1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm tăng huyết áp ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 năm 2007

9 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 230,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm mô tả các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, phân loại, nguyên nhân, tổn thương cơ quan đích và các đặc điểm điều trị tăng huyết áp (THA) ở trẻ em. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM TĂNG HUYẾT ÁP Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 NĂM 2007

Huỳnh Thị Vũ Quỳnh*, Nguyễn Thị Thanh Lan*

TÓM TẮT

Mục tiêu: mô tả các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, phân loại, nguyên nhân, tổn thương cơ quan

đích và các đặc điểm điều trị tăng huyết áp (THA) ở trẻ em

Phương pháp nghiên cứu: mô tả hàng loạt ca

Kết quả: từ tháng 1/2007- tháng 10/2007 có 65 ca (59 ca THA thứ phát và 6 ca THA nguyên phát) Tuổi

trung bình của bệnh nhân: 8,86 tuổi ± 4,5 tuổi Tỉ lệ nam/nữ=2/1 Chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 17,93 ± 4,21 kg/m2 Tỉ lệ trẻ quá cân, béo phì ở nhóm THA nguyên phát là 33,1%, ở nhóm THA thứ phát là 5,1% Đa số trẻ em THA không có triệu chứng lâm sàng (58,5%) Cận lâm sàng biểu hiện chủ yếu là bất thường về thận ở những bệnh nhân THA do nguyên nhân tại thận Tỉ lệ rối loạn lipid máu là 30,2% Về phân loại THA, đa số là THA tâm thu (100%), THA tâm thu và tâm trương (83,3%), không có trường hợp nào THA tâm trương đơn độc THA độ I (26,9%), THA độ II (83,1%) Nguy cơ A (41,5%), nguy cơ B (30,8%), nguy cơ C (27,7%) Về nguyên nhân THA, 90,8% là THA thứ phát (thận: 73,8%, mạch máu: 6,2%, thuốc: 7,7%, nội tiết: 3%, u thận: 3,1%, xuất huyết não: 1,5%) 29,2% bệnh nhân THA có tổn thương cơ quan đích, trong đó, tổn thương tim (23,1%), thần kinh (16,9%), võng mạc (4,6%) Các bệnh nhân THA do nguyên nhân ngoài thận đều có chức năng thận bình thường và có đạm niệu âm tính trên xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu và đạm niệu 24 giờ Về điều trị, đa số có chỉ định điều trị bằng thuốc (92,3%), ức chế canxi là thuốc được sử dụng nhiều nhất Tỉ lệ điều trị đơn trị liệu (38,5%), phối hợp 2 thuốc (52,3%) Tỉ lệ bệnh nhân khống chế được HA bằng thuốc là 73,8% Có 20% bệnh nhân thất bại với điều trị, chủ yếu là các bệnh nhân suy thận mạn (STM)

Kết luận: Đa số THA ở trẻ em là thứ phát, trong đó thận là nguyên nhân hàng đầu gây THA THA tâm

thu là dạng phổ biến hơn so với THA tâm trương Đa số THA ở trẻ em là THA độ II Tổn thương cơ quan đích chiếm tỉ lệ tương đối cao Hầu hết THA ở trẻ em có chỉ định điều trị bằng thuốc

ABSTRACT

THE CHARACTERISTICS OF PEDIATRIC HYPERTENSION AT CHILDREN’S HOSPITAL No.2

Huynh Thi Vu Quynh, Nguyen Thi Thanh Lan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 13 – Supplement of No 1 - 2009: 121 - 127

Objectives: To discribe epidemiological, clinical, laboratory features, classifications, causes, target-organ

damages and therapeutic characteristics of pediatric hypertension

Method: descriptive case series

Result: there were 65 cases from 1/2007-10/2007 (59 cases secondary hypertension, and 6 cases primary

hypertension) The mean ages: 8.86 ± 4.5 year olds Male to female ratio was 2:1 Mean body mass index (BMI) was 17.93 ± 4.21 kg/m2 The rate of overweight, obesity in primary hypertensive cases was 33.1% and in secondary hypertensive cases was 5.1% Most of cases had no symtomps and signs Laboratory testings revealed renal abnormal in cases of hypertension which caused by renal disorders 30.2% of cases were lipidemia disorder All cases were systolic hypertension (100%), both systolic and diastolic hypertension (83.3%) There was no diastolic hypertension alone Stage I hypertension (26.9%), stage II hypertension (83.1%) Risk A (41.5%), risk B

* Bộ môn Nhi – ĐHYD TP HCM

Trang 2

(30.8%), risk C (27.7%) 90.8% of cases were secondary hypertension (renal causes: 73.8%, vascularity: 6.2%, drugs: 7.7%, endocrines: 3%, renal tumors: 3.1%, brain hemorrhage: 1.5%) 29.2% of cases had target-organ damages such as cardiac damages (23.3%), neurological complications (16.9%), retinal complications (4.6%) Patients without renal causes had no protein in urine dipstick, no protein in urine in 24 hours and had normal renal function 92.3% cases had drug therapeutic indication in which calcium-blockers were used most common The rates of single drug and two-drug combination were 38.5% and 52.3%, respectively 73.8% of cases achieved goal blood pressure by drug 20% of cases were not controlled blood pressure, mainly chronic renal failure patients

Conclusion: Most of the patients were secondary hypertension, in which renal disorders were the most

common causes Systolic hypertension was more common than diastolic hypertension Pediatric hypertension was mainly stage II Target-organ-damages had relatively high rate Most of cases had drug therapeutic indication

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tần suất THA ở trẻ em thay đổi từ 0,8%-5%

Tỉ lệ phát hiện bệnh ngày càng gia tăng do

những thay đổi về điều kiện kinh tế xã hội, lối

sống và sự tiến bộ trong chẩn đoán THA có thể

gây các biến chứng nặng lên tim, thận, não, mắt,

mạch máu Mức độ tổn thương cơ quan đích tùy

thuộc vào THA cấp tính hay mạn tính, mức độ

THA, và thời gian THA Theo Deal JE, tỉ lệ biến

chứng ở nhóm THA độ II là 71% Việc chẩn đoán

và điều trị THA ở trẻ em có nhiều điểm khác biệt

so với người lớn Đa số THA ở trẻ em là thứ

phát Vì vậy, phải cố gắng tìm nguyên nhân

THA ở trẻ em để điều trị tích cực nhằm ngăn

chặn biến chứng và hạn chế tử vong

Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về THA

trẻ em được thực hiện trên nhiều nước nhưng

kết quả không giống nhau Có lẽ do sự khác biệt

về yếu tố chủng tộc, môi trường, điều kiện kinh

tế xã hội, những tiến bộ trong kỹ thuật chẩn

đoán và điều trị

Tại Việt Nam, đã có vài nghiên cứu khảo sát

về một số nguyên nhân THA ở trẻ em Tuy

nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào về đặc điểm

THA ở trẻ em một cách hệ thống Chúng tôi tiến

hành nghiên cứu này nhằm xác định những đặc

điểm về dịch tễ, nguyên nhân, mức độ THA,

mức độ tổn thương cơ quan đích và các đặc

điểm điều trị ở những bệnh nhi THA tại bệnh

viện Nhi Đồng II, nhằm giúp có một cái nhìn

tương đối về đặc điểm THA ở trẻ em Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu

1 Xác định tỉ lệ các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng THA ở trẻ em

2 Xác định tỉ lệ các phân loại THA, tỉ lệ các phân tầng nguy cơ THA ở trẻ em

3 Xác định tỉ lệ các nguyên nhân gây THA

ở trẻ em

4 Xác định tỉ lệ tổn thương cơ quan đích trong THA ở trẻ em

5 Xác định tỉ lệ các đặc điểm điều trị THA

ở trẻ em

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Dân số nghiên cứu

Tất cả bệnh nhi được chẩn đoán THA điều trị tại khoa tim mạch và khoa thận-máu-nội tiết bệnh viện Nhi Đồng II từ 1/2007 đến 10/2007

Tiêu chí chọn vào lô nghiên cứu

- Những bệnh nhi được chẩn đoán xác định THA theo tiêu chuẩn của chương trình giáo dục quốc gia Hoa Kỳ về THA ở trẻ em (NHBPEP)

- Được làm đầy đủ các xét nghiệm (theo bệnh án nghiên cứu)

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca

Các bước tiến hành

Tất cả trẻ thỏa mãn tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu sẽ được:

(1) Hỏi tiền sử, bệnh sử, khám lâm sàng tìm dấu hiệu gợi ý nguyên nhân

Trang 3

(2) Tất cả bệnh nhi được thực hiện xét

nghiệm thường quy (Huyết đồ, đường huyết,

cholesterol toàn phần, LDL-Cholesterol,

HDL-Cholesterol, triglycerid/máu, ion đồ máu, urê,

creatinin/máu, tổng phân tích nước tiểu

(TPTNT), điện tâm đồ (ECG), X quang ngực

thẳng, siêu âm bụng, siêu âm tim, siêu âm

Doppler mạch máu thận, soi đáy mắt), xét

nghiệm đánh giá tổn thương cơ quan đích (siêu

âm tim, soi đáy mắt, tổng phân tích nước tiểu,

đạm niệu/ 24 giờ, Urê, creatinine/ máu)

(3) Tùy theo khám lâm sàng và các xét

nghiệm thường quy bệnh nhân sẽ được làm tiếp

các xét nghiệm tìm nguyên nhân THA

(4) Chẩn đoán và điều trị

Phân tích dữ liệu

Bằng phần mềm SPSS 11.0

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Từ 1/2007 - 10/2007, chúng tôi ghi nhận có 65

trường hợp THA tại bệnh viện Nhi Đồng II,

trong đó, có 59 trường hợp THA thứ phát, 6

trường hợp THA nguyên phát

Đặc điểm về dịch tễ và lâm sàng THA ở trẻ em

Tuổi

Tuổi trung bình: 8,86 tuổi ± 4,5 tuổi (nhỏ

nhất: 6 tháng, cao nhất: 15 tuổi) Tỉ lệ THA ở

nhóm tuổi nhũ nhi: 10,8%, 1-6 tuổi: 15,4%, 6-10

tuổi: 24,6%, 10-15 tuổi: 49,2% Tương tự y văn,

trong nghiên cứu chúng tôi, tỉ lệ THA tăng dần

theo các nhóm tuổi

Giới

Tỉ lệ nam: nữ = 2:1 Tương tự tác giả Trương

Thị Lệ Chi (nam: 55%, nữ: 45%) (1), Kaberi (nam:

56%, nữ: 44%)(7)

Cân nặng lúc sinh (CNLS)

Tỉ lệ trẻ THA có CNLS < 2500g là 12%, >

2500g là 88% Riêng ở nhóm THA nguyên phát,

không có trẻ nào có CNLS < 2500g Hầu hết các

nghiên cứu dịch tễ đều ủng hộ cho mối liên

quan giữa THA và cân nặng lúc sinh thấp, đặc

biệt là THA nguyên phát Tuy nhiên, cỡ mẫu

nghiên cứu còn ít, cần phải có những nghiên cứu

lớn hơn về mối liên quan này

Tiền căn gia đình

Chỉ có một trường hợp THA nguyên phát có tiền căn gia đình tiểu đường type II, chiếm 1,5% tổng số bệnh nhân THA và chiếm 16,7% số bệnh nhân THA nguyên phát Tỉ lệ bệnh nhân có tiền căn gia đình THA là 13,8% Trong số 6 bệnh nhân THA nguyên phát có đến 5 bệnh nhân có tiền căn gia đình THA, chiếm tỉ lệ 83,3% Tiền sử gia đình là một yếu tố quan trọng trong THA nguyên phát ở trẻ em Các yếu tố gia đình được xác nhận có liên quan đến THA nguyên phát ở trẻ em là những bệnh lý tim mạch như đau thắt ngực, THA và đái tháo đường Trong đó, THA ở cha hoặc mẹ là một yếu tố tiên đoán độc lập cho

HA tâm thu của trẻ sau này Theo Jung FF, tiền

Chỉ số khối cơ thể

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số trẻ THA có cân nặng bình thường (69%), tỉ lệ trẻ quá cân, béo phì chỉ chiếm 8% có lẽ do phần lớn các bệnh nhân là THA thứ phát (90,8%), tỉ lệ trẻ quá cân, béo phì ở nhóm THA nguyên phát là 33,3%,

và ở nhóm THA thứ phát là 5,1%

Triệu chứng lâm sàng

Đa số THA ở trẻ em không có triệu chứng lâm sàng (58,5%), triệu chứng thường gặp nhất

là nhức đầu (18,5%) Các triệu chứng khác bao gồm: co giật (15,4%), rối loạn tri giác (13,8%), buồn nôn (4,6%), nôn ói (3,1%), chóng mặt (3,1%), đau ngực (1,5%), mờ mắt (1,5%) Theo

y văn, đa số THA nguyên phát ở trẻ em không

có triệu chứng, THA thứ phát thường biểu hiện triệu chứng của bệnh cơ bản Do đó, cần phải đo HA thường quy để tránh bỏ sót THA

ở trẻ em vì bệnh có thể tiến triển âm thầm, không triệu chứng

Đặc điểm về cận lâm sàng

Đặc điểm các xét nghiệm sinh hóa

Chức năng thận

Trang 4

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ suy

thận là 36,9%, tập trung ở những bệnh nhân có

nguyên nhân THA do bệnh lý tại thận như suy

thận mạn, suy thận cấp và một số bệnh nhân

viêm cầu thận cấp Tất cả các trường hợp THA

còn lại đều có chức năng thận bình thường Có lẽ

do thời gian THA chưa đủ lâu để gây suy thận

Đạm trong nước tiểu

Tương tự, kết quả đạm niệu dương tính

(64,6%) gặp ở những bệnh nhân THA do suy

thận mạn, suy thận cấp, viêm cầu thận cấp, bệnh

chủ mô thận Các trường hợp còn lại đều không

có đạm niệu trên xét nghiệm TPTNT và đạm

niệu 24 giờ Sự hiện diện đạm niệu trên xét

nghiệm TPTNT và đạm niệu 24 giờ ở trẻ THA

cần cảnh giác với nguyên nhân bệnh thận gây

THA hơn là hậu quả của THA lên thận

Tăng đường huyết và rối loạn mỡ trong máu

Tỉ lệ rối loạn mỡ trong máu trong nghiên

cứu chúng tôi là 30,2% (nghiên cứu của Bugalusa

nghiên cứu là 0% so với nghiên cứu của

chúng tôi nhỏ và tỉ lệ bệnh nhân THA nguyên

phát còn ít

Đặc điểm các xét nghiệm đánh giá tổn thương

tim

Tỉ lệ bệnh nhân có tim to trên X-Quang là

13,8%, dày thất trái trên ECG (18,5%)

Các bất thường trên siêu âm tim bao gồm:

dày thất trái (23,1%), dãn thất trái (9,2%), EF

giảm (4,6%), hở van 2 lá (6,1%), hở van động

mạch chủ (3%).Tỉ lệ dày thất trái trên siêu âm

tim cao hơn tỉ lệ bệnh nhân có dày thất trái phát

hiện được trên ECG (18,5%) do độ nhạy của

ECG trong việc phát hiện dày thất trái thấp hơn

so với siêu âm tim Tỉ lệ tim to phát hiện trên

X-Quang thấp hơn tỉ lệ tim to trên siêu âm tim và

ECG có lẽ do một số bệnh nhân có biểu hiện dày

đồng tâm thất trái (tổn thương tim do THA), có

thể thấy được trên ECG và siêu âm tim, nhưng

không phát hiện được trên X-Quang ngực thẳng

Tỉ lệ các phân loại THA, phân tầng nguy cơ THA

THA tâm thu, tâm trương

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% bệnh nhân có THA tâm thu, 83,3% vừa THA tâm thu vừa THA tâm trương, không có trường hợp nào THA tâm trương đơn độc Tương tự các nghiên cứu khác, tỉ lệ trẻ THA tâm thu cao hơn tỉ lệ THA tâm trương Theo Sorof JM, nguy cơ tổn thương cơ quan đích có liên quan chặt với HA

Mức độ THA

ĐA số các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là THA độ II (83,1%), chỉ có 16,9% bệnh nhân THA độ I, có thể do đa số THA trẻ

em là THA thứ phát nên thường gây THA nặng

Đa số các trường hợp THA nguyên phát ở trẻ

các bệnh nhân THA nguyên phát trong nghiên cứu chúng tôi là THA độ I Tính mạn tính và mức độ THA cũng cần được chú ý khi đánh giá mức độ của bệnh THA Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định điều trị Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ THA cấp tính là 53,8%, tỉ lệ THA mạn là 46,2% Kết quả này cho thấy đa số THA ở trẻ em là THA nặng, cần phải can thiệp điều trị sớm và việc phát hiện sớm THA ở trẻ em cần phải được chú ý

Phân tầng nguy cơ THA

Nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ các bệnh nhi THA có nguy cơ A (41,5%), nguy cơ B (30,8%), nguy cơ C (27,7%) Mặc dù các bệnh nhi THA nguy cơ A chiếm tỉ lệ cao nhưng vì đa số là THA nặng nên vẫn có chỉ định dùng thuốc điều trị THA phối hợp với các biện pháp điều trị không

Nguyên nhân THA

Trong 65 trường hợp THA, có 59 trường hợp THA thứ phát (90,8%), 6 trường hợp THA nguyên phát (9,2%)

Trang 5

Nhóm tu ổ i Nguyên nhân THA T ỉ l ệ chung Nh ũ nhi 1-6 tu ổ i 6-10 tu ổ i > 10 tu ổ i

THA c ấ p 35 (53,8%) 5 (71.4%) 9 (75%) 10 (58.8%) 14 (40%)

THA m ạ n 30 (46,2%) 2 (28.6%) 3 (25%) 7 (41.2%) 21 (60%)

B ệ nh ch ủ mô th ận 27 (41,5%) 1 (14.2%) 7 (58.3%) 9 (52.9%) 10 (31.3%)

Suy th ậ n m ạ n 14 (21,5%) 1 (14,2%) 1 (10%) 4 (23.5%) 8 (22.8%)

Nguyên nhân t ạ i

th ậ n

44 (73,8%)

M ạ ch máu th ậ n 6 (9,3%) 1(14.2%) 1 8.3%) 4 (11.4%)

Viêm nút quanh độ ng m ạ ch 1 (1,5%) 1 (8.3%) 1 (2.8%)

Do m ạ ch máu

4 (6,2%)

H ẹ p eo độ ng m ạ ch ch ủ 1 (1,5%)

Do thu ốc

Ng ộ độ c Naphtazolin 3 (4,6%) 3 (42.6%) Corticoid 2 (3,1%) 2 (16.6%)

Nguyên nhân khác

10 (15,3%)

Xu ấ t huy ế t não 1 (1,5%) 2 (28.4%)

U t ủ y th ượ ng th ậ n 1 (1,5%) 1 (5.8%) 1 (2.8%)

N ộ i ti ế t

U:

Neurofibroblastoma 1 (1,5%) 1 (8.3%)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, THA thứ

phát chiếm đa số (90,8%) so với 97% trong

phù hợp với y văn, THA chiếm phần lớn trong

nhân rất quan trọng trong THA ở trẻ em

Tương tự y văn, trong nghiên cứu của chúng

tôi, bệnh lý tại thận là nguyên nhân thường gặp

nhất gây THA Trong đó, bệnh lý chủ mô thận

chiếm tỉ lệ cao nhất

Tỉ lệ THA do nguyên nhân mạch máu thận

trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự

nghiên cứu của Đặng Thị Thùy Hương thực hiện

THA nguyên phát trong nghiên cứu chúng

Nhóm nguyên nhân kế tiếp gây THA trong

nghiên cứu của chúng tôi là nguyên nhân mạch

máu: Takayasu (3,1%), viêm nút quanh động

mạch (1,5%) và hẹp eo động mạch chủ (1,5%)

Theo Michea, THA do hẹo eo động mạch chủ

trường hợp hẹp eo động mạch chủ có biểu hiện

THA nặng, nhưng việc đo HA không thực hiện

thường quy đối với trẻ bệnh tim bẩm sinh nên tỉ

lệ phát hiện THA do hẹp eo động mạch chủ ở

lứa tuổi nhỏ có thể thấp hơn thực tế

Các nguyên nhân còn lại bao gồm THA do tác dụng phụ Corticoid, do ngộ độc thuốc nhỏ mũi Naphthazolin, do xuất huyết não, u thận, cường giáp và u tủy thượng thận Điều này cho thấy nguyên nhân THA ở trẻ em rất đa dạng, cần phải làm đầy đủ các xét nghiệm tìm nguyên nhân THA trước khi kết luận THA nguyên phát

Tổn thương cơ quan đích

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ tổn thương cơ quan đích là 29,2% Tỉ lệ tổn thương

cơ quan đích trong nhóm THA giai đoạn II là 35,2%, nhóm THA độ I là 0% Theo một nghiên cứu, những trẻ THA trên bách phân vị thứ 99, đa

tỉ lệ tổn thương cơ quan đích trong THA độ II (HA trên bách phân vị thứ 99+5mmHg) ở nghiên cứu chúng tôi Có lẽ do mức độ tổn thương cơ quan đích không chỉ tùy thuộc vào mức độ THA

mà còn tùy thuộc vào thời gian THA, THA cấp tính hay mạn tính…

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỉ lệ biến chứng thần kinh là 16,9%, đa số trẻ có biểu hiện bệnh não do THA, tương tự Still và

Tỉ lệ các bệnh nhân có tổn thương tim mạch

là 23,1% Trong đó, phì đại thất trái là biến

Trang 6

chứng chiếm tỉ lệ cao nhất Phì đại thất trái có

thể xảy ra sớm trong tiến trình sinh bệnh của

THA ngay ở thời niên thiếu, cần phải được phát

hiện sớm một khi có chẩn đoán THA, và phải

Khi có phì đại thất trái sẽ là một chỉ định cho

việc điều trị tích cực THA ở trẻ em

Tổn thương võng mạc chiếm tỉ lệ 4,6%

(nghiên cứu tại bệnh viện nhi Great Ormond

Street cho thấy tỉ lệ bệnh lý võng mạc do THA

chứng gợi ý THA nặng và kéo dài, thường là

THA thứ phát

Trong nghiên cứu của chúng tôi, những

bệnh nhân THA do nguyên nhân ngoài thận,

đều có chức năng thận bình thường và không

có đạm trên xét nghiệm TPTNT và đạm niệu

24 giờ Tuy nhiên, chúng tôi chưa thực hiện xét

nghiệm vi đạm niệu để đánh giá sớm tổn

thương thận do THA

Chỉ định điều trị THA bằng thuốc

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ các

bệnh nhân có chỉ định điều trị THA bằng

thuốc theo hướng dẫn của chương trình giáo

dục quốc gia Hoa Kỳ về THA ở trẻ em

kết của Hoa kỳ năm 1987 cho thấy, chỉ có 47%

tỉ lệ trẻ cần dùng thuốc trong nghiên cứu của

chúng tôi cao, có thể do đa số các bệnh nhân

trong lô nghiên cứu của chúng tôi là THA thứ

phát và THA độ II

Loại thuốc dùng

Ức chế kênh canxi (84,6%), lợi tiểu (29,6%),

ức chế men chuyển (26,6%), ức chế thụ thể

anpha, beta (12,3%), ức chế thụ thể beta (1,5%)

Ức chế kênh can-xi là thuốc được dùng

nhiều nhất trong nghiên cứu Việc lựa chọn

thuốc THA ở trẻ em tùy thuộc vào nguyên nhân

THA, các chống chỉ định, và có lẽ cũng phụ

thuộc vào thói quen, kinh nghiệm của bác sĩ điều

trị Thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế

canxi là các thuốc thường dùng trong điều trị

THA mạn ở trẻ em ở mọi nhóm tuổi Thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc ức chế thụ thể angiotensin được ưu tiên lựa chọn ở nhóm bệnh nhi THA có đái tháo đường, vi đạm niệu và các bệnh lý thận mạn tính vì có tác dụng bảo vệ thận Trong khi đó, thuốc ức chế kênh can-xi và thuốc ức chế thụ thể bê-ta thường được sử dụng cho bệnh nhân THA có triệu chứng nhức đầu và

nghiên cứu của Mark M Mitsnefes, ức chế men chuyển là thuốc được sử dụng đầu tay trong điều trị THA ở bệnh nhân có bệnh thận mạn,

tôi, tỉ lệ bệnh nhân có bệnh thận mạn sử dụng thuốc ức chế men chuyển cũng tương tự tác giả Mark (85,6%), tuy nhiên, ức chế kênh can-xi vẫn

là thuốc dùng nhiều hơn với tỉ lệ 100%

Phối hợp thuốc

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ bệnh nhân phối hợp 2 loại thuốc chiếm đa số (52,3%), đơn trị liệu (38,5%), phối hợp 3 loại thuốc (4,6%)

Kết quả điều trị

73,8% bệnh nhân khống chế được HA bằng thuốc, 20% bệnh nhân không khống chế được

HA (chủ yếu là các bệnh nhân suy thận mạn: 85,7%) Theo Carmen A Peralta, khó kiểm soát

HA ở các bệnh nhân suy thận mạn và tỉ lệ bệnh nhân suy thận mạn không kiểm soát được HA mặc dù đã phối hợp 4 thuốc hạ áp là

nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đặng Thị Thùy Hương (2000) Tăng huyết áp do mạch máu thận

văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Y, Bộ Môn Nhi

2 Đỗ Nguyên Tín, Vũ Minh Phúc, Hoàng Trọng Kim (2006)

“Tăng huyết áp ở trẻ em- Phần 2: Đặc điểm tăng huyết áp

nguyên phát ở trẻ em” Thời sự tim mạch học Số tháng 7 (101),

tr 11-15

3 Trương Thị Lệ Chi (1993) Khảo sát tìm nguyên nhân cao huyết

thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Y, Bộ Môn Nhi

4 Alan R Sinaiko, MD (1996) “Hypertension in children” The

5 Carmen A Peralta, Michael G Shlipak, Christina Wassel-Fyr,

et al (2007) “Association of antihypertensive therapy and

Trang 7

diastolic hypotension in chronic kidney disease”

Hypertension, 50, pp 474-480

6 Gauthier B, et al (1997) “Short acting nifedipine” Pediatr

Nephrol, 11, pp 786-787

7 Jung FF, Ingelfinger JR (1993) “hypertension in childhood

and adolescence” Pediatr Rev, 5, PP 169-179

8 Kaberi Dasgupta, Jennifer O’Loughlin, Shunfu Chen (2006)

“Emergence of sex differences in prevalence of high systolic

blood pressure: analysis of a longitudinal adolescent cohort”

Circulation, 114, pp 2663-2670

9 Kim SY, Payne GH, Lakatos E, et al (1990) “Management of

cardiovascular disease risk factors in children: a national

survey of primary care physicians” Am J Dis Child, 144(9), pp

967-972

10 Mark M Mitsnefes (2006) “Hypertension in children and

adolescents” Pediatric Clinics of North America, 53, pp 493-512

11 Michea J Dillon (22005) “Secondary forms of hypertension in

children” Pediatric hypertension Human Press, 9, pp 1159-179

12 National Heart, Lung and Blood Institute (2004) “The sixth

report of the Joint National Committee on prevention,

detection, evaluation, and treatment of high blood pressure”

13 National High Blood Pressure Education Program Working

Group on High Blood Pressure in Children and Adolescents

(2004) “The fourth report on the diagnosis, evaluation, and

treatment of high blood pressure in children and

adolescents” Pediatrics, 114, pp 555- 576

14 Sathanur R Srinivasan, Leann Myers, Gerald S Berenron

(2006) “Changes in metabolic syndrome variables since

childhood in prehypertensive and hypertensive subjects: The

Bogalusa Heart Study” Hypertension, 48, pp 33-39

15 Sorof JM, et al (2001) “Screening for eligibility in study of

antihypertensive medication in children: experience from the

Ziac Pediatric Hypertension Study” Am J Hypertens, 14, pp

783-788

16 Still JL, Cottom D (1967) “Severe hypertension in childhood”

Arch Dis Child, 42, pp 34-39

Ngày đăng: 20/01/2020, 11:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm