1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các biểu đồ chuẩn trong báo cáo về phẫu thuật khúc xạ

7 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 700,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày các biểu đồ chuẩn trong báo cáo về phẫu thuật khúc xạ như: Biểu đồ phân tán của khúc xạ đạt được so với khúc xạ mục tiêu, biểu đồ dạng thanh về kết quả khúc xạ cầu tương đương sau mổ, biểu đồ dạng thanh về thị lực chưa chỉnh kính, biểu đồ dạng thanh về thay đổi thị lực chỉnh kính, biểu đồ về sự ổn định khúc xạ. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm nội dung chi tiết.

Trang 1

CáC BIểU Đồ CHUẩN TRONG báo cáo về PHẫU THUậT KHúC Xạ

“Standard Graphs for reporting refractive surgery”

George O Waring III, MD, FACS, FRCOphth

Journal of Refractive Surgery 2000 (July/August), Vol 16: 459-466

Người dịch: Trần Hải Yến, Lâm Minh Vinh

Bệnh viện Mắt TP Hồ Chí Minh

Một trong những vấn đề khó khăn mà

các phẫu thuật viên khúc xạ (KX) phải đối

mặt là so sánh kết quả của các phương pháp

phẫu thuật khúc xạ (PTKX) Việc so sánh một

cách chính xác kết quả của các nghiên cứu

khác nhau là cấp thiết vì ngày càng xuất hiện

nhiều phương pháp và kỹ thuật PTKX khác

nhau Ví dụ làm sao phẫu thuật viên KX có

thể biết để so sánh kết quả phẫu thuật Lasik

của máy laser Nidek EC-5000 (scanning

excimer laser) với máy LadarVision (flying

spot laser) hay với máy Zyoptics 217Z của

Bausch & Lomb (wave-front guided)? Nếu kết

quả PT của máy laser Nidek được ghi nhận

qua số lượng mắt nằm trong giới hạn +/- 0.5

D, kết quả của máy Ladarvision là trung bình

của KX cầu tương đương còn của máy

Bausch & Lomb là số lượng mắt nằm trong

giới hạn +/- 1.00 D, phẫu thuật viên không có

cơ sở để so sánh các kết quả KX này và cứ tự

suy đoán

Năm 1992, tôi đã công bố một báo cáo chuyên đề (monograph) đề nghị thực hiện tiêu chuẩn chung cho các báo cáo về phương pháp PTKX (Waring GO Standardized data collection and reporting for refractive surgery Refract Corneal Surg 1992; 8(suppl): 1-42) Các tiêu chuẩn này chưa bao giờ được chấp nhận rộng rãi Các tác giả và công ty ghi nhận kết quả theo nhiều cách khác nhau, đôi khi gây nhầm lẫn Ví dụ, một số báo cáo chỉ ghi nhận số lượng mắt chưa chỉnh kính sau

mổ là 20/25, rõ ràng là kết quả tốt hơn nhiều

so với sử dụng tiêu chuẩn 20/20 hoặc cao hơn Không một Hiệp hội Nhãn khoa hay các

tổ chức chuyên trách nào đưa ra đề nghị chính thức về việc tiêu chuẩn hóa các báo cáo về kết quả PTKX Cũng không một tạp chí nào đòi hỏi các tác giả trình bày số liệu dưới dạng tiêu chuẩn hóa để cho phép so sánh giữa các bài báo (Koch D, Kohnen T, Obstbaum S, Rosen ES Format for reporting

Trang 2

refractive surgical data J Cataract Refract

Surg 1998;24:285-287) Do đó, để đơn giản

vấn đề tôi đề nghị 6 biểu đồ chuẩn nên có

trong bất kỳ bài báo nào đánh giá kết quả

nghiên cứu loạt ca Cách thức này đơn giản

nên các tác giả dễ thực hiện theo, dễ dàng

cho những người biên tập đưa ra yêu cầu

thực hiện và giúp nguời đọc dễ hình dung

Các biểu đồ từ các bài báo khác nhau có thể

được sắp xếp cạnh nhau để so sánh kết quả

của các phương pháp và kỹ thuật khác nhau

ý tưởng này lần đầu tiên được Thomas

Neuhann, MD đề nghị Các biểu đồ cụ thể và

việc trình bày chúng đã được phát triển bằng

nỗ lực liên kết của ban biên tập Tạp chí Phẫu

thuật khúc xạ (Journal of Refractive Surgery)

và Tạp chí Phẫu thuật khúc xạ và đục thuỷ

tinh thể (Journal of Cataract and Refractive

Surgery), gồm các bác sĩ Wallace Chamon,

Daniel Epstein, Jack Holladay, Michael

Knorz, Thomas Kohnen, Doug Koch, Ron

Krueger, Stephen Obstbaum, Jeffrey Robin,

Emanuel Rosen, Jonathan Talamo và tôi

Yêu cầu này đặt gánh nặng thêm cho

các tác giả nhưng hỗ trợ họ đạt mục tiêu

quan trọng là truyền đạt thông tin về kết quả

nghiên cứu một cách rõ ràng Tất cả biểu đồ

có thể được tạo ra dễ dàng ngoại trừ biểu đồ

phân tán (scattergram) cần một vài lưu ý đặc

biệt Mỗi hình ảnh được sắp xếp theo trục X

và Y và được gắn nhãn đơn vị đo rõ ràng

Thông tin về con số tương ứng có sẵn trên

biểu đồ nên có thể đọc trực tiếp từ biểu đồ

mà không cần phải tra dọc theo trục Y để

tìm con số thực sự Ô chữ trong biểu đồ cho

thấy số lượng mắt và thời gian theo dõi (ví dụ

112 mắt liên tiếp theo dõi trong 3 tháng), vì

thế dễ nhận biết mẫu nghiên cứu Các số liệu

tóm tắt tương ứng được trình bày ở ô chữ thứ 2

giúp người đọc dễ dàng nhận thấy câu trả lời

Hình 1 Biểu đồ phân tán của khúc xạ

đạt được so với khúc xạ mục tiêu

Biểu đồ phân tán có thuận lợi là cho thấy kết quả của từng mắt mà không sợ mất trị số trung bình và dễ xác định các con

số nằm ngoài giới hạn Vì kết quả quan trọng nhất của PTKX là độ KX tồn dư sau

mổ nên chúng tôi lựa chọn biểu đồ phân tán về sự thay đổi khúc xạ dự kiến so với khúc xạ đạt được sau mổ cho từng mắt Đối với biểu đồ phân tán, để trình bày chính xác kết quả về thị lực, thang tỷ lệ của trục X và

Y phải giống nhau (A) Thật không may, nhiều phần mềm lại không cho phép trình bày theo cách này, thường cho trục X dài hơn trục Y (B) Các tác giả nên cố gắng giữ cho trục X và Y theo cùng mức tỷ lệ tuy rằng vẫn có thể chấp nhận tỷ lệ khác nhau của các trục

Trang 3

Hình 2 Biểu đồ dạng thanh (Bar) về kết quả khúc xạ cầu tương đương sau mổ

Dạng biểu đồ này trình bày kết quả

khúc xạ sau mổ tính theo độ cầu tương đương

ở từng bậc nhỏ Có thể nắm bắt được dữ liệu

trong biểu đồ và dễ dàng biết được bao nhiêu

mắt nằm trong khoảng giới hạn mà người đọc

muốn xác định số lượng: từ plano tới –0,5D; 

0,5D;  1,0D Giới hạn về kết quả khúc xạ

cũng được trình bày đầy đủ Hiện tại, tiêu chuẩn vàng về kết quả khúc xạ là nằm trong giới hạn  0,5D của khúc xạ mong muốn và con số này được hiển thị ở ô chữ tóm tắt (summary box) Trong tương lai, số liệu tóm tắt chính xác hơn có thể được sử dụng

Hình 3 Biểu đồ dạng thanh theo khúc xạ tương đương (defocus equivalent refraction)

Trang 4

Kết quả KX thường được ghi nhận theo

độ cầu tương đương, được tính bằng cách lấy

độ cầu cộng đại số với 1/2 độ loạn nhưng

cách tính này có thể bị nhầm lẫn Ví dụ, 2 mắt

sau PTKX có độ KX: mắt 1 (-1, 00D(+2 x

900

)), mắt 2 (-1, 00D(-2 x 1800

)), rõ ràng là khúc xạ cầu tương đương của mắt 1 là plano,

một kết quả hoàn hảo, trái lại mắt thứ 2 là –

2,00D, một kết quả không được tốt lắm Kết

quả plano ở mắt 1 là nhầm lẫn vì vẫn còn độ

loạn tồn lưu sau mổ Vấn đề này được giải

quyết đơn giản bằng cách tính theo KX tương

đương (defocus equivalent) Để tính độ cầu

tương đương (spheroequivalent), lấy độ cầu

cộng 1/2 độ loạn (sử dụng phép cộng đại số)

Để tính KX tương đương, lấy độ cầu tương

đương cộng 1/2 độ loạn (chỉ cộng giá trị tuyệt

đối không dùng dấu) Như vậy, với cách tính

ở trên, độ cầu tương đương tồn lưu của mắt 1

là 1,00D và mắt 2 là 3,00D (lưu ý là không có

dấu) Giá trị KX tương đương biểu hiện chính

xác hơn tình trạng KX thực sự của 2 mắt Biểu đồ dạng thanh theo khúc xạ tương

đương được trình bày dưới dạng là biểu đồ tích lũy, tăng dần theo một hướng và cho thấy

số lượng mắt cùng với giá trị độ cầu tương

đương tồn lưu được ghi nhận Khái niệm KX tương đương tồn lưu lần đầu tiên được định nghĩa bởi Holladay và cs vào năm 1991 (Holladay JT, Lynn MJ, Waring GO, Gemmill

M, Keehn CG, Fielding B The relationship of visual acuity, refractive error and pupil size after radial keratotomy Arch Ophthalmol 1991;109:70-76) để loại trừ sự mất cân đối giữa các mắt có cầu tương đương giống nhau nhưng khác nhau về độ loạn Mức độ KX tương đương tỷ lệ với diện tích vòng khuyếch tán (conoid of sturn)

Hình 4 Biểu đồ dạng thanh về thị lực chưa chỉnh kính

Biểu đồ này mô tả thị lực gồm 2 phần:

Thành phần 1 của biểu đồ là thị lực chỉnh

kính trước mổ, đây là phần quan trọng vì nó giúp ta có cái nhìn tổng quát về thị lực của

Trang 5

mẫu nghiên cứu trước khi nhìn vào thị lực sau

mổ Ví dụ, khi xem xét một nhóm mắt với

khúc xạ trước mổ là -1,00D đến -4,00D sẽ

được đặt vòng nội giác mạc (intracorneal

ring), đa số thị lực sau chỉnh kính trước mổ

của nhóm này từ 20/20 trở lên Ngược lại với

nhóm có KX từ -15,00D đến -20,00D sẽ được

đặt kính nội nhãn Dưới 1/2 mắt của nhóm

này có thị lực chỉnh kính trước mổ từ 20/40 trở

lên Như vậy, việc hiểu kết quả thị lực không

chỉnh kính hậu phẫu sẽ khác nhau ở 2 nhóm

này, số lượng mắt có thị lực không kính từ

20/20 trở lên là tiêu chuẩn tốt và phù hợp để

tiên đoán cho những mắt cận thị thấp nhưng

lại ít phù hợp cho mắt cận thị cao

Thành phần thứ 2 của biểu đồ dạng

thanh là thị lực chưa chỉnh kính sau mổ Thị

lực bắt đầu là 20/10 và tăng dần theo đơn vị

log Điều này rất quan trọng vì khi PTKX ngày

càng cải tiến, mục tiêu là xác nhận chính xác

số lượng mắt thấy được 20/10, 20/12.5, 20/16

và 20/20 Những mức khác biệt chi tiết như vậy được sử dụng ngày càng nhiều để phân biệt các phương pháp PTKX khác nhau Trục

X biểu thị chuỗi thị lực đầy đủ theo như biểu

đồ thị lực của viện mắt quốc gia và ngày càng nhiều phòng khám sử dụng biểu đồ này làm tiêu chuẩn đo thị lực, nó giúp cho việc đánh giá thị lực dễ dàng hơn Chừng nào mà các nghiên cứu còn sử dụng các biểu đồ thị lực khác nhau dưới một số điều kiện khác nhau thì việc so sánh thị lực trong các nghiên cứu ở một mức độ nào đó sẽ bị sai lệch

Nếu tác giả muốn loại trừ hiệu ứng phóng đại, biến dạng hình và công suất đỉnh

do kính gọng, đặc biệt ở những mắt có độ KX cao, thì thị lực được chỉnh bằng kính tiếp xúc trước mổ là tiêu chuẩn phù hợp nhất để so sánh thị lực không chỉnh kính sau mổ

Hình 5 Biểu đồ dạng thanh về thay đổi thị lực chỉnh kính

Biểu đồ này mô tả sự thay đổi của thị

lực chỉnh kính sau mổ so với trước mổ bằng

việc hiển thị sự tăng giảm số dòng thị lực trên

bảng Snellen Đây là cách đo an toàn và

được sử dụng nhiều nhất vì nó trả lời câu hỏi

"nếu kết quả PTKX hoàn toàn không thể chấp nhận được, bệnh nhân có thể đeo kính lại và thấy giống như trước mổ không?" Sự

Trang 6

thay đổi 1 dòng Snellen thì nằm trong giới

hạn sinh lý bình thường và không có ý nghĩa

Sự thay đổi từ 2 dòng trở lên được chấp nhận

như là tiêu chuẩn để đánh giá sự an toàn và

được ghi trên ô chữ tóm tắt Một số nhóm

nghiên cứu khuyên nên ghi nhận thị lực mất 2

dòng trở lên như là tiêu chuẩn để dễ dàng nhận biết phương pháp an toàn hơn Lý tưởng nhất là sự thay đổi này nên được đo bằng cách đếm tổng số chữ trên bảng thị lực rồi tính toán theo số dòng Snellen tương đương

Hình 6 Biểu đồ về sự ổn định khúc xạ

Dòng thời gian ghi nhận độ cầu tương

đương trung bình, độ lệch chuẩn được mô tả

bởi những thanh lệch (error bar) với những

khoảng cách khác nhau sau PT Điều này

cho phép xác định sự ổn định KX, khoảng

cách được chọn và thời gian mô tả sẽ phụ

thuộc vào tần số khám Tỷ lệ phần trăm mắt

thay đổi trên 0,5D trong suốt thời gian theo

dõi sẽ được ghi nhận trong ô tóm tắt Thanh lệch cũng quan trọng vì độ lệch chuẩn lớn cho thấy sự không ổn định về khúc xạ mặc

dù các trị số trung bình ít thay đổi theo thời gian

Bảng dưới đây giới thiệu về những phần mềm mà các tác giả dùng để tạo ra những biểu đồ

Trang 7

Hình 7 Bảng tổng hợp

Tất cả 6 biểu đồ có thể được trình

bày trên cùng một trang giấy của tạp chí có

kích thước chuẩn Điều này cho phép người

đọc lướt nhanh 6 hình để nắm dễ dàng các

thông số chính hậu phẫu Thêm vào đó, các trang tài liệu từ các bài báo khác nhau có thể

đặt cạnh nhau để so sánh nhanh kết quả

Ngày đăng: 20/01/2020, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w