTTP trong tiên lượng sớm BNBNTT. 

ĐỐI TƯỢNG‐PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Chúng  tôi  tra  cứu  lại  hồ  sơ  của  tất  cả  các  bệnh nhân TTTP, được nhập viện và theo dõi tại  bệnh  viện  Hùng  Vương  trong  thời  gian  từ  11/2011 đến 11/2012. Chúng tôi chọn vào nhóm  nghiên cứu các hồ sơ bệnh nhân TTTP được hút  nạo  và  gửi  giải  phẫu  bệnh,  không  có  chỉ  định  hóa  dự  phòng.  Bệnh  nhân  sau  hút  nạo  được  theo dõi nồng độ β‐hCG theo phác đồ của bệnh  viện: 48 giờ sau hút nạo, mỗi tuần cho đến khi β‐ hCG về âm tính 3 lần liên tiếp (< 5 mUI/mL), và  mỗi tháng 1 lần trong 6 tháng tiếp theo.  

Các  trường  hợp  loại  ra  khỏi  nghiên  cứu  gồm: sót trứng phải hút nạo lại sau > 1 tuần, có  thai  mới  trong  thời  gian  theo  dõi,  hoặc  theo  dõi không đủ 6 tháng từ khi nồng độ β‐hCG về 

âm tính  

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, lấy mẫu toàn bộ. 

Thu thập và quản lý số liệu 

Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 11. 

Xử lý số liệu 

Chúng  tôi  phân  tích  2  nhóm  bệnh  nhân:nhóm  sau  hút  nạo  diễn  tiến  thành  BNBNTT,  và  nhóm  lui  bệnh  bao  gồm  các  bệnh  nhân  không  diễn  tiến  thành  BNBNTT  sau  6  tháng  theo  dõi.  Chẩn  đoán  BNBNTT  sau  thai  trứng  theo  tiêu  chuẩn  Curent  Charing  Cross  Hospital.  BNBNTT  được  chẩn  đoán  khi  có  1 

trong các yếu tố sau: 

Có bằng chứng của di căn.  

Chảy máu âm đạo dai dẳng kéo dài, hoặc có  xuất huyết nội. 

Trang 3

Nồng  độ  hCG  bình  nguyên  (giảm  ít  hơn 

10%) qua 3 giá trị liên tiếp. 

Nồng  độ  hCG  sau  hút  nạo  4  tuần  >  20.000 

mIU/ml.  

hCG còn tồn tại 6 tháng sau hút nạo. 

Kết  quả  giải  phẫu  bệnh  là  ung  thư  nguyên 

bào nuôi. 

Sử dụng phép kiểm Chi bình phương, Fisher 

chính xác và t test để phân tích đơn biến giữa các 

biến số và kết cuộc. Sử dụng Hồi qui Logistic để 

tìm  ra  mối  liên  quan  giữa  nồng  độ  β‐hCG  sau 

hút nạo trong tiên lượng BNBNTT. Phân tích hồi 

quy đa biến nhằm kiểm soát và loại bỏ các yếu 

tố  gây  nhiễu.  Các  phép  kiểm  được  tính  toán  ở 

khoảng tin cậy 95%, kết quả có ý nghĩa thống kê 

nếu P < 0,05. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Tại  bệnh  viện  Hùng  Vương,  khảo  sát  trên 

toàn  bộ  số  bệnh  nhân  TTTP  nhập  viện  và  điều 

trị tại viện từ tháng 11‐2011  đến  tháng  11‐2012, 

sau khi đã loại trừ 28 bệnh nhân không theo dõi 

đủ  6  tháng  chúng  tôi  có  được  131  bệnh  nhân 

TTTP thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu, trong đó có 

42 bệnh nhân diễn tiến thành BNBNTT. 

Độ  tuổi  của  đối  tượng  nghiên  cứu  trung 

bình là 28 ± 8,0, nhỏ nhất là 15 tuổi, lớn nhất là 

50  tuổi,  47,3%  bệnh  nhân  sống  tại  thành  phố 

Hồ Chí Minh, còn lại sống tại các tỉnh vệ tinh 

gần thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp chủ 

yếu  là  công  nhân  và  công  nhân  viên.  Số  bệnh 

nhân  đa  sản  chiếm  tỉ  lệ  thấp  (2,3%)  và  không 

có bệnh nhân nào có tiền căn thai trứng trước 

đây.  Nồng  độ  β‐hCG  trước  hút  nạo  rất  dao 

động, trường hợp có nồng độ β‐hCG thấp nhất 

là  11.674  mUI/mL,  trường  hợp  cao  nhất  có 

nồng độ β‐hCG lên đến 1.299.714 mUI/mL. Có 

92/131  (70,2%)  trường  hợp  có  nồng  độ  β‐hCG 

trước  hút  nạo  ≥  100.000  mUI/mL.  Thời  gian 

phát  hiện  có  biến  chứng  BNBNTT  trung  bình 

là 4,3 tuần, trường hợp phát hiện sớm nhất là 

1,5  tuần  sau  hút  nạo,  trễ  nhất  là  11  tuần  sau 

hút  nạo,  có  tới  gần  50%  số  bệnh  nhân  phát 

hiện ở thời điểm 3,5 tuần. 

Bảng 1. Liên quan giữa BNBNTT với đặc điểm của 

đối tượng nghiên cứu: 

Đặc điểm

BNBNTT

Giá trị

p

Có n=42 (%)

Không n=89 (%)

Tuổi mẹ

< 20 6 (54,5) 5 (45,5) 0,236 (1)

20-40 32 (29,6) 76 (70,4)

> 40 4 (33,3) 8 (66,7)

Đa sản Có 1 (33,3) 2 (66,7) 1,000

(1)

Không 41 (32,0) 87 (68,0)

Số lần thai ngừng phát triển

0 41 (33,9) 80 (66,1) 0,414(1)

1 1 (11,1) 8 (88,9)

2 0 (0) 1 (100)

Nhóm máu

A 10 (34,5) 19 (65,5) 0,806(2)

B 12 (30) 28 (70)

O 18 (34,6) 34 (65,4)

AB 2 (20) 8 (80) Nang hoàng tuyến

> 6cm

Có 2 (66,7) 1 (33,3) 0,241(1) Không 40 (31,2) 88 (68,7)

Cường giáp Có 6 (50) 6(50) 0,198

(1)

Không 36 (30,3) 83 (69,7) Kích thước tử cung trung

bình (cm) 67,5 66,7 0,822

(3)

Nồng độ β-hCG trước hút nạo (mUI/mL)

≥ 100.000 33 (35,9) 59 (64,1) 0,151(2)

<100.000 9 (23,1) 30 (76,9)

Fisher chính xác. Chi bình phương. t‐test  

Kết  quả  khi  phân  tích  đơn  biến,  nhóm  BNBNTT và nhóm khỏi bệnh khác nhau không 

có ý nghĩa thống kê về các đặc điểm: nhóm tuổi 

mẹ. đa sản, tiền sử số lần thai ngừng phát triển,  nhóm máu, nang hoàng tuyến > 6cm, kích thước 

tử  cung,  cường  giáp,  và  nồng  độ  β‐hCG  trước  hút nạo ≥ 100.000 mUI/mL, với p > 0,05. 

Khi  tìm  phân  bố  của  nồng  độ  β‐hCG  trước  hút nạo, và sau hút nạo (48 giờ, 1 tuần, 2 tuần)  chúng tôi thấy rằng nồng độ β‐hCG trước và sau  hút  nạo  ở  hai  nhóm  không  có  phân  phối  bình  thường, nhưng biến đổi log của nồng độ β‐hCG  sau hút nạo có phân phối xấp xỉ bình thường. Vì  vậy chúng tôi sử dụng log của biến số nồng độ  β‐hCG khi phân tích thống kê. Khi so sánh giữa  các  mô  hình  tiên  lượng  BNBNTT  cho  thấy:  sử  dụng nồng độ β‐hCG sau hút nạo tuần thứ 2 cho  giá trị tiên đoán BNBNTT tốt với AUC = 0,80, và  đây  là  mô  hình  tiên  đoán  tốt  hơn  mô  hình  sử  dụng  nồng  độ  β‐hCG  sau  hút  nạo  48  giờ  hay  nồng độ β‐hCG sau hút nạo tuần thứ 1. 

Trang 4

Nồng độ β-hCG Log likelihood AUC Giá trị p *

Sau hút nạo 48 giờ: -79,715 0,62 0,033

Sau hút nạo tuần thứ 1: -76,480 0,64 0,012

Sau hút nạo tuần thứ 2: -65,572 0,80 0,000

Tỷ số của nồng độ β-hCG sau hút nạo 48 giờ/trước hút nạo: -81,817 0,51 0,404

Tỷ số của nồng độ β-hCG sau hút nạo tuần thứ 1/trước hút nạo: -78,564 0,59 0,113

Tỷ số của nồng độ β-hCG sau hút nạo tuần thứ 2/trước hút nạo: -65,957 0,79 0,000

Tỷ số của nồng độ β-hCG sau hút nạo tuần thứ 2/sau hút nạo tuần thứ 1: -65,549 0,78 0,000

* Hồi qui Logistic. 

 

Biểu đồ 1. Đường cong ROC. 

Tại  điểm  cắt  logb2 =  2,931  tương  ứng  với 

nồng  độ  β‐hCG  sau  hút  nạo  tuần  thứ  hai:  b2 = 

850  mUI/mL  cho  chỉ  số  Youden  đạt  giá  trị  lớn 

nhất  (Youdenmax  =  0,52),  đồng  thời  cũng  cho 

khoảng cách trên đường cong ROC là ngắn nhất 

(distmin  =  0,34).  Tại  điểm  cắt  của  nồng  độ  β‐

hCG sau hút nạo tuần thứ 2 ≥ 850 mUI/mL cho 

giá  trị  tiên  đoán  BNBNTT:  độ  nhạy  73%,  độ 

chuyên 79%, giá trị tiên đoán dương 62%, và giá 

trị tiên đoán âm 86%. 

Bảng 4. Phân tích hồi quy đa biến mối liên quan giữa 

các yếu tố với BNBNTT: 

Yếu tố OR(95% CI) Giá trị p*

Nồng độ b-hCG sau hút

nạo tuần thứ 2 (log)

24,3 (6,6-89,3) 0,000

Nồng độβ-hCG trước hút

nạo (log) 0,3 (0,1-1,7) 0,169

Tuổi mẹ 0,9 (0,3-2,6) 0,781

Nang hoàng tuyến 0,8 (0,2-3,1) 0,806

Cường giáp 1,0 (0,2-5,6) 0,976

Kích thước TC 0,9 (0,8-1,0) 0,114

* Hồi qui Logistic. 

 

Biểu đồ 2. Đường cong ROC của nồng độ β‐hCG 

sau hút nạo tuần thứ 2. 

Sau khi đưa vào phân tích hồi quy đa biến,  các yếu tố như nồng độ β‐hCG trước hút nạo,  tuổi mẹ, nang hoàng tuyến, cường giáp và kích  thước  TC  vẫn  không  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  với  BNBNTT  giống  với  kết  quả  khi  phân tích đơn biến. Yếu tố nồng độ β‐hCG sau  hút nạo tuần thứ 2 có OR tăng từ 10,4 lên 24,3; 

log likelihood cải thiện từ ‐65,5724 lên ‐60,6392, 

và  đây  là  yếu  tố  có  liên  quan  độc  lập  với  kết  cuộc BNBNTT. 

BÀN LUẬN 

Thai  trứng  là  một  bệnh  lý  có  tiềm  năng  ác  tính đặc biệt là TTTP, vì vậy ngay sau khi được  chẩn đoán bệnh nhân được theo dõi β‐hCG mỗi  tuần  sau  khi  hút  nạo  để  phát  hiện  sớm  BNBNTT.  Nồng  độ  β‐hCG  trong  huyết  thanh  được đo mỗi tuần cho đến khi âm tính 3 lần liên  tiếp,  sau  đó  theo  dõi  β‐hCG  trong  6  tháng  tiếp  theo.  Thời  gian  trung  bình  β‐hCG  về  âm  tính  đầu tiên sau hút nạo là 9 tuần(3). Giống như tác 

Trang 5

tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 

BNBNTT với các yếu tố: tuổi mẹ, tiền căn số lần 

thai ngừng phát triển, nang hoàng tuyến > 6cm, 

kích  thước  TC,  cường  giáp  và  nồng  độ  β‐hCG 

trước hút nạo ≥ 100.000 UI/L. Mặc dù nồng độ β‐

hCG  trước  hút  nạo  là  một  yếu  tố  nguy  cơ  của 

BNBNTT trong bảng điểm tiên lượng của FIGO 

2000, nhưng trong nghiên cứu của chúng tôi cho 

thấy  nồng  độ  β‐hCG  trước  hút  nạo  >  100.000 

UI/L  không  làm  tăng  nguy  cơ  BNBNTT  sau 

TTTP (p = 0,151). Kết quả này giống với nghiên 

cứu  của  Kang  và  Wolberg(4,7).  Kết  quả  nghiên 

cứu là phù hợp khi những thập niên gần đây với 

sự phát triển rộng rãi của siêu âm và xét nghiệm 

β‐hCG huyết thanh, chúng ta đã phát hiện sớm 

các trường hợp thai trứng nên mặc dù nồng độ 

β‐hCG khi phát hiện bệnh thấp hơn so với trước 

đây, tần suất xuất hiện các triệu chứng nội khoa 

cũng  giảm  đi  nhưng  tỉ  lệ  diễn  tiến  thành 

BNBNTT vẫn không giảm(0). 

Hóa  dự  phòng  có  hiệu  quả  làm  giảm  tỉ  lệ 

BNBNTT sau hút nạo thai trứng nhưng hiện nay 

không  được  khuyến  cáo  vì:  hóa  dự  phòng 

không bảo vệ tuyệt đối đối với BNBNTT nhưng 

có  độc  tính  cao,  lại  làm  tăng  nguy  cơ  kháng 

thuốc  và  làm  chậm  trễ  việc  điều  trị  BNBNTT(3). 

Vì  các  biện  pháp  ngăn  chặn  sự  xuất  hiện  của 

BNBNTT  chưa  có  hiệu  quả  nên  cho  đến  nay 

trong  thai  trứng  việc  tiên  đoán  sớm  nguy  cơ 

BNBNTT vẫn là yếu tố quan trọng nhất giúp cải 

thiện tiên lượng bệnh.  

Kết  quả  nghiên  cứu  chúng  tôi  cho  thấy: 

trong  2  tuần  đầu  sau  hút  nạo,  nồng  độ  β‐hCG 

sau  hút  nạo  tuần  thứ  2  có  giá  trị  tiên  đoán 

BNBNTT tốt hơn nồng độ β‐hCG trước hút nạo 

và β‐hCG sau hút  nạo  tại  thời  điểm  48  giờ  hay 

tuần  thứ  1.  Nồng  độ  β‐hCG  sau  hút  nạo  tuần 

thứ 2 khi lấy tỷ số so với nồng độ β‐hCG trước 

hút nạo, hay khi lấy tỷ số so với nồng độ β‐hCG 

sau  hút  nạo  tuần  thứ  1  thì  các  tỷ  số  này  cũng 

không làm tăng thêm giá trị tiên đoán BNBNTT 

so với giá trị tuyệt đối của  nồng  độ  β‐hCG  sau 

hút nạo tuần thứ 2 (Bảng 2). Hơn nữa, khi lấy tỷ 

số  như  vậy  lại  làm  phức  tạp  thêm  trong  tính  toán, do đó chúng tôi chỉ chọn giá trị tuyệt đối  của  nồng  độ  β‐hCG  sau  hút  nạo  tuần  thứ  2  để  tiên lượng khả năng diễn tiến thành BNBNTT.  Tại  ngưỡng  chẩn  đoán  của  nồng  độ  β‐hCG  sau hút nạo tuần thứ 2 ≥ 850 mUI/mL cho giá trị  tiên đoán BNBNTT khá tốt với: độ nhạy 73%, độ  chuyên 79%, giá trị tiên đoán dương 62%, và giá  trị tiên đoán âm 86%.  

Ngưỡng  chẩn  đoán  của  nồng  độ  β‐hCG  sau  hút  nạo  tuần  thứ  2  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  thấp  hơn  so  với  nghiên  cứu  của  tác  giả Kang (850 mUI/mL với 2400 mUI/mL). Kết  quả  nồng  độ  β‐hCG  sau  hút  nạo  tuần  thứ  2  trong  nghiên  cứu  chúng  tôi  cho  giá  trị  tiên  đoán  BNBNTT  tốt  hơn  so  với  kết  quả  nghiên  cứu của Kang (Bảng 5). Sự khác biệt này có lẽ 

là do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi khác  nhau  về  chủng  tộc,  địa  dư,  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán cũng như phương pháp chọn điểm cắt(4).  Ngưỡng chẩn đoán của chúng tôi thấp hơn so  với tác giả Kang có thể là do trong nghiên cứu  chúng  tôi  bệnh  nhân  được  định  lượng  thêm  nồng độ β‐hCG sau hút nạo 48 giờ sau đó cách  khoảng mỗi tuần, do đó thời điểm định lượng  nồng  độ  β‐hCG  tuần  thứ  2  sau  hút  nạo  trong  nghiên cứu chúng tôi dài hơn 2 ngày so với tác  giả  Kang,  và  dòng  máy  xét  nghiệm  trong  nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện tốt  được các dạng lưu hành của β‐hCG(2). 

Tuy  nhiên,  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  vẫn  còn  hạn  chế  nhất  định  do  phương  pháp  thực  hiện đoàn hệ hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án đã 

có  của  bệnh  viện  nên  có  nhiều  yếu  tố  của  đối  tượng nghiên cứu có thể ảnh hưởng lên nguy cơ  xuất  hiện  BNBNTT  mà  chúng  tôi  không  thu  thập  được:  kích  thước  TC  so  với  tuổi  thai,  tiền  căn  tiếp  xúc  với  hóa  chất,  chế  độ  dinh  dưỡng,  hay  đời  sống  kinh  tế…  Chúng  tôi  đã  lấy  mẫu  toàn  bộ  nhưng  cỡ  mẫu  trong  nghiên  cứu  vẫn  còn hạn chế. Nếu có điều kiện chúng tôi sẽ tiến  hành  nghiên  cứu  đoàn  hệ  tiền  cứu  với  cỡ  mẫu  lớn  hơn  được  ước  tính  theo  diện  tính  dưới  đường  cong  để  làm  tăng  thêm  tính  tin  cậy  cho  kết quả nghiên cứu. 

Trang 6

β-hCG sau hút nạo tuần thứ 2 (mUI/mL) 95%CI

Độ nhạy Độ đặc hiệu GTTĐ (+) GTTĐ (-) OR

Kang 2012

≥ 2400 và < 2400

64%

(53-76)

78%

(73-84)

49%

(38-59)

87%

(83-92)

6,5 (2,6-10,4) Chúng tôi

≥ 850 và < 850

73%

(58-86)

79%

(69-87)

62%

(47-75)

86%

(77-93)

10,4 (4,5-24,2)

KẾT LUẬN 

Hồi cứu hồ sơ toàn bộ các bệnh nhân TTTP 

được  hút  nạo  và  theo  dõi  tại  bệnh  viện  Hùng 

Vương  từ  tháng  11/2011  đến  tháng  11/2012, 

thu thập nồng độ β‐hCG trước‐sau hút nạo và 

các biến số khác được coi là yếu tố nguy cơ của 

BNBNTT,  đồng  thời  sử  dụng  các  phép  kiểm 

thống kê để tìm ra mối liên quan giữa nồng độ 

β‐hCG  sau  hút  nạo  và  kết  cuộc  BNBNTT  để 

nhằm  mục  đích  tiên  đoán  sớm  nguy  cơ 

BNBNTT, chúng tôi nhận thấy nồng độ β‐hCG 

sau hút nạo tuần thứ 2 là một yếu tố tiên lượng 

độc lập có ý nghĩa thống kê cho nguy cơ diễn 

tiến  BNBNTT  sau  hút  nạo  ở  các  bệnh  nhân 

TTTP. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Berkowitz RS, Goldstein DP (2013) ʺCurrent advances in the 

management of gestational trophoblastic diseaseʺ. Gynecologic 

oncology, 128 (1), 3‐5. 

2 Cole LA (2009) ʺNew discoveries on the biology and detection 

of  human  chorionic  gonadotropinʺ.  Reproductive  biology  and 

endocrinology: RB&E, 7,8. 

3 Fu J, Fang F, Xie L, Chen H, He F, Wu T, Hu L, Lawrie TA  (2012) ʺProphylactic chemotherapy for hydatidiform mole to 

prevent gestational trophoblastic neoplasiaʺ. Cochrane database 

of systematic reviews, 10, CD007289. 

4 Kang WD, Choi HS, Kim SM (2012) ʺPrediction of persistent  gestational trophobalstic neoplasia: the role of hCG level and  ratio  in  2  weeks  after  evacuation  of  complete  moleʺ. 

Gynecologic oncology, 124 (2), 250‐3. 

5 Kerkmeijer  LGW  (2010)  Human  chorionic  gonadotropin  in  the 

prediction of persistent trophoblastic disease,  Ipskamp  Drukkers, 

Enschede,Raboud University Nijmegen, 145‐132 

6 Soper  JT  (2006)  ʺGestational  trophoblastic  diseaseʺ.Obstetrics 

and gynecology, 108 (1), 187‐176. 

7 Wolfberg  AJ,  Berkowitz  RS,  Goldstein  DP,  Feltmate  C,  Lieberman  E.  (2005)  ʺPostevacuation  hCG  levels  and  risk  of  gestational  trophoblastic  neoplasia  in  women  with  complete 

molar pregnancyʺ. Obstetrics and gynecology, 106 (3), 548‐52.   

Ngày nhận bài báo:       30/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   02/12/2013  Ngày bài báo được đăng:     05/01/2014 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 12:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm