Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh giá vai trò của xét nghiệm CEA trong theo dõi sự tái phát ung thư phổi. 36 bệnh nhân ung thư phổi được làm xét nghiệm CEA trước mổ và theo dõi mỗi tháng sau mổ. 10 trường hợp có CEA bình thường trước mổ, 26 trường hợp có CEA > 5 ng/ml trước mổ, nhưng sau mổ giảm nhanh.
Trang 1Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
DÙNG XÉT NGHIỆM CEA: ĐỂ NHẬN BIẾT NGUY CƠ TÁI PHÁT SỚM
UNG THƯ SAU MỔ UNG THƯ PHỔI NGUYÊN PHÁT
Lê Sỹ Sâm*, Đỗ Kim Quế*
TÓM TẮT
CEA là xét nghiệm hoá mô miễn dịch đưỡc dùng để xác định ung thư Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh giá vai trò của xét nghiệm CEA trong theo dõisự tái phát ung thư phổi 36 bệnh nhân ung thư phổi được làm xét nghiệm CEA trước mổ và theo dõi mỗi tháng sau mổ 10 trường hợp có CEA bình thường trước mổ, 26 trường hợp có CEA > 5 ng/ml trước mổ, nhưng sau mổ giảm nhanh Giá trị CEA không liên quan tới kích thước khối u Sự gia tăng trở lại của CEA gợi ý ung thư tái phát CEA trước mổ > 10 ng/ml là một yếu tố dự đoán nguy cơ tái phát cao
SUMMARY
USAGE CEA AS A TUMOR MARKER TO REVEAL EARLY RECURRENCE OF
POSTOPERATIVE BRONCHOGENIC CARCINOMA
Le Sy Sam, Do Kim Que * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 87 – 92
CEA is one of tumormaker for diagnosing some cancer The aims of this study to determine the valuation of CEA in follow-up the patients who have lung cancer 36 patient with lung cancer were access CEA before and every month after operation 10 of them have normal CEA before operation, 26 cases have CEA > 5ng/ml, but it was drop down after resect the tumors The level of CEA is not associate with the size of tumor The re-increasing of CEA after operation point out the recurrent of cancer CEA > 10 ng/mL bobore operation is predictable of high risk recurrence
ĐẶT VẤN ĐỀ
CEA là một hóa mô miễn dịch được dùng để
nhận biết ung thư, đặc biệt trong ung thư phổi người
ta đã chấp nhận như là một xét nghiệm trước mổ
thường qui Chúng tôi nhận thấy giá trị không hằng
định của nó trong việc tầm soát ung thư, do có nhiều
thay đổi về tính đặc hiệu so với từng loại ưng thư Tuy
nhiên, trên những bệnh nhân được mổ cắt thùy hoặc
cắt toàn bộ phổi thấy có giảm nồng độ CEA đáng kể
sau mổ, hơn thế nữa qua nghiên cứu chúng tôi nhận
thấy có mối liên quan giữa sự gia tăng nồng độ CEA
sau mổ với nguy cơ tái phát hoặc di căn trên những
bệnh nhân đã được điều trị
Trong hai năm 2003 -2004 chúng tôi đã phẫu
thuật cắt thùy phổi, cắt phổi cho những bệnh nhân
ung thư phổi, đã theo dõi sau mổ khá sát và có một số
được điều trị hóa trị bổ trợ Nghiên cứu này nhằm: Xác định mối liên quan của nồng độ CEA trong máu sau mổ với khả năng tiên đoán sớm nguy cơ tái phát ung thư trên những bệnh nhân ung thư phổi
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định giá trị của định lượng CEA sau mổ theo dõi nguy cơ tái phát sớm ung thư phổi nguyên phát
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Gồm tất cả những bệnh nhân ung thư phổi nguyên phát (loại những bệnh nhân là Small cell carcinoma), nhập viện điều trị:
Được mổ cắt thùy phổi, cắt phổi hoặc sinh thiết với GPBL là ung thư phổi nguyên phát loại không phải tế bào nhỏ
* Khoa Ngoại - Bệnh viện Thống nhất TP Hồ Chí Minh
Trang 2Phöông phaùp nghieđn cöùu
Noăng ñoô CEA ñöôïc theo doõi tröôùc vaø sau moơ
trong suoât thôøi giai theo doõi beônh nhađn
Ñaùnh giaù giai ñoán ung thö tröôùc moơ vaø sau moơ
Ñaùnh giaù khạ naíng taùi phaùt ung thö baỉng X
quang, CT scan vaø nhaât laø laøm xá hình xöông
Soâ lieôu thođng keđ ñöôïc xöû lyù baỉng phaăn meăm
SPSS 11.0, excel 2000
Thieât keâ nghieđn cöùu
Döông tính thaôt: TP (true positive), khi noăng ñoô
CEA taíng daăn sau moơ vaø coù u taùi phaùt
Döông tính giạ: FP (false positive), khi noăng ñoô
CEA taíng daăn sau moơ, khođng u taùi phaùt
AĐm tính thaôt: TN (true negative), N/ñoô CEA
khođng taíng vaø khođng coù u taùi phaùt, di caín
AĐm tính giạ: FN (false negative), N/ñoô CEA
khođng taíng nhöng coù u taùi phaùt, di caín
Xaùc ñònh khođng coù di caín tröôùc moơ qua taăm soaùt
baỉng sieđu ađm, CT scan gan, thöôïng thaôn, naõo hoaịc
vò trí nghi ngôø khaùc Xaùc ñònh coù ung thö taùi phaùt
hoaịc coù di caín sau moơ ngoaøi nhöõng xeùt nghieôm tređn
chuùng tođi coøn duøng Xá hình xöông laø tieđu chuaơn
chính xaùc nhaât
KEÂT QUẠ
Trong hai naím 10/2003 – 8/2004, chuùng tođi
nhaôn ñieău trò 107 beônh nhađn ung thö phoơi keơ cạ
ung thö phoơi loái teâ baøo nhoû (Small cell
carcinoma), taât cạ ñeău laøm xeùt nghieôm CEA tröôùc
moơ, coù nhöõng trò soâ noăng ñoô CEA raât cao moôt caùch
baât thöôøng Sau khi duøng cođng thöùc loái giaù trò baât
thöôøng ôû ñoô tin caôy 95% (OL = X ± 3*SD), keât quạ
coù 38 beônh nhađn phuø hôïp vôùi maêu nghieđn cöùu vaø
tính ñöôïc khoạng trung bình noăng ñoô CEA laø 13,79
± 3,79 (ng/ml) vaø ñoô leôch chuaơn 18,47 ng/ml
Ñaịc ñieơm beônh Keât quạ
Giôùi (nam/nöõ) 29 / 9 Tuoơi (Ñoô roông / trung bình ôû 95%) 43 – 79 / (65,5 ± 2,8) Noăng ñoô CEA (<5 / > 5 / > 10 ng/ml) 14 / 7 / 17 Loái teâ baøo K (A / Sq / L) 33 / 2 / 3 Loái phaêu thuaôt (Caĩt 1 thuøy / 2 thuøy /
caĩt Phoơi / Sinh thieât)
24 / 2 / 2 / 10 Giai ñoán K (/IIA / IIB / IIIA / IIIB /
IV)*
4 / 1 / 19 / 13 / 1 Yeâu toâ T (T 1 / T 2 / T 3 / T 4 ) 10 / 21 / 7 Yeâu toâ N (N 0 / N 1 / N 2 / N 3 ) 2 / 10 / 22 / 4 Yeâu toâ M (M 0 / M 1 ) 37 / 1
U taùi phaùt sau moơ (tái choễ / di caín xa) 5 / 5 Kích thöôùc U (Ñoô roông / trung bình ôû
KTC 95%), (mm)
20 – 80 / (51 ± 8,3) Thôøi gian theo doõi sau moơ 4 thaùng – 5 naím Tình tráng (Coøn soâng/ Töû vong) 28 / 10
A = adenocarcinoma; L = large cell carcinoma; Sq = squamous cell carcinoma; CEA = carcinoembryonic antigen; (*) Giai ñoán K theo giại phaêu beđnh sau moơ
Noăng ñoô CEA nhoùm nghieđn cöùu
Noăng ñoô CEA coù lẹ khođng ñaịc hieôu laĩm trong vieôc chaơn ñoaùn coù beônh ung thö, vì nhoùm beônh ung thö coù CEA thaâp döôùi ngöôõng trong nghieđn cöùu naøy laø cao (36,84%) (bạng 1 - 2)
Bạng soâ 2: Noăng ñoô CEA tröôùc vaø sau moơ
Trung bình (KTC 95%) Soâ
BN Tröôùc moơ Sau moơ
t-test
t s – t 0,05
Giaù trò
p = Sinh
thieât 3
2,36 ± 2,28 0,92
3,69 ± 3,84 0,89
0,13 <
2,01 0,155
CEA
< 5 ng/nl Moơ caĩt 7
3,16 ± 0,95 1,07
2,39 ± 0,64 0,75
1,92 <
1,94 0,051 Sinh
thieât 8
39,23 ± 27,68 33,07
58,74 ± 4,40 59,08
1,98 >
1,89 0,043 CEA
> 5 ng/ml Moơ caĩt 9
17,01 ± 10,64 13,84
8,78 ± 3,72 4,84
2,06 >
1,85 0,036 G/ñoán ≤ IIIA
Moơ caĩt 7
11,40 ± 4,39 4,75
8,19 ± 4,75 4,52
2,04 >
1,94 0,044 G/ñoán IIIB,
IV Sinh thieât
8
39,01 ± 27,75 33,19
58,58 ± 49,51 59,22
1,99 >
1,89 0,042
t-Test: Paired Two Sample for Means
Kieơm ñònh t-test cho maêu gheùp ñođi cho thaây coù
Trang 3Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
sự giảm nồng độ CEA trong máu khi cắt bỏ được khối
ung thư và không đổi hoặc tăng lên khi không cắt bỏ
được khối ung thư
Nồng độ CEA và phương pháp phẫu thuật
Bảng 4: Liên quan giữa nồng độ CEA trước mổ và
sau mổ (cắt bỏ U):
Trung bình (KTC 95%)
Số
BN Trước mổ Sau mổ
t-test
t s – t 0,05
Giá trị
p =
Sinh thiết 11
29,02 ± 21,92 32,63
43,34 ± 37,63 56,61
1,91 >
1,81 0,042 Cắt U 13 7,08 ± 3,25 5,83 5,81 ± 2,78 4,60 2,04 > 1,78 0,031
t-Test: Paired Two Sample for Means
Chúng tôi nhận thấy có sự thay đổi nồng độ CEA
trong máu người bệnh khi cắt được “U”
Trong nhóm chỉ sinh thiết mà không cắt được
“U” Kiểm định t-test cho mẫu sóng đôi (n = 11)
thấy sự gia tăng nồng độ CEA trong máu khi u không
được cắt bỏ có ý nghĩa thống kê với p = 0,042
Trong khi đó, bệnh nhân mổ cắt bỏ được khối
ung thư, nồng độ CEA trong máu đã giảm xuống rõ
rệt Kiểm định t-test với mẫu sóng đôi (n = 13) cho
thấy sự giảm nồng độ CEA sau khi mổ cắt được khối
ung thư có ý nghĩa thống kê với p = 0,031
Nồng độ CEA và kích thước khối ung
thư
Bảng 5: Liên quan giữa kích thước khối U và nồng độ
CEA trong máu, trước mổ:
Kích thước U SốBN Trung bình
(95%)
Độ lệch chuẩn
t s – t 0,05
p =
CEA < 5
ng/ml 7 54,28 ± 13,98 15,11
CEA > 5
ng/ml 9 53,33 ± 16,30 21,21
0,104 <
1,75
p = 0,46
t-Test: Two-Sample Assuming Unequal Variances
Để tìm mối liên quan giữa kích thước khối ung
thư với nồng độ CEA trước mổ trong hai nhóm có
nồng độ CEA thấp < 5 ng/mL và nhóm có CEA > 5
ng/mL kiểm định t-test trung bình cho hai mẫu khác
phương sai, thấy sự khác nhau về kích thước khối ung
thư theo nồng độ CEA là chưa có ý nghĩa thống kê với
p = 0,46
Kiểm định cho thấy “Kích thước khối ung thư không liên quan lắm đến nồng độ CEA trong máu người bệnh ung thư
Vai trò của CEA theo dõi tái phát U
Bảng 6: Độ nhạy, độ chuyên, độ chính xác, khả năng
tiên đoán dương:
TP TN FP FN N = SE SP AC PPV NPV
CEA (<5 ng/ml) 2 5 3 0 10 100 62,5 70 40 100
CEA (>5 ng/ml) 2 3 1 0 6 100 75 83,3 66,7 100
CEA (>10ng/ml)
4 3 3 3 13 57 50 53,8 57 50 CEA + S/
THIẾT
4 2 5 2 13 66,7 40 46 44,4 50
CEA + CẮT U 2 11 1 0 14 100 91,6 92,8 66,7 100 CEA (IIA-IIIA) 3 11 2 1 17 75 84,6 82,3 60 91,6 CEA (IIIB,IV) 4 3 3 1 11 80 50 63,6 57,1 75
TN = true negative; TP = true positive FN = false negative; FP = false positive; SE = Độ nhạy (sensitivity); SP = Độ chuyên (specificity); AC = Độ chuẩn xác (accuracy); PPV = Giá trị tiên đoán dương (positive predictive value); NPV = Giá trị tiên đoán âm (negative predictive value); CI = Độ tin cậy (confidence interval)
Chúng tôi nghiên cứu CEA > 10 ng/mL nhận thấy mức tăng lên của nồng độ CEA sau mổ và có ung thư tái phát có độ nhạy 57% không cao nhưng 13 trường hợp thì có 7/13 trường hợp tái phát hay di căn, giống các y văn trên thế giới (11)
Những bệnh nhân sau mổ, có nồng độ CEA bình thường so với nhóm có nồng độ CEA cao, có tỷ lệ sống còn sau mổ cao hơn So sánh hai nhóm (n =
10, n = 13), tỷ lệ sống 5 năm là 80% so sánh với 13%
ở nhóm chứng (11)
BÀN LUẬN Về đặc điểm lâm sàng nhóm nghiên cứu
Tỷ lệ giữa ung thư phổi không phải tế bào nhỏ loại Adenocarcinoma so với các loại tế bào khác là 33/38 chiếm tỷ lệ 86,84% Sự tăng lên của ung thư phổi loại tế bào Adenocarcinoma đã được ghi nhận trong các y văn trong nước trước đây(1,2,3,4,5).
Trang 4Adenocarcinoma Theo y văn thế giới cũng như trong
nước, marker CEA chỉ có ý nghĩa đặc hiệu đối với ung
thư loại tế bào tuyến, nhất là ung thư đường tiêu hoá(6).
Ngưỡng nồng độ CEA được cho là bình thường
hiện nay trên thế giới là < 5 ng/ml (tuỳ thuộc
phương pháp xét nghiệm) Tuy nhiên, Kết quả nhóm
nghiên cứu của chúng tôi, thấy ở bệnh nhân ung thư
có nồng độ CEA < 5 ng/ml chiếm 36,84% Theo
Noriyoshi S trong 297 bệnh nhân ung thư phổi giai
đoạn I với nồng độ CEA < 7 ng/mL có 241/297 =
81%, trong khi nhóm có nồng độ CEA cao > 7
ng/mL chỉ 19%(10)
Có 73,68% (28/38) bệnh nhân phẫu thuật cắt
được “U” (giai đoạn ≤ IIIA) Kết quả giải phẫu bệnh lý
(GPBL) sau mổ có khoảng 63% nằm giai đoạn phẫu
thuật cắt được “U” (Chúng tôi gọi cắt được “U” khi
bệnh nhân được mổ và cắt đựoc một thùy, hai thùy
hoặc cắt một bên phổi có ung thư)
Chiếm đa số U ở giai đoạn T3 (55,3%), giai đoạn
N1 - N2 (84,2%) Kết quả nghiên cứu của Gianfranco
Buccheri (7) trong 118 bệnh nhân ung thư phổi không
phải tế bào nhỏ có T3 là 10,2% (12/118) và N1 – N2 là
33,9% (40/118)
U tái phát sau mổ nhanh nhất là 3 tháng, 10
trường hợp, trong đó tái phát tại chỗ 5 trường hợp và
di căn xa 5 trường hợp nhiều nhất là di căn xương
phát hiện qua xạ hình xương
Về nồng độ CEA nhóm nghiên cứu
Nồng độ CEA có lẽ không đặc hiệu lắm trong việc
chẩn đoán có bệnh ung thư, vì nhóm bệnh ung thư
có CEA thấp dưới ngưỡng (< 5 nbg/mL) trong
nghiên cứu này là cao (36,84%), (bảng 1 - 2)
Với nồng độ CEA < 5 ng/ml, nhóm bệnh sinh thiết
u thấy nồng độ CEA không thay đổi trước và sau mổ ở p
= 0,155 và khi cắt được U, nồng độ CEA có giảm trong
máu người bệnh nhưng vẫn chưa có giá trị thống kê với
t-test cho mẫu sóng đôi ở ngưỡng α = 0,05 Nghĩa là
khi bệnh nhân ung thư có nồng độ CEA thấp dưới
ngưỡng (< 5 ng/mL) thì sau mổ nồng độ CEA giảm
Trong nhóm bệnh nhân có nồng độ CEA cao trên ngưỡng (> 5 ng/mL), nếu chỉ mổ cắt một phần hay mổ sinh thiết thì nồng độ CEA sau mổ vẫn cứ tăng lên với khoảng trung bình của nồng độ CEA từ 39 ng/mL tăng lên 58 ng/mL kiểm định t-test một chiều cho thấy sự tăng nồng độ CEA có ý nghĩa tiên đoán bệnh đang tiến triển, với p = 0,043
Trong khi đó, ở những bệnh nhân nồng độ CEA cao trên ngưỡng nhưng khi đã cắt bỏ U, nồng độ CEA đã giảm xuống (ở độ tin cậy 95%), khoảng trung bình nồng độ CEA giảm từ 17,01 ng/mL xuống còn 8,78 ng/mL Kiểm định t-test một chiều cho mẫu sóng đôi thấy sự giảm xuống của nồng độ CEA khi cắt bỏ “U” có ý nghĩa thống kê, với p = 0,036
Với nhóm có ngưỡng CEA cao trên 5 ng/ml, khi bệnh nhân cắt bỏ được “U” (giai đoạn < IIIA) nồng độ CEA trong máu sau mổ cũng giảm có ý nghĩa thống kê, với p = 0,044, và ở nhóm bệnh nhân ung thư giai đoạn muộn IIIA, IV sau mổ cắt một phần hoặc chỉ sinh thiết nhận thấy nồng độ CEA vẫn tăng cao có ý nghĩa thống kê, với p = 0,042
Về nồng độ CEA và phương pháp phẫu thuật
Chúng tôi nhận thấy có sự thay đổi nồng độ CEA trong máu người bệnh khi cắt được “U”
Trong nhóm những bệnh nhân ung thư chỉ sinh thiết mà không cắt được “U”, kết quả theo dõi sau khi sinh thiết thấy nồng độ trung bình của CEA tăng dần lên theo thời gian, khoảng trung bình nồng độ CEA tăng từ 29,02 ng/mL lên 43,34 ng/mL Kiểm định t-test cho mẫu sóng đôi (n = 11) thấy sự gia tăng nồng độ CEA trong máu khi u không được cắt bỏ, có ý nghĩa thống kê, với p = 0,042
Trong khi đó, những bệnh nhân mổ cắt bỏ được khối ung thư, nồng độ CEA trong máu đã giảm xuống rõ rệt, khoảng trung bình nồng độ CEA giảm từ 7,08 ng/mL xuống còn 5,81 ng/mL Kiểm định t-test với mẫu sóng đội (n = 13) cho thấy sự giảm nồng độ CEA sau khi mổ cắt được khối ung thư có ý nghĩa
Trang 5Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005
thống kê, với p = 0,031
Nghiên cứu của Yukinori Sakao (9) trong 54
bệnh nhân ung thư phổi Adenocarcinoma giai đoạn I,
phẫu thuật cắt thùy phổi kết hợp nạo hạch trung thất,
hạch rốn phổi, kết luận rằng: những bệnh nhâncó
nồng độ CEA cao và loại tế bào tuyến kém biệt hóa
thì có nguy cơ di căn hạch trung thất rất cao
Nghĩa là nồng độ CEA trong máu người bệnh ung
thư phụ thuộc sự hiện diện của khối ung thư trong
bệnh nhân Nồng độ CEA tăng lên khi U vẫn còn
trong bệnh nhân và giảm dần xuống khi khối ung thư
được cắt bỏ Tuy nhiên, nồng độ này có liên quan đến
kích thước khối ung thư hay không?
Về nồng độ CEA và kích thước khối
ung thư
Để tìm mối liên quan giữa kích thước khối ung
thư với nồng độ CEA trước mổ trong hai nhóm có
nồng độ CEA thấp < 5 ng/mL và nhóm có nồng độ
CEA > 5 ng/mL, kích thước trung bình của khối ung
thư lần lượt là (54,28 ± 13,98) mm và (53,33 ± 16,3)
mm kiểm định t-test trung bình cho hai mẫu khác
phương sai, thấy sự khác nhau về kích thước khối ung
thư theo nồng độ CEA là chưa có ý nghĩa thống kê,
với p = 0,46
Kiểm định cho thấy “Kích thước khối ung thư
không liên quan lắm đến nồng độ CEA trong máu
người bệnh ung thư Theo Ottavio Rena (8) trên 667
bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn I được phẫu thuật
thì tỷ lệ sống 5 năm với loại Adenocarcinoma là 67%
và Squasmous là 51% và kích thước U < 30 mm là
67% còn kích thước u > 30 mm là 40% Tác giả kết
luận rằng Những khối ung thư loại tế bào tuyến
(Adenocarcinoma) có kích thước nhỏ dưới 30 mm sẽ
có một dự hậu tốt hơn
Vai trò của CEA theo dõi tái phát U
Nhóm bệnh nhân có nồng độ CEA thấp (< 5
ng/mL), sau mổ nồng độ này giảm chưa có ý nghĩa
thống kê với p = 0,051 tuy nhiên khi nồng độ này
tăng lên sau mổ báo hiệu có U tái phát với độ nhạy
100% Độ chuyên 62,5% Độ chuẩn xác 70% và giá trị
tiên đoán âm cũng 100% Nghĩa là dù cho nồng độ
CEA thấp ở bệnh nhân ung thư phổi, nhưng sau mổ, nồng độ này tăng dần lên là báo hiệu tình trạng bệnh đang tái phát hoặc di căn
Chúng tôi nghiên cứu nhóm có Nồng độ CEA >
10 ng/mL nhận thấy mức tăng lên của nồng độ CEA sau mổ kết hợp có ung thư tái phát, độ nhạy 57% không cao, nhưng 13 trường hợp thì có 7/13 trường hợp tái phát hay di căn, giống các y văn trên thế giới
(11) Có thể nồng độ CEA ở một số bệnh nhân ung thư phổi cao bất thường còn do nguyên nhân kết hợp khác như hút thuốc lá.v.v bởi thế khi nồng độ CEA tăng lên sau mổ có lẽ không đặc hiệu để xác đinh tái phát sau mổ, nhưng vẫn có ý nghĩa cảnh giác tốt để kịp thời nhận định điều trị
Nghiên cứu của Gianfranco Buccheri (7) trên
118 bệnh nhân, thấy rằng: với nồng độ CEA > 10 ng/mL, ung thư giai đoạn IA – IIIA, có tỷ lệ 67% tái phát sau mổ, còn nồng độ CEA < 10 ng/mL có 80 – 88% trường hợp không tái phát sớm
Theo tác giả Noriyoshi Sawabata(10) nghiên cứu
297 bệnh nhân đã kết luận rằng: Nhóm bệnh có nồng độ CEA cao thì tỷ lệ sống 5 năm là 49% so với tỷ lệ sống 72% ở nhóm có nồng độ CEA bình thường Bệnh nhân có nồng độ CEA cao sau mổ có tiên lượng xấu hơn nhóm có nồng độ trở về bình thường với tỷ lệ sống 5 năm lần luợt là 18% (n = 15) và 68% (n = 41) Tác giả còn cho rằng nồng độ CEA cao liên tục sau mổ là một chỉ điểm đặc biệt mạch để tiên lượng bệnh
KẾT LUẬN
Nồng độ CEA liên quan không nhiều đến kích thước khối u
Nồng độ CEA giảm xuống khi bệnh nhân được cắt bỏ khối ung thư, và khi nồng độ này tăng trở lại, báo hiệu một tình trạng tái phát hoặc di căn sau mổ Khi nồng độ CEA cao (> 10 ng/mL) trước mổ, khả năng tái phát hoặc di căn sau mổ cao
Ung thư phổi giai đoạn trước IIIA, nồng độ CEA sau mổ giảm xuống rõ rệt với p = 0,044 khi nồng độ này biến đổi tăng lên sau mổ thì khả năng tái phát hoặc di căn cao 75%
Trang 6Thorac Surg 2003; 75: 1113-1117
thuật điều trị ung thư phế quản qua 500 trường hợp
tại Viện Lao và Bệnh Phổi Báo cáo Khoa học Đại hội
Hội Ngoại Khoa Việt Nam lần thứ X (29-30/10/1999)
Tập 2 1999 238-341
10 Sawabata N, Ohta M, Takeda S-I, H Hirano, Okumura
Y, Asada H, Maeda H, Serum carcinoembryonic antigen level in surgically resected clinical stage i patients with non-small cell lung cancer Ann Thorac Surg 2002;74:174-179
2 Trần Văn Ngọc: Đặc tính Giải phẫu bệnh lý của ung
thư phế quản Luận án Tiến sĩ Y học – 1998 ĐHYD
H, Takeda S-I, Maeda H, Immunohistochemical analysis of resected clinical stage I pulmonary adenocarcinomas with high preoperative levels of serum carcinoembryonic antigen Ann Thorac Surg 2003;76: 203 – 207
3 Đỗ Kim Quế, Lê Sỹ Sâm Một vài nhận xét về chẩn
đoán và điều trị ung thư phổi nguyên phát tại Bệnh
Viện Thống Nhất Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa
học BVTN năm 2003 409 – 418
4 Lê Sỹ Sâm Một số nhận xét về điều trị phẫu thuật
bệnh ung thư phổi nguyên phát tại Bệnh Viện Thống
Nhất Kỷ yếu công trình NCKH - BVTN năm 2002
193 – 200
12 Fang D, Zhang D, Huang G, Zhang R, Wang L, Zhang
D, Results of surgical resection of patients with primary lung cancer: a retrospective analysis of 1,905 cases Ann Thorac Surg 2001;72:1155-1159
5 Lê Sỹ Sâm Một vài nhận xét về vai trò của hệ thống
phân loại TNM trong ung thư phổi nguyên phát tại
Bệnh Viện Thống Nhất Kỷ yếu công trình nghiên cứu
khoa học BVTN năm 2002 201 – 212
13 Furák J, Troján I, Tamás S, Tiszlavicz L, Morvay Z, J Eller Bronchioloalveolar lung cancer: occurrence, surgical treatment and survival Eur J Cardiothorac Surg 2003; 23: 818-823
Thành Giải phẫu bệnh ung thư Ung bướu học nội
khoa Nhà xuất bản Y Học 2004; 45 – 72 14 Suzuki K, Asamura H, Kusumoto M, Kondo H, Tsuchiya R: "Early" peripheral lung cancer:
prognostic significance of ground glass opacity on thin-section computed tomographic scan Ann Thorac Surg 2002; 74: 1635-1639
early postoperative recurrence of lung cancer: a new
use of the old CEA test Ann Thorac Surg
early-stage lung cancer: Computed tomographic scan or chest radiograph? J Thorac Cardiovasc Surg 2001; 121: 1053 - 1057
Marzio P, Maggi G, Ruffini E: Stage I non-small cell
lung carcinoma: really an early stage? Eur J
Cardiothorac Surg 2002;21:514-519