1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chỉ số sức cản động mạch thận ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính do viêm cầu thận mạn

6 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 316,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nhằm khảo sát chỉ số sức cản động mạch thận (resistive index- RI) bằng siêu âm doppler động mạch thận ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính do viêm cầu thận mạn điều trị nội trú tại khoa thận tiết niệu - Bệnh viện Bạch Mai từ T1/2013-T8/2013.

Trang 1

CHỈ SỐ SỨC CẢN ĐỘNG MẠCH THẬN Ở BỆNH NHÂN

BỆNH THẬN MẠN TÍNH DO VIÊM CẦU THẬN MẠN

Đỗ Gia Tuyển*, Nguyễn Thị An Thủy*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát chỉ số sức cản động mạch thận (Resistive index- RI) bằng siêu âm Doppler động mạch

thận ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính do viêm cầu thận mạn điều trị nội trú tại khoa Thận Tiết niệu- Bệnh viện Bạch Mai từ T1/2013-T8/2013

Phương pháp: phương pháp mô tả cắt ngang tiến cứu

Kết quả: chỉ số sức cản ĐMT tại các vị trí gốc ĐMT là 0.74 ± 0.05, ở thân ĐMT là 0.73 ± 0.05 và ở ĐMT

nhu mô là 0.68 ± 0.06 Không có sự khác biệt về chỉ số sức cản ở hai bên động mạch thận phải và trái (p > 0.05) tại

vị trí gốc, thân và nhu mô thận, đồng thời khi mức độ suy thận càng nặng thì chỉ số sức cản ĐMT càng cao và càng có sự khác biệt rõ rệt giữa các giai đoạn BTMT

Kết luân: Siêu âm Doppler mạch thận đo chỉ số sức cản động mạch thận là một biện pháp có ích giúp đánh

giá tình trạng xơ hóa cầu thận và tiên lượng khả năng tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối trong tương

Từ khóa: chỉ số sức cản (RI), động mạch thận, bệnh thận mạn tính

ABSTRACT

THE RENAL ARTERIAL RESISTIVE INDEX IN CHRONIC KIDNEY DIESASE PATIENTS

Do Gia Tuyen, Nguyen Thi An Thuy * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - No 4 - 2015: 389 -

Objectives: investigated the renal arterial resistive index by using Doppler ultrasound technique chronic

kidney disease cause by glomerulonephritis, hospitalized in Nephrology- Urology Department, Bach Mai hospital from January 2013 to August 2013

Method: prospective cross- section study

Results: Mean RI at the principal arterial was 0.74 ± 0.05, at the body arterial was 0.73 ± 0.05 and the

parenchyma arterial was 0.68 ± 0.06, it’s significantly higher than normal parameters There was no difference between right and left arterial renal arterial resistive index at 3 positions: principal arterial, body arterial and parenchyma arterial (p > 0.05) There was significant difference in renal arterial resistive index at 3 positions: principal arterial, body arterial and parenchyma arterial (p < 0.05) among three group’s patients with chronic kidney disease stage II-III, IV and V

Conclusions: The results demonstrated that the more advanced renal insufficiency the higher in renal

resistant index Our studies indicated that renal arterial resistive index by using Doppler ultrasound should be done in CKD patients who are at risk of progressing to end stage renal disease

Key words: resistive index, renal arterial, chronic kidney disease

MỞ ĐẦU

Suy thận mạn tính là một hội chứng lâm

sàng và sinh hóa tiến triển qua nhiều năm tháng

làm giảm mức lọc cầu thận một cách từ từ, không hồi phục, kết quả cuối cùng là suy thận giai đoạn cuối Trong các nguyên nhân gây suy thận mạn thì viêm cầu thận mạn là nguyên nhân

* Bộ môn Nội tổng hợp Trường Đại học Y Hà Nội

Tác giả liên lạc: Ths.Bs Nguyễn Thị An Thủy ĐT: 0914.596.896 Email: dogiatuyen70@gmail.com

Trang 2

hay gặp nhất, chiếm tới 30-45% các trường hợp(2)

Tiến triển của viêm cầu thận mạn dẫn đến xơ

hóa cầu thận và tổ chức kẽ thận, giảm dần chức

năng của các mao mạch cầu thận, kết quả là

giảm dần số lượng và diện tích các mạch máu

trong thận làm tăng sức cản mạch máu trong

thận(11,12,3) Sức cản mạch máu trong thận được

tính bởi chỉ số sức cản (Resistive index- RI) trong

siêu âm Doppler mạch thận(8) Siêu âm Doppler

mạch thận đã được áp dụng từ lâu tại Việt Nam

để chẩn đoán

các bệnh liên quan đến mạch máu thận, tuy

nhiên các công trình nghiên cứu về RI đối với

bệnh lý nhu mô thận mà đặc biệt là ở bệnh nhân

viêm cầu thận mạn còn rất hạn chế Việc phát

hiện sớm, điều trị kịp thời và dự đoán được tiên

lượng của tình trạng suy thận sẽ làm chậm tiến

triển của bệnh và có ý nghĩa quan trọng trong

việc quyết định lựa chọn các phương pháp điều

trị cho bệnh nhân Vì vậy, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu này với mục tiêu: Khảo sát chỉ số sức

cản động mạch thận (RI) bằng siêu âm Doppler động

mạch thận ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính do viêm

cầu thận

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

63 bệnh nhân chẩn đoán bệnh thận mạn tính

do viêm cầu thận, điều trị nội trú tại khoa Thận

Tiết niệu- Bệnh viện Bạch Mai từ

T1/2013-T8/2013

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh cầu thận thứ phát, hội chứng thận

hư, bệnh cầu thận do nhiễm độc thai nghén,

suy thận cấp, suy thận mạn đã được điều trị

thay thế

Phương pháp nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân được tiến hành nghiên cứu

theo các bước thống nhất: khai thác tiền sử, triệu

chứng lâm sàng và khảo sát các xét nghiệm huyết học, sinh hóa (được thực hiện tại các khoa chuyên trách bệnh viện Bạch Mai với các thông

số tham chiếu do các khoa này công bố) và được siêu âm thận bằng máy ALOKA đặt tại khoa Thận Tiết Niệu Bệnh viện Bạch Mai, do các bác

sỹ chuyên khoa Thận siêu âm Mức lọc cầu thận được tính theo công thức của Crockcoff-Gault

Siêu âm Doppler ĐMT hai bên

Bằng máy siêu âm Doppler Philips HD 11 đặt tại viện Tim mạch- Bệnh viện Bạch Mai và do một bác sỹ chuyên khoa Tim mạch duy nhất thực hiện, tính chỉ số sức cản RI của Pourcelot RI

< 0.7 là bình thường, RI ≥ 0.7 là tăng chỉ số sức cản(8)

Xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý số liệu

KẾT QUẢ Chỉ số

RI BTMT gđ

ĐMT các vị trí Gốc Thân Nhu mô

Phân bố bệnh nhân theo giai đoạn BTMT

Biểu đồ 1: Phân bố bệnh nhân nghiên cứu theo giai

đoạn BTMT

Nhận xét: Trong nhóm nghiên cứu, BN

BTMT gđ II-III chiếm 30.2%, gđ IV chiếm

30.2% và gđ V chiếm 39.6%

Trang 3

Chỉ số sức cản tại gốc, thân và nhu mô thận 2 bên

Bảng 1: Chỉ số sức cản tại gốc, thân và nhu mô thận 2 bên

II-III

IV

V

Nhận xét: Không có sự khác biệt giữa chỉ số

sức cản ở 2 bên ĐMT tại vị trí gốc,thân và nhu

mô thận với p > 0.05 ở mỗi nhóm BTMT gđ II-III,

IV và V

Chỉ số sức cản ĐMT tại các vị trí gốc, thân

và nhu mô thận của nhóm bệnh nhân

nghiên cứu

Do không có sự khác biệt về RI bên phải và

trái ĐMT tại các vị trí gốc, thân và nhu mô thận

nên RI trung bình tại các vị trí trên được tính

bằng trung bình cộng của hai bên phải và trái

Bảng 2: RI tại gốc, thân và nhu mô thận của nhóm

BN nghiên cứu

Chỉ số

RI BTMT gđ

ĐMT các vị trí Gốc Thân Nhu mô

Nhận xét: RI trung bình tại gốc, thân và nhu

mô ĐMT của nhóm nghiên cứu lần lượt là 0.74 ±

0.05, 0.73 ± 0.05, 0.68 ± 0.06 Có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê về RI trung bình tại gốc, thân và

nhu mô ĐMT giữa 3 nhóm BTMT gđ II-III, IV và

V với p<0.05, có nghĩa là khi mức độ suy thận

càng nặng thì RI tại các vị trí trên càng tăng

Chỉ số sức cản tại gốc, thân và nhu mô

ĐMT khi so sánh từng cặp giai đoạn

BTMT của nhóm nghiên cứu

Bảng 3: Chỉ số sức cản ĐMT khi so sánh từng cặp

giai đoạn BTMT

Chỉ số RI

So sánh

ĐMT các vị trí Gốc Thân Nhu mô

Nhận xét: Tại gốc và thân ĐMT có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê về RI trung bình giữa từng cặp BTMT gđ II-III và IV, II-III và V, IV và V với p < 0.05 Tại nhu mô ĐMT không có sự khác biệt về RI trung bình giữa BTMT gđ II-III và IV nhưng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về RI trung bình giữa BTMT gđ II-III và V, IV và V với

p < 0.05

BÀN LUẬN

Kết quả từ biểu đồ 1 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ BN ở

ba nhóm BTMT giai đoạn III, IV và V (gđ II-III là 30.2%, gđ IV là 30.2% và gđ V là 39.6%)

Sở dĩ như vậy là do chúng tôi lựa chọn BN sao cho tỷ lệ giữa các nhóm như nhau để không ảnh hưởng đên kết quả khi so sánh chỉ số RI giữa các nhóm

Qua nghiên cứu 63 bệnh nhân chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt về RI ĐMT tại các vị trí gốc ĐMT, thân ĐMT và nhu mô ĐMT giữa hai bên thận phải và thận trái ở mỗi nhóm

BN BTMT giai đoạn II-III, IV và IV với p > 0.05 Trong nghiên cứu của tác giả Bùi Văng Giang năm 1997(1) trên 40 người bình thường cho thấy không có sự khác biệt về RI ĐMT tại các vị trí gần chỗ xuất phát của ĐMT, thân ĐMT rốn thận

và ở các nhánh liên thùy giữa ĐMT phải và ĐMT trái Năm 1997, tác giả Savader S.J(9) cũng

Trang 4

đã tiến hành đo lưu lượng dòng máu qua thận

của người bình thường, kết quả cho thấy lưu

lượng máu qua thận phải 382 ml/phút và thận

trái 370 ml/phút, sự khác biệt giữa lưu lượng

máu qua thận phải và thận trái không có ý nghĩa

thống kê (p > 0.05) Điều này gợi ý có sự gia tăng

sức đề kháng của tiểu động mạch trong thận và

là dấu hiệu xơ cứng động mạch thận đang phát

triển, cuối cùng sẽ dẫn đến suy thận Trong

nghiên cứu của chúng tôi đối tượng là những

bệnh nhân bệnh thận mạn do viêm cầu thận

mạn cở các giai đoạn khác nhau, kết quả bước

đầu từ bảng 1 cho thấy không có sự khác biệt về

RI tại vị trí gốc, thân và nhu mô ĐMT ở hai bên

thận với p > 0.05 Vì vậy, trong nghiên cứu này

chúng tôi đã sử dụng RI trung bình tại các vị trí

trên được tính bằng trung bình cộng của RI ở hai

bên ĐMT phải và trái, tương tự với cách tính RI

trung bình trong các nghiên cứu của tác giả

Richard J.MacIsaac(5), Toshihiro Sugiura(10) Kết

quả từ bảng 2 cho thấy RI trung bình tại các vị trí

gốc, thân và nhu mô ĐMT của nhóm nghiên cứu

là 0.74 ± 0.05, 0.73 ± 0.05 và 0.68 ± 0.06 Mặc dù

trong một số tài liệu đã nêu ra giá trị trung bình

về RI ở người bình thường, tuy nhiên để có một

cái nhìn khách quan và toàn diện hơn, đặc biệt

khi đối tượng nghiên cứu là người Việt Nam,

chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu và so sánh RI

động mạch thận với một số tác giả trong nước

nghiên cứu về chỉ số RI động mạch thận ở người

Việt Nam bình thường Nghiên cứu của tác giả

Bùi Văn Giang (1997)(1) đã tiến hành đo RI động

mạch thận ở 40 người bình thường và cho thấy

RI trung bình đo tại vị trí nhu mô ĐMT là: 0.57 ±

0.04 Tương tự như vậy Huỳnh Văn Nhuận

nghiên cứu trên 22 người khỏe mạnh, cùng độ

tuổi, không có bệnh thận và THA cho thấy RI

trung bình tại gốc ĐMT của nhóm người khỏe

mạnh là 0.665 ± 0.04 Nghiên cứu của tác giả

Mastoraku.I(6) trên 50 người tình nguyện khỏe

mạnh cũng cho thấy RI trung bình đo tại vị trí

nhu mô ĐMT của người trưởng thành bình

thường là 0.60 ± 0.01 Như vậy RI ở nhóm bệnh

nhân mắc bệnh thận mạn tính cao hơn một cách

đáng kể và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với

p < 0.05.Điều đó cho thấy RI ĐMT ở những bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính tăng cao hơn so với người bình thường Khi tiến hành so sánh với một số tác giả khác cùng nghiên cứu về RI ĐMT ở bệnh thận suy thận mạn chúng tôi nhận thấy: Theo tác giả Huỳnh Văn Nhuận(4) nghiên cứu trên 36 bệnh nhân suy thận mạn, kết quả nghiên cứu cho thấy RI trung bình tại gốc ĐMT

là 0.79 ± 0.03 cao hơn kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi là 0.74 ± 0.05 Điều này khẳng định thêm về bằng chứng có sự tăng sức cản ĐMT ở nhóm bệnh nhân suy thận mạn Hơn thế nữa khi

so sánh thì có sự khác biệt về RI ĐMT trong nghiên cứu của tác giả với kết quả của chúng tôi,

đó là RI trung bình ĐMT trong nhóm BN của tác giả cao hơn hẳn RI trung bình đo tại cùng vị trí của ĐMT trong nghiên cứu của chúng tôi có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Sự khác biệt này có thể được lý giải như sau: Trong nghiên cứu của Huỳnh Văn Nhuận đối tượng nghiên cứu của là những bệnh nhân suy thận mạn độ III, IV (theo phân loại cũ của Nguyễn Văn Sang) có nồng độ Creatinin máu ≥ 300 μmol/l, trong khi đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những bệnh nhân có MLCT ≤ 89 ml/ph (Theo phân loại BTMT của Hội thận học Hoa Kỳ 2002), như vậy nhóm bệnh nhân của tác giả có mức độ suy thận nặng hơn so với nhóm BN nghiên cứu của chúng tôi Điều này càng khẳng định một điều rằng bệnh nhân

có mức lọc cầu thận càng giảm thì chỉ só sức cản động mạch thận càng tăng

Trong nghiên cứu này dù số lượng bệnh nhân không nhiều nhưng chúng tôi cũng đã lựa chọn đủ bệnh nhân mắc bệnh thận mạn do VCTM có mức lọc cầu thận khác nhau để khảo sát sức cản ĐMT ở 3 nhóm bệnh thận mạn tính Theo bảng 2 cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về RI trung bình tại các vị trí gốc, thân

và nhu mô ĐMT ở các nhóm BN BTMT giai đoạn II-III, IV và V, sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê với p < 0.05 Đây là một bằng chứng nữa gợi ý rằng bệnh nhân có mức độ suy thận càng nặng thì RI ĐMT sẽ tăng lên, ít nhất ở nhóm bệnh

Trang 5

nhân suy thận do viêm cầu thận mạn Những

nghiên cứu trên đây cùng với kết quả của chúng

tôi ủng hộ giả thuyết cho rằng khi mức độ suy

thận càng nặng thì mức độ xơ hóa cầu thận càng

tăng lên làm tăng sức cản động mạch thận

Tương quan giữa mức lọc cầu thận và lưu lượng

máu qua thận biến đổi là một vòng xoắn của

bệnh lý thận.Giảm lưu lượng máu sẽ gây xơ hóa

nhu mô thận, ngược lại giảm mức lọc cầu thận,

xơ hóa nhu mô thận lại dẫn tới giảm lưu lượng

máu qua thận.Như vậy, chỉ số sức cản ĐMT ở

bệnh nhân bệnh thận mạn tính tăng cao hơn so

với người bình thường và khi mức độ suy thận

càng nặng thì RI tại các vị trí gốc, thân và nhu

mô ĐMT càng tăng Chính vì vậy một số tác giả

đã cho rằng có thể dựa vào sự biến đổi RI ĐMT

để đánh giá mức độ và theo dõi tiến triển của

tình trạng suy thận mạn tính(10,7)

KẾT LUẬN

RI trung bình tại các vị trí gốc, thân và nhu

mô ĐMT của nhóm nghiên cứu là 0,74 ± 0,05,

0,73 ± 0,05 và 0,68 ± 0,06, cao hơn so với giá trị

bình thường có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Đồng

thời, không có sự khác biệt về RI tại các vị trí gốc

ĐMT, thân ĐMT và nhu mô ĐMT giữa hai bên

thận phải và thận trái ở mỗi nhóm BN BTMT giai

đoạn II-III, IV và V (p>0,05) Có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê về RI trung bình tại gốc, thân và

nhu mô ĐMT giữa 3 nhóm BTMT gđ II-III, IV và

V với p < 0,05, có nghĩa là mức độ suy thận càng

nặng thì RI tại các vị trí trên càng tăng Như vậy

việc siêu âm Doppler ĐMT để đánh giá chỉ số

sức cản ĐMT giúp góp phần tiên lượng mức độ

nặng và sự tiến triển đến BTMT giai đoạn cuối

để giúp người thầy thuốc kịp thời đưa ra hướng

điều trị tích cực nhằm hạn chế sự tiến triển của bệnh đồng thời giúp BN có kế hoạch chuẩn bị trong tương lai cho tình trạng bệnh của họ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bùi Văn Giang (1997) Bước đầu nghiên cứu các thông số siêu

âm Doppler của dộng mạch thận ở người bình thường 20-40 tuổi Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ nội trú bệnh viện, chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh, Đại học Y Hà Nội, p.12-30,

2 Đỗ Gia Tuyển (2012) Bệnh thận mạn và suy thận mạn tính Bài giảng bệnh học Nội khoa, Nhà xuất bản Y học, Tập I.p.398-411

3 Đỗ Thị Liệu (2007) Bệnh lý cầu thận Bài giảng bệnh học Nội khoa, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, Tập I.p.340-354

4 Huỳnh Văn Nhuận (2005) Chỉ số trở kháng RI và chỉ số mạch

PI của động mạch thận ở bệnh nhân suy thận mạn độ III, IV

Tạp chí y học thực hành, số 3(505):p.88-89

5 MacIsaac, R.J, et al (2006) Is nonalbuminuric renal insufficiency in type 2 diabetes related to an increase in

intrarenal vascular disease? Diabetes Care, 29(7):p.1560-6

6 Mastorakou, I., et al (1994) Pulsatility and resistance indices

in intrarenal arteries of normal adults Abdom Imaging,

19(4):p.369-73

7 Parolini, C., et al (2009) Renal resistive index and long-term

outcome in chronic nephropathies Radiology, 252(3):p.888-96

8 Phạm Minh Thông (2012) Siêu âm Doppler màu động mạch thận Siêu âm Doppler màu trong thăm khám mạch máu tạng

và ngoại biên, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, p.219-227

9 Savader, S.J, G.B Lund, and F.A.Osterman, Jr (1997) Volumetric evaluation of blood flow in normal renal arteries

with a Doppler flow wire: a feasibility study J Vasc Interv

Radiol, 8(2):p.209-14

10 Sugiura, T and A Wada (2009) Resistive index predicts renal

prognosis in chronic kidney disease Nephrol Dial Transplant, 24(9): p.2780-5

11 Trường Đại học Y Hà Nội (2004) Viêm cầu thận mạn Bài giảng bệnh học Nội khoa, Nhà Xuất bản Y học Hà Nội, Tập I.p.279-283

12 Trường Đại học Y Hà Nội (2005) Bệnh thận Giải phẫu bệnh học, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, p.470-489

Ngày nhận bài báo: 29/05/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 8/06/2015 Ngày bài báo được đăng: 05/08/2015

Trang 6

TÌNH HÌNH CHẠY THẬN NHÂN TẠO Ở BỆNH VIỆN ĐA KHOA

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Trần Văn Nguyên*, Ngô Đức Lộc**

TÓM TẮT

Mở đầu: Hiện có khoảng 200 bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang chạy thận định kỳ tài bệnh viện

Đa Khoa Thành phố Cần Thơ Số lượng bệnh nhân đông, nhưng chưa có nghiên cứu nào trong lĩnh vực này được thực hiện

Mục tiêu: xác định một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân chạy thận định kỳ tại bệnh viện

từ tháng 09-2014 đến tháng 04-2015

Phương pháp: thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang

Kết quả: tổng số 142 bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu Nguyên nhân gây bệnh thận mạn: đái tháo

đường 14,8%; tăng huyết áp 13,4%; cầu thận 8,5%; khác 2,1% và không rõ 61,3% Tỷ lệ hiện mắc của một số triệu chứng lâm sàng: xơ da 57,7%; ngứa da 46,5%; tăng sắc tố da lan tỏa 24,6%; chán ăn 36,6%; mất ngủ 58,5% và hội chứng chân không yên 17,6% 31,7% số bệnh nhân có Kt/V <1,2 Tỷ lệ bệnh nhân đạt nồng độ Hb

từ 10-11.5g/dl là 33,1% Tỷ lệ bệnh nhân đạt nồng độ calci, phospho và Ca × P theo khuyến cáo của K/DOQI

2003 lần lượt là 58,5%, 28,2% và 49,3% Tỷ lệ bệnh nhân đạt được cả ba mục tiêu kiểm soát calci-phospho là 16.2%

Kết luận: Bệnh thận mạn tiến triển âm thầm và khó đoán, đa số bệnh nhân phát hiện bệnh trễ khi đã gần giai

đoạn cuối Khoảng 1/3 số bệnh nhân lọc máu chưa đủ Rối loạn calci-phospho chưa được kiểm soát tốt

Từ khóa: bệnh thận mạn giai đoạn cuối, chạy thận nhân tạo, rối loạn calci-phospho

ABSTRACT

SOME FIGURES OF HEMODIALYSIS IN CANTHO GENERAL HOSPITAL

Tran Van Nguyen, Ngo Duc Loc * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 – No 4 – 2015: 394 - 398

Background: In Cantho general hospital, there have been 200 end-stage renal disease (ESRD) outpatients

who managed by maintenance hemodialysis

Objectives: recognize some clinical features and laboratory findings of hemodialysis patients at the hospital

from September 2014 to April 2015

Methods: cross-sectional study

Results: there were totally 142 patients satisfied our inclusion criteria’s Chronic kidney disease causes:

diabetes 14.8%; hypertension 13.4%; glomerulonephritis 8.5%; others 2.1% and unknown origin 61.3% The prevalence of some clinical features: xerosis 57.7%; pruritus 46.5%; diffuse hyperpigmentation 24.6%; anorexia 36.6%; ail ý r 58.5%; restless legs syndrome (RLS) 17.6% Kt/V was lower than 1.2 in 31.7% of patients 58.5%, 28.2% and 49.3% of patients met K/DOQI target value for calcium, phosphorous and calcium-phosphorous product, respectively 16.3% of patients meet the three recommended targets by K/DOQI 2003 guidelines

Conclusion: The progression of chronic kidney disease was latent and unpredictable Most of the patients did

* Khoa Ngoại Niệu, bvĐk Thành phố Cần Thơ ** Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ

Ngày đăng: 20/01/2020, 11:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w