1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV bậc 2 tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới

11 74 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 506,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về việc điều trị HIV/AIDS bằng ARVs và những tác dụng phụ không mong muốn - cụ thể như rối loạn lipid máu, khảo sát rối loạn lipid ở bệnh nhân nhiễm HIV điều trị ARV phác đồ bậc 2 tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới. Kết quả nghiên cứu cho thấy, điều trị HIV/AIDS bằng phác đồ bậc 2 có thể gây ra rối loạn lipid máu.

Trang 1

TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI 

Võ Thanh Nhơn*, Nguyễn Hữu Chí**  

TÓM TẮT 

Đặt  vấn  đề: Điều trị HIV/AIDS bằng ARVs có thể kéo dài suốt đời, vì vậy những tác dụng phụ không 

mong muốn có thể xuất hiện, trong đó rối loạn lipid là một vấn đề mới được đề cập gần đây. 

Mục tiêu: Khảo sát rối loạn lipid ở bệnh nhân nhiễm HIV điều trị ARV phác đồ bậc 2 tại Bệnh viện Bệnh 

Nhiệt Đới. 

Phương pháp: Tiền cứu mô tả cắt ngang. 

Kết  quả:  Rối  loạn  lipid  máu  trong  nghiên  cứu  được  ghi  nhận  ở  159/217(73,3%)  bệnh  nhân  nhiễm 

HIV/AIDS được điều trị bằng ARVs bậc 2, trong đó rối loạn kiểu nhóm 1 (tăng cholesterol + triglycerid) là 89  (41%) bệnh nhân, nhóm 2 (tăng cholesterol + triglycerid + LDL‐C) là 84 (38,7%) và nhóm 3 (tăng cholesterol +  triglycerid + LDL‐C và giảm HDL‐C) là 52 (24%). Tăng Cholesterol được ghi nhận 47,9% (Trị số trung bình  5,42 ± 1,84 mmol/L), Triglycerid 71,4% (Trị số trung bình 4,35 ± 3,34 mmol/L), LDL ‐C 58,1% (Trị số trung  bình 4,68 ± 3,31 mmol/L) và giảm HDL‐C 35% (Trị số trung bình 1,17 ± 0,50 mmol/L). Rối loạn lipid máu có  liên quan đến với tuổi và nồng độ Hb.  

Kết luận: Điều trị HIV/AIDS bằng phác đồ bậc 2 có thể gây ra rối loạn lipid máu. Cơ chế gây rối loạn này  cũng như thay đổi nồng độ lipid trong quá trình điều trị và cách xử trí cần có nhiều nghiên cứu tiếp theo.  

Từ khóa: rối loạn lipid máu, HIV/AIDS, ARV.  

ASTRACT 

DYSLIPIDEMIA IN HIV/AIDS PATIENTS TREATED BY THE SECOND LINE ARVS IN THE HOSPITAL FOR

TROPICAL DISEASES

Vo Thanh Nhon, Nguyen Huu Chi  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 401 ‐ 411 

Background: The treatment of HIV/AIDS patients lasts a lifetime, so several undesirable side effects may 

occur, including dyslipidemia. 

Objective: To examine dyslipidemia in HIV/AIDS patients under the second line ARVs in the Hospital for 

Tropical Diseases.  

Methods: Prospective, cross‐sectional descriptive. 

Results:  In  our  study  dyslipidemia  were  recorded  in  159/217(73.3%)  HIV/AIDS  patients  treated  by  the 

second line ARV. Of 159 patients, the increase in cholesterol and triglyceride (group 1) noted in 89 (41%), the  increase  in  cholesterol,  triglyceride  and  LDL‐C  (group  2)  in  84  (38.7%),  and  the  increase  in  cholesterol,  triglyceride and LDL‐C, decrease in HDL‐C (group 3) in 52 (24%). The elevated cholesterol in the blood observed 

in 47.9 % patients with the average value of 5.42 ± 1.84 mmol/L, elevated triglyceride in 71.4 % with the average  value  of  4.35  ±  3.34  mmol/  L,  elevated  LDL  ‐  C  in  58.1  %  with  the  average  value  of  4.68  ±  3.31  mmol/L,  decreased HDL‐C in 35% with the average value of 1.17 ± 0.50mmol/L. The dyslipidemia were associated with  the age, hemoglobin concentration, duration of HIV infection, duration of treatment with the first line and second 

* BV đa khoa Tiền Giang   ** Bộ môn Nhiễm ĐH Y Dược TP HCM 

Tác giả liên lạc: BSCKII Nguyễn Thành Nhơn   ĐT: 0984982435 

Trang 2

Conclusion: The HIV/AIDS patients in the Hospital for Tropical Diseases of Ho Chi Minh City treated by 

the second line ARVs presented the dyslipidemia but the mechanism of these disorders, the change of lipid profiles  during the treatment, the management of the abnormalities were not mentioned in this study.  

Keywords: dyslipidemia, HIV/AIDS. second line ARV.  

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, từ năm 1981 đến 

nay  có  khoảng  hơn  60  triệu  người  đã  bị  nhiễm 

HIV, trong đó khoảng 25 triệu người đã chết vì 

AIDS. Mỗi ngày có gần 7.000 người nhiễm mới 

và gần 5.000 người chết vì AIDS. Ở Việt Nam, từ 

ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào cuối 

năm  1990,  tính  đến  30/11/2012,  số  trường  hợp 

nhiễm  HIV  hiện  còn  sống  là  208.866,  tử  vong 

62.184 và số bệnh nhân AIDS là 59.839.  

Năm 1997 được xem là cột mốc quan trọng 

trong  lịch  sử  điều  trị  nhiễm  HIV/AIDS.  Đó  là 

thời điểm bắt đầu dùng thuốc kháng retrovirus 

hiệu  quả  cao  (highly  active  antiretroviral 

therapy = HAART) với việc phối hợp cùng lúc 3 

thuốc  ARV  trong  một  phác  đồ.  Số  bệnh  nhân 

đang  được  điều  trị  hiện  nay  tại  Việt  Nam  ước 

tính vào khoảng 68.000 bệnh nhân, trong đó có 

63.490 bệnh nhân người lớn và 3.567 trẻ em. Từ 

khi áp dụng HAART, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong 

của  bệnh  nhân  nhiễm  HIV/AIDS  giảm  xuống 

song hành với sự trỗi dậy độc tính và tác dụng 

phụ  của  thuốc  trên  nhiều  cơ  quan  của  người 

bệnh.  Bất  thường  về  chuyển  hóa  như  rối  loạn 

phân  bố  mỡ,  rối  loạn  chuyển  hóa  lipid,  tăng 

đường  huyết  và  kháng  insulin.  Tác  dụng  phụ 

của  thuốc  có  thể  làm  giảm  sự  gắn  bó  của  bệnh 

nhân với HAART, đồng thời làm gia tăng nguy 

cơ bệnh tim mạch.  

Điều  trị  HIV/AIDS  kéo  dài  suốt  đời,  nhiều 

tác  dụng  phụ  không  mong  muốn  có  thể  xuất 

hiện, trong đó rối lọan chuyển hóa lipid là một 

vấn  đề  mới  được  nêu  lên  gần  đây.  Trên  thực 

hành, kiểm tra rối loạn sinh học ở người nhiễm 

HIV  được  thực  hiện  một  cách  rộng  rãi  khi  bắt 

đầu  sử  dụng  thuốc  ức  chế  protease,  một  loại 

thuốc được sử dụng trong phác đồ bậc 2. Nhiều 

nghiên cứu cho thấy bệnh nhân HIV/AIDS điều 

trị  bằng  phác  đồ  bậc  I  có  tỉ  lệ  rối  loạn  chuyển  hóa lipid máu khoảng 35,5% (12) đến 48% (3), đối  với phác đồ bậc II là 66,7% (10) cho đến 83%(4). Tại  Việt  Nam,  một  nghiên  cứu  tác  dụng  phụ  của  2  phác đồ ARV bậc I thực hiện từ 7/2006 – 6/2008  tại  Bệnh  viện  Đống  Đa  (Hà  Nội),  tỉ  lệ  rối  loạn  chuyển hóa lipid máu lần lượt là 40,8% với phác 

đồ  D4T,  3TC,  NVP  (1a)  và  16,3%  với  phác  đồ  D4T, 3TC, EFV (1c)(14). Nghiên cứu của Nguyễn  Thành  Dũng  trên  129  bệnh  nhân  điều  trị  bằng  phác đồ ARV bậc 2 cho thấy có sự gia tăng trị số  cholesterol và triglycerid sau 12 tháng điều trị(7).  Tuy  nhiên,  nghiên  cứu  vừa  nêu  chưa  khảo  sát  rối  loạn  lipid  máu  ở  phác  đồ  có  thuốc  ức  chế  protease như Lopinavir/Ritonavir (LVP/r), thuốc  chủ  lực  trong  phác  đồ  bậc  II  dùng  cho  bệnh  nhân bị thất bại điều trị với phác đồ bậc 1.  Với  mong  muốn  góp  phần  tìm  hiểu  thêm  vấn đề trên, đề tài của chúng tôi được thực hiện  với  mục  tiêu  là  khảo  sát  rối  loạn  lipid  ở  bệnh  nhân nhiễm HIV điều trị ARV phác đồ bậc 2 tại  Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới (BV BNĐ). 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Thiết kế nghiên cứu 

Tiền cứu mô tả cắt ngang 

Đối tượng nghiên cứu 

Dân số mẫu 

Bệnh  nhân  nhiễm  HIV/AIDS  đến  khám  ngoại trú tại BVBNĐ. 

Dân số nghiên cứu 

Bệnh nhân HIV/AIDS đang điều trị ARV bậc 

2 tại BVBNĐ  

Cỡ mẫu 

Dựa  vào  công  thức  tính  cỡ  mẫu  trong  thiết  kết cắt ngang mô tả. 

2

2 ) 2 / 1 (

d

) p 1 ( p Z

Trang 3

1,96 

‐ p = 0,66: Tỉ lệ rối loạn lipid máu trên bệnh 

nhân HIV điều trị phác đồ bậc II [68]. 

‐ Sai số cho phép d= 0,1 

⇒ n = 200 

Tiêu chuẩn chọn mẫu 

‐ Tuổi ≥ 15 

‐ Nhiễm HIV được xác định khi mẫu huyết 

thanh  dương  tính  cả  3  xét  nghiệm  kháng  thể 

HIV bằng 3 loại sinh phẩm khác nhau (theo quy 

định của Bộ Y Tế VN):  

+  XN  1  (sàng  lọc):  Architect  HIV  Ag/Ab 

Combo (hãng Abbott Laboratories Hoa kỳ), xét 

nghiệm  này  định  tính  kháng  nguyên  p24  của 

HIV  và  các  kháng  thể  đối  với  HIV  túyp  1  và 

týp 2. 

+  XN  2:  AxSym  HIV  ½  (hãng  Abbott),  xác 

định kháng thể HIV. 

+  XN  3:  COBAS  HIV  Combi  (Công  ty 

Roche),  xét  nghiệm  định  tính  kháng  nguyên 

HIV‐1  p24  và  kháng  thể  HIV‐1  nhóm  O  và 

kháng thể HIV‐2. 

‐ Có chỉ định điều trị ARV theo “Hướng dẫn 

chẩn  đoán  và  điều  trị  HIV/AIDS”  của  Bộ  Y  tế 

tháng 08/2009 và sửa đổi bổ sung năm 2011. 

‐ Đồng ý tham gia nghiên cứu. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Phụ nữ  có  thai  sử  dụng  ARV  phòng  ngừa 

lây  truyền  mẹ‐con.  Bệnh  nhân  có  tiền  sử  rối 

loạn  lipid  máu,  bệnh  tiểu  đường  và  bệnh  lý 

tim  mạch  từ  trước.  Bệnh  nhân  nhiễm  HBV, 

HCV kèm theo. 

Địa điểm và thời gian nghiên cứu 

Mẫu máu nghiên cứu được tiến hành lấy tại 

phòng  khám  ngoại  trú  HIV/AIDS  BVBNĐtừ 

tháng 12/ 2011 đến tháng 12/ 2012. 

Phương pháp xử lý số liệu 

Số  liệu  được  nhập  và  phân  tích  bằng  phần 

mềm  SPSS  phiên  bản  11.5.  Các  biến  số  không 

liên tục được tính toán theo tỷ lệ % và kiểm định 

bằng  phép  kiểm  χ2  có  hay  không  hiệu  chỉnh 

Fisher. Các biến số liên tục được tính toán theo 

số  trung  bình  bằng  phép  kiểm  Mann‐Whitney.  Giá trị p<0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê. 

KẾT QUẢ 

Từ  tháng  12/20011  đến  tháng  12/2012,  tổng  cộng  có  217  bệnh  nhân  điều  trị  ARV  bậc  2  đủ  tiêu chuẩn chọn lựa được đưa vào nghiên cứu.  

Tỉ lệ bệnh nhân bị rối loạn lipid máu  

Bảng 1: Tỉ lệ bệnh nhân bị rối loạn rối loạn lipid máu  

Rối loạn 1 trị số lipid 159 73,3

Bệnh nhân có rối loạn ít nhất 1 trong 4 trị số  lipid (cholesterol toàn phần, triglycerid, LDL‐C,  HDL‐C) là 159, chiếm tỉ lệ 73,3%. Rối loạn kiểu  nhóm  1  (tăng  cholesterol  +  triglycerid)  là  41%.  Rối loạn lipid máu kiểu nhóm 2 (tăng cholesterol  +  triglycerid  +  LDL‐C)  là  37,8%.  Rối  loạn  lipid  máu kiểu nhóm 3 (tăng cholesterol + triglycerid  + LDL‐C và giảm HDL‐C) là 24%. 

Các  chỉ  số  lipid  ở  bệnh  nhân  dùng  ARVs  bậc 2 

Bảng 2: Trị số Cholesterol, triglycerid, LDL‐C, HDL‐

C (Mmol/L) 

Chỉ số lipid máu Trung bình Trung vị (IQR)

Cholesterol (Mmo/L) 5,42±1,84 5,11 (3,0- 6,2) Triglycerid (Mmo/L) 4,35±3,34 3,52 (2,0 – 5,2) LDL-C (Mmo/L) 4,68±3,31 4,22 (2,53- 5,71) HDL-C (Mmo/L) 1,17±0,50 1,15 (0,77-1,64)

Tỉ lệ rối loạn lipid trong phác đồ bậc 2 

Bảng 3: Tần số (n) và tỉ lệ (%) rối loạn lipid máu. 

Cholesterol (Mmo/L)

Bình thường 113 (52,1) 4,03 ± 0,79

Tăng 104 (47,9) 6,93 ± 1,40 Triglycerid

(Mmo/L)

Bình thường 62 (28,6) 1,76 ± 0,34

Tăng 155 (71,4) 5,38± 3,45 LDL-C

(Mmo/L)

Bình thường 91 (41,9) 2,39± 0,44

Tăng 126 (58,1) 6,34 ± 5,62 HDL-C

(Mmo/L)

Bình thường 141 (65,0) 1,46 ± 0,39

Giảm 76 (35,0) 0,66 ± 0,2

Tăng  cholesterol  (Mmo/L)  trong  phác  đồ  ARV bậc 2 của nghiên cứu có tỉ lệ 47,9% với trị 

Trang 4

số  trung  bình  6,93  ±  1,40.  Tăng  triglyceride 

(Mmo/L)  trong  phác  đồ  ARV  bậc  2  của  nghiên 

cứu  có  tỉ  lệ  71,4%  và  có  trị  số  trung  bình  5,38± 

3,45. Tăng LDL‐C (Mmo/L) trong phác đồ ARV 

bậc 2 của nghiên cứu có tỉ lệ 58,1%, trị số trung 

bình  6,34  ±  5,62.  Giảm  HDL‐C  (Mmo/L)  trong 

phác  đồ  ARV  bậc  2  của  nghiên  cứu  có  tỉ  lệ 

71,4%, trị số trung bình 0,66 ± 0,2. 

Các yếu tố liên quan đến rối loạn lipd máu 

Mối  liên  quan  giữa  rối  loạn  lipid  máu  và  cơ 

địa bệnh nhân 

Bảng 4: Rối loạn lipid máu liên quan đến cơ địa 

(n=217) 

Yếu tố Nhóm 1 (n,%) Nhóm 2 (n,%) Nhóm 3 (n,%)

Giới Nam 63 (40,9%)* 60 (39%)** 40 (26%)***

12 (19,1%)

Nữ 26 (41,3%) 24 (38,1%)

Tuổi <40 65 (37,6%)* 61 (35,1%)** 38

(21,8%)***

14 (32,6%)

≥ 40 24 (55,8%) 24 (54,5%)

BMI TC 43 (42,2%)* 39 (38,2%)*** 17

(28,1%)***

29 (23,2%)

BC 46 (40%) 45 (39,1%)

* p= 0,961; ** P=0,950 và *** p= 0,278).   

Giới tính 

 Ở bệnh nhân rối loạn lipid nhóm 1 và nhóm 

2,  tỉ  lệ  rối  loạn  của  nam  và  nữ  tương  đương 

nhau lần lượt là 40,9% vs 41,3%, 39% vs 38,1%. 

Đối với rối loạn lipid kiểu nhóm 3, phái nam có 

tỉ  lệ  rối  loạn  lipid  máu  cao  hơn  nữ  (26%  vs 

19,1%) nhưng không có khác biệt thống kê.  

Rối  loạn  lipid  máu  liên  quan  đến  tuổi 

bệnh nhân 

So  sánh  ở  hai  lứa  tuổi  >40  và  <40,  rối  loạn 

lipid ở nhóm ≥40 nhiều hơn. Tỉ lệ rối loạn lipid 

nhóm 1 là 55,8% (so với 37,6%), nhóm 2 là 54,5% 

(so với 35,1%) với p <0,05. Riêng ở bệnh nhân có 

rối loạn lipid nhóm 3, lứa tuổi >40 tuổi có tỉ lệ rối 

loạn lipid máu cao hơn (32,6% vs 21,8%) nhưng 

sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p= 0,14).  

Rối loạn lipid máu liên quan đến BMI 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  dựa  vào 

BMI chúng tôi chia bệnh nhân ra hai loại: thiếu 

cân  (TC)  và  bình  thường  (BT).  BMI  của  bệnh 

nhân bình cân và thiếu cân có tỉ lệ rối loạn lipid  máu không khác nhau ở ở cả 3 nhóm với p lần  lượt là 0,747, 0,893 và 0,436). 

Mối liên quan giữa rối loạn lipid máu và thời  gian nhiễm HIV  

Bảng 5: Thời gian nhiễm HIV  

Yếu tố Nhóm 1 (n,%) Nhóm 2 (n,%) Nhóm 3 (n,%)

Thời gian nhiễm HIV

<5 năm 20 (36,4%)* 19 (43,5%)** 12 (21%)*** 5-10 năm 64 (43,5%) 60 (45,8%) 38 (25,9%)

>10 năm 5 (33,3%) 3 (33,3%) 2 (13,3%)

 *p=0,375, ** p= 0,561 và *** p= 0,308)   

Ở  bệnh  nhân  có  thời  gian  nhiễm  HIV  5‐10  năm,  tỉ  lệ  rối  loạn  lipid  máu  ở  cả  3  kiểu  nhóm  cao hơn so với bệnh nhân có thời gian nhiễm <5  năm.  Tuy  nhiên,  sự  khác  biệt  này  lại  không  có  giá trị thống kê với p lần lượt là 0,375, 0,561 và  0,308. 

Mối liên quan giữa rối loạn lipid máu và các  giai đoạn lâm sàng(GĐLS)  

Bảng 6: Giai đoạn lâm sàng liên quan đến rối loạn 

lipid máu  

Yếu tố Nhóm 1 (n,%) Nhóm 2 (n,%) Nhóm 3 (n,%)

GĐLS

LS 1+2 76 (43,3%)* 71 (40,6%)** 43

(24,6%)***

LS 3+4 13 (44,6%) 13 (44,6%) 9 (21,4%)%)

 * p= 0,140, ** p= 0,230 và *** p= 0,668   

Tỉ lệ rối loạn lipid máu tương tự nhau ở các  giai đoạn lâm sàng với p lần lượt là 0,140, 0,230 

và 0,668) 

Mối liên quan rối loạn lipid máu liên quan  đến tiền sử dùng ARV bậc 1  

‐ Thời gian điều trị ARV bậc 1 

Tỉ lệ rối loạn lipid kiểu nhóm 1ở bệnh nhân 

có thời gian điều trị <12 tháng, 12‐36 tháng và 

>36 tháng tương đương nhau (39,5%, 41,6% và  42%).  Đối  với  rối  loạn  kiểu  nhóm  2  và  3  cho  thấy  bệnh  nhân  nào  có  tiền  sử  điều  trị  12‐26  tháng  có  tỉ  lệ  rối  loạn  lipid  máu  cao  hơn  so  bệnh  nhân  điều  trị  <12  tháng  và  >36  tháng  nhưng khác biết không có ý nghĩa thống kê với 

p lần lượt là 0,940, 0,866 và 0,098.  

Trang 5

trị ARV bậc 1 

Yếu tố Nhóm 1 (n,%) Nhóm 2 (n,%) Nhóm 3 (n,%)

Thời

gian

điều trị

(tháng)

<12 30 (39,5%) * 28 (36,8%)** 12 (15,8%)***

12-36 42 (41,6%) 41 (40,6%) 41 (40,6%)

>36 17 (42%) 15 (37,5%) 15 (37,7%)

d4T Có 40 (40,8%)* 36 (36,7)** 27 (27,6%)***

Không 49 (41,1%) 48 (40,3%) 25 (21%)

NVP Có 36 (38%)* 34 (37%)** 20 (21%)***

Không 53 (42,4%) 50 (40%) 50 (40%)

EFV Có 54 (42,5%)* 51 (40,2%)** 32 (25,2%)***

Không 35 (38,9%) 33 (33,7%) 20 (22,2%)

* p= 0,940, ** p= 0,866, *** p= 0,098 

‐ Tiền sử điều trị bằng d4T 

Bệnh  nhân  có  tiền  sử  điều  trị  d4T  trong 

nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có  tỉ  lệ  rối  loạn  lipid 

máu không khác nhau so với bệnh nhân không 

sử dụng ở cả 3 nhóm (ở nhóm 1: 40,8% vs 41,1%; 

ở nhóm 2: 40,3% vs 36,7% và ở nhóm 3: 27,6% vs  21%) với p lần lượt là p=0,975; 0,588 và 0,261. 

‐ Tiền sử điều trị NVP 

Bệnh nhân có tiền sử điều trị NVP có tỉ  lệ  rối  loạn  lipid  máu  tương  tự  như  bệnh  nhân  không dùng thuốc này với p lần lượt là 0,628;  0,649 và 0,510. 

‐ Tiền sử điều trị EFV 

Bệnh nhân có tiền sử điều trị EFV có rối loạn  lipid máu không khác biệt nhiều hơn ở cả 3 kiểu  rối loạn, tỉ lệ lần lượt là 42,5% vs 38,9%; 40,2% vs  33.7%  và  25,2%  vs  22,2%,  không  có  ý  nghĩa  thống kê với p lần lượt là 0,592, 0,603 và 0,631. 

Mối liên quan giửa rối loạn lipid máu và ARV bậc 2  

Bảng 8: Rối loạn lipid máu liên quan đến thời gian và phác đồ ARV bậc 2 

Thời gian điều trị (tháng) <12 28 (40%)* 26 (37,1%)** 14 (20%)***

12-36 35 (39,3%) 33 (37,9%) 22 (24,7%)

>36 35 (38,9%) 26 (42,6%) 16 (27,5%) Công thức ARV2 (n=205 TDF, 3TC, LPV/r 72 (41,4%) 67 (38,5%) 40 (23%)

TDF, AZT, 3TC, LPV/r 13 (41,9%) 13 (41,9%) 10 (32,3%)

‐ Thời gian điều trị ARV 

Bệnh nhân có thời gian điều trị càng lâu tỉ lệ 

rối loạn lipid máu càng nhiều hơn. Tỉ lệ rối loạn 

lipid máu kiểu nhóm 1 với thời gian điều trị <12 

tháng,  12‐36  tháng  và  trên  36  tháng  tương 

đương nhau (40%, 39,3% và 38,9%). Đối với rối 

loạn kiểu nhóm 2 và nhóm 3, bệnh nhân có thời 

gian  điều  trị  trên  36  tháng,  tỉ  lệ  rối  loạn  lipid 

máu  nhiều  hơn  (42%  vs  37,2%  và  37,9%;  27% 

vs24% và 20% nhưng không có khác biệt thống 

kê với p lần lượt là 0,785; 0,947 và 0,953.  

‐ Công thức ARV bậc 2 

Bệnh nhân điều trị phác đồ TDF, 3TC, LPV/r 

và  TDF,  AZT,  3TC,  LPV/r  có  tỉ  lệ  rối  loạn  lipid 

máu tương tự nhau. 

Mối liên quan rối loạn lipid máu và yếu tố  cận lâm sàng  

Bảng 9: Liên quan các yếu tố cận lâm sàng với rối 

loạn lipid máu 

Yếu tố Nhóm 1 (n,%) Nhóm 2 (n,%) Nhóm 3 (n,%)

T CD4 (TB/mm3)

<200 24 (45,3%)* 22 (41,5%)** 13

(24,5%)***

≥ 200 65 (39,6%) 64 (38,5%) 39 (23,8%) ALT (IU/L) ≥ 45 72 (44,2%)* 68 (41,7%)** 40

(24,5%)**

<45 17 (31,5%) 16 (29,6%) 12 (22,2%)

Hb (g/L) ≥ 12 76 (42%) 71 (49,2%) 47 (26%)*

<12 13 (36%) 13 (36,1%) 5 (13,9%)

Rối  loạn  lipid  máu  liên  quan  đến  tế  bào  T 

CD 4+  (TB/mm 3 ) 

Bệnh nhân có tế bào T CD4+<200 tỉ lệ rối loạn  lipid máu nhiều hơn ở cả 3 kiểu nhóm (45,3% vs  39,6%; 41,5% vs 38,5% và 24,55 vs 23,8%) nhưng 

Trang 6

không  có  ý  nghĩa  thống  kê  với  p  lần  lượt  là 

0,467; 0,630 và 0,912.  

 Rối loạn lipid máu liên quan đến ALT (IU/L) 

Bệnh nhân có ALT ≥ 45 (IU/L) có tỉ lệ rối loạn 

lipid  máu  nhiều  hơn  so  với  bệnh  nhân  có  ALT 

bình thường (44,%2 vs 31,5%; 41,7% vs 29,6% và 

24,5% vs 22,2%) nhưng không có khác biệt thống 

kê với p lần lượt là 0,100; 0,144 và 0,792.  

Rối  loạn  lipid  máu  liên  quan  đến  nồng  độ  Hb 

(g/L) 

Ở  bệnh  nhân  có  Hb≥  12  g/L,  tỉ  lệ  rối  loạn 

lipid máu cao hơn so với bệnh nhân thiếu máu 

(Hb<12 g/L). Đối với rối loạn lipid kiểu nhóm 3, 

có tỉ lệ rối loạn lần lượt ở bệnh nhân không thiếu 

máu và thiếu máu lần lượt là 26% và 13.9% với 

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p= 0,049.  

BÀN LUẬN 

Rối loạn lipid máu theo phân nhóm ở phác 

đồ ARV bậc 2 

Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có ít 

nhất  1  rối  loạn  lipid  máu  chiếm  tỉ  lệ  73,3%  và 

không  có  liên  quan  đến  các  yếu  tố  dịch  tễ,  lâm 

sàng và tiền sử điều trị ARV bậc 1. Kết quả này 

tương  tự  như  nghiên  cứu  của  EoinG(4), 

Marianne(8). Phân chia nhóm rối loạn lipid máu 

trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  tỉ  lệ 

bệnh nhân có rối loạn lipid máu nhóm 1 là 41.%, 

nhóm 2 là 38,7% và nhóm 3 là 24%. Các nghiên 

cứu  của  Katherine  (2010)(6),  Nery  (2011)(10)  và 

Nawakete (2012)(9) cũng cho kết quả tương tự. 

Các chỉ số rối loạn lipid trong phác đồ bậc 

Sự thay đổi Cholesterol ở phác đồ ARV bậc 2 

Thay  đổi  cholesterol  đã  được  ghi  nhận  rất 

sớm  ở  phác  đồ  ARV  bậc  2.  Nghiên  cứu  của 

chúng tôi thực hiện trên 217 bệnh nhân cho thấy 

tỉ  lệ  phần  trăm  được  ghi  nhận  như  sau: 

Cholesterol  tăng  48%  với  trị  số  trung  bình 

5,42±1,84  Mmol/L,  trong  đó  bệnh  nhân  dùng 

phác đồ ABC, ddI, LPV/r tăng cao nhất (66,6%). 

Tuy nhiên, cỡ mẫu nghiên cứu của phác đồ này 

quá nhỏ (n= 6/217) nên không thể hiện được sự 

chính xác. Mức độ tăng cholesterol trong nghiên  cứu của chúng  tôi  không  biệt  với  nhiều  nghiên  cứu  trên  thế  giới.  Trong  nghiên  cứu  của  Marianne(8)  ở  Pháp  năm  2008,  tỉ  lệ  tăng  cholesterol được ghi nhận là 57% (cao hơn trong  nghiên cứu của chúng tôi). Một nghiên cứu của  Catarian(2) thực hiện trên 12.531 bệnh nhân thực  hiện  năm  2011  tại  Tanzania  cho  thấy  tỉ  lệ  tăng  Cholesterol  dao  động  từ  23  đến  76%  tương  tự  với kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi. 

Sự thay đổi Triglyceride ở phác đồ ARV bậc 2 

Thay  đổi  triglyceride  máu  là  trị  số  thay  đổi  lớn  nhất  trong  phác  đồ  bậc  II  có  thuốc  ức  chế  men  protease  (protease  inhibitors  =  PI).  Trong  một nghiên cứu gộp của Eoin G(8) năm 2011 cho  thấy  tỉ  lệ  tăng  triglyceride  máu  trong  phác  đồ  ARV  bậc  II  là  83%.  Tỉ  lệ  tăng  Triglyceride  máu  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là  71,4%  với  nồng  độ  trung  bình  là  4,35±3,34  Mmol/L.  Tỉ  lệ  này  thấp  hơn  trong  nghiên  cứu  của  Eoin  G(4)  thực hiện năm 2011, nhưng cao hơn nghiên cứu  của Marianna(8) (28%). 

 Sự thay đổi HDL‐C ở phác đồ ARV bậc 2 

Giảm trị số HDL‐C trong phác đồ ARV bậc 2 

là  một  trong  những  nguy  cơ  bệnh  tim  mạch  ở  bệnh  nhân  HIV  điều  trị  ARV.  Nghiên  cứu  của  chúng tôi nhận thấy trị số HDL giảm 35% trong  tổng số 217 bệnh nhân (trị số trung bình HDL‐C  1,17±0,50  mmol/L).  Trong  nghiên  cứu  của  Marianne(8),  tỉ  lệ  giảm  HDL‐C  là  22%  sau  20  tháng  điều  trị  phác  đồ  ARV  bậc  2.  Nghiên  cứu  của  Periard  D(14)  và  cộng  sự  trên  93  bệnh  nhân  thực  hiện  năm  1999  cũng  cho  thấy  HDL‐C  không thay đổi trên bệnh nhân điều trị ARV bậc 

2.  Như  vậy,  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  không  phù  hợp  với  một  số  nghiên  cứu  trên  thế  giới,  nhưng vì đây là nghiên cứu lần đầu thực hiện tại  Việt  Nam  nên  cần  có  nhiều  nghiên  cứu  có  cỡ  mẫu lớn hơn để xác định vấn đề này. Tuy nhiên,  trong nghiên cứu của Marianna(8) cũng xác nhận 

sự giảm HDL‐C trong phác đồ ARV có chứa PI  cũng đang còn nhiều tranh cãi và có những kết  quả khác nhau. 

 Sự thay đổi LDL‐C ở phác đồ ARV bậc 2 

Trang 7

Điều  trị  ARV  có  PI  đã  chứng  minh  được 

hiệu  quả  làm  giảm  tải  lượng  virus  khi  bệnh 

nhân  thất  bại  với  phác  đồ  ARV  bậc  I(7).  Trong 

nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  tỉ  lệ  tăng 

LDL‐C ở phác đồ ARV bậc II là 58,1% với trị số 

trung bình là LDL‐C 4,68 ± 3,31 mmol/L. Trong 

nghiên  cứu  do  Nawakatare(9)  thực  hiện  tại 

Tazania trên hơn 5.000 bệnh nhân cho thấy mức 

tăng LDL‐C là 53%. Như vậy, mức tăng LDL‐C 

trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với một 

số nghiên cứu được thực hiện trên thế giới.  

Các yếu tố liên quan đến rối loạn lipid máu 

Mối liên quan giửa rối loạn lipid máu và tuổi 

bệnh nhân 

Theo  Jean  PM,  Hội  Lão  khoa  Châu  Âu 

(European  Geriatric  Medicine  ‐EGM),  quá  trình 

lão hóa của con người bắt đầu xuất hiện ở tuổi 

40 trở lên. Ở lứa tuổi này con người bắt đầu có 

biểu hiện giảm sút về trí tuệ, đồng thời xuất hiện 

các  rối  loạn  về  chuyển  hóa  và  có  khả  năng  rối 

loạn  lipid  máu.  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho 

thấy  có  sự  rối  loạn  lipid  khác  nhau  ở  2  nhóm 

tuổi này. Trong rối loạn lipid máu nhóm 1, bệnh 

nhân điều trị ARV bậc 2 ở lứa tuổi từ 40 trở lên tỉ 

lệ  rối  loạn  là  55,8%,  trong  khi  dưới  40  tuổi  chỉ 

chiếm  37,6%.  Ở  bệnh  nhân  có  rối  loạn  kiểu 

nhóm 2 cũng có sự khác biệt, lứa tuổi từ 40 trở 

lên tỉ lệ rối loạn lipid máu 54,5% so với 35,1% ở 

lứa tuổi dưới 40. Ở bệnh nhân có rối loạn nhóm 

3 cũng cho kết quả tương tự: lứa tuổi >40 có tỉ lệ 

rối  loạn  cao  hơn  lứa  tuổi  <40.  Nghiên  cứu  của 

Marianne(8) thực hiện trên 1172 bệnh nhân năm 

2008  tại  Pháp  xác  định  tuổi  lớn  hơn  40  có  liên 

quan  đến  rối  loạn  lipid  máu  nhiều  hơn.  Một 

nghiên  cứu  khác  của  Katherine  V(6)  thực  hiện 

2001 cho thấy loạn dưỡng mỡ có liên quan đến 

tuổi và tăng nhiều hơn ở lứa tuổi từ 40 trở lên. 

Như  vậy,  rối  loạn  lipid  máu  có  liên  quan  đến 

tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với 

những nghiên cứu này. Riêng ở bệnh nhân >40 

có rối loạn nhóm 3 cao hơn nhưng lại không có ý 

nghỉa  thống  kê.  Điều  này  có  thể  cỡ  mẫu  của 

chúng  tôi  còn  nhỏ  chưa  chứng  minh  được  sự 

khác biệt. Mặt khác, rối loạn lipid máu hỗn hợp 

thường  thay  đổi  chủ  yếu  các  tăng  cholesterol,  triglyceride, LDL‐C và giảm HDL‐C trong bệnh  nhân  HIV/AIDS  vẫn  còn  chưa  thống  nhất  nên  cần có thêm những khảo sát rối loạn lipid máu ở  nhóm này với những cỡ mẫu lớn hơn.  

Mối liên quan giữa giới tính và rối loạn lipid  máu ở bệnh nhân sử dụng phác đồ ARV bậc 2 

Trong  217  bệnh  nhân,  nam  chiếm  71%.  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  rối  loạn lipid kiểu nhóm 1 ở nam và nữ lần lượt là  40,9  và  41,3%,  ở  nhóm  2  là  39%  và  38,1%  và  ở  nhóm 3 là 26% và 19,1%. Như vậy, rối loạn lipid  máu ở bệnh nhân sử  dụng  phác  đồ  ARV  bậc  2  không có sự khác nhau về giới tính. Nghiên cứu  của Marianne(8) cho thấy giữa nam và nữ tỉ lệ rối  loạn lipid máu tương tự nhau. Một nghiên cứu  khác  của  Nery(10) thực  hiện  tại  Brazil  cũng  cho  thấy không có khác biệt về rối loạn lipid máu ở  hai phái. Như vậy, bệnh nhân sử dụng phác đồ  ARV bậc 2 không có sự khác biệt rối loạn lipid  máu giữa nam và nữ. 

Mối liên quan giữa BMI và rối loạn lipid máu 

ở bệnh nhân sử dụng phác đồ ARV bậc 2 

Rối loạn lipid máu liên quan đến BMI được  nhắc  đến  trong  nhiều  nghiên  cứu  trên  thế  giới.  Người  béo  phì  có  BMI  cao  sẽ  có  rối  loạn  lipid  máu nhiều hơn. Nghiên cứu của chúng tôi thực  hiện trên 217 bệnh nhân HIV/AIDS đang điều trị  ARV  bậc  2  ghi  nhận  không  có  bệnh  nhân  thừa  cân và béo phì. Rối loạn lipid máu kiểu nhóm 1  cho thấy bệnh nhân thiếu cân và bình cân có tỉ lệ  gần  bằng  nhau  (40%  và  42%).  Đối  với  rối  loạn  kiểu nhóm 2 cũng không có sự khác biệt (38,2% 

và  39,1%).  Rối  loạn  lipid  kiểu  nhóm  3  ở  bệnh  nhân bình cân thường cao hơn bệnh nhân thiếu  cân  (32,6%  so  với  21,8%)  nhưng  không  có  sự  khác biệt thống kê. Nghiên cứu của Marianne(9)  ghi  nhận  nhóm  bệnh  nhân  có  BMI  cao  tỉ  lệ  rối  loạn lipid máu nhiều hơn. Một nghiên cứu khác  của  Carlos  D(3)  tại  Tây  Ban  Nha  trên  710  bệnh  nhân cho thấy bệnh nhân có BMI trên 23 có rối  loạn  lipid  máu  nhiều  hơn.  Bệnh  nhân  điều  trị  ARV  bậc  2  được  chỉ  định  khi  thất  bại  với  phác 

đồ  bậc  1  bao  gồm  thất  bại  về  lâm  sàng,  miễn 

Trang 8

dịch  và  virus.  Mặt  khác  Việt  Nam  thuộc  nhóm 

quốc gia đang phát triển nên chế độ dinh dưỡng 

cho người dân còn hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu 

của  chúng  tôi  không  có  nhóm  bệnh  nhân  thừa 

cân  và  béo  phì  nên  khó  phân  tích  so  sánh,  tuy 

nhiên  ở  bệnh  nhân  có  rối  loạn  kiểu  nhóm  3  có 

BMI bình thường (18,5‐22,99), rối loạn lipid máu 

nhiều hơn nhưng không  có  khác  biệt  thống  kê. 

Như  vậy,  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cũng  phù 

hợp với các nghiên cứu khác trên thế giới nhưng 

chưa  phân  tích  được  BMI  ở  nhóm  thừa  cân  và 

béo phì so với bệnh nhân thiếu cân.  

Liên  quan  đến  thời  gian  nhiễm  HIV  và  rối 

loạn lipid máu ở bệnh nhân sử dụng phác đồ 

ARV bậc 2 

Trước  khi  được  điều  trị  bằng  ARV,  nhiễm 

HIV  cũng  gây  ra  rối  loạn  lipid  máu Tăng 

cholesterol toàn phần và LDL‐C và giảm HDL‐C 

đã được chứng minh trong một nghiên cứu hai 

nhóm  bệnh  nhân  nam  có  HIV  dương  tính  và 

HIV  âm  tính Ở những bệnh nhân nhiễm HIV này

chưa  điều  trị  ARV  đã  có  tăng  nồng  độ 

triglyceride, LDL‐C và giảm HDL‐C trong huyết 

thanh so với nhóm chứng không nhiễm HIV. Do 

đó, thời gian nhiễm HIV càng lâu có thể gây rối 

loạn  lipid  máu  nhiều  hơn  so.  Nghiên  cứu  của 

chúng  tôi  ghi  nhận  ở  bệnh  nhân  có  thời  gian 

nhiễm HIV giai đoạn 5‐10 năm tỉ lệ rối loạn lipid 

nhóm  1  cao  nhất  (43,5%),  tương  tự  như  bệnh 

nhân có rối loạn kiểu nhóm 2 và 3. Nghiên cứu 

Ketharine(6)  thực  hiện  năm  2001  trên  1035  bệnh 

nhân cho thấy thời gian nhiễm HIV không  liên 

quan  đến  rối  loạn  lipid  máu.  Một  nghiên  cứu 

khác của Adewole O(1) và cộng sự thực hiện năm 

2010 tại Nigeria trên 130 bệnh nhân nhiễm HIV 

cho  thấy  tăng  lipid  máu  nhưng  cũng  không  có 

khác  biệt  thống  kê.  So  với  kết  quả  nghiên  cứu 

của chúng tôi với một số  nghiên  cứu  thực  hiện 

trên thế giới cho thấy tỉ lệ rối loạn lipid máu cao 

hơn ở nhóm bệnh nhân có thời gian nhiễm HIV 

từ 5‐10 năm tương tự như nhau.  

Liên quan giữa giai đoạn lâm sàng và rối loạn  lipid máu ở bệnh nhân sử dụng phác đồ ARV  bậc 2 

Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại  phòng  khám  ngoại  trú  ở  bệnh  nhân  đã  kháng  thuốc  phác  đồ  ARV  bậc  1.  Giai  đoạn  lâm  sàng  được chia làm hai nhóm: lâm sàng giai đoạn 1và 

2  (suy  giảm  miễn  dịch  nhẹ)  và  lâm  sàng  giai  đoạn  3  và  4  (suy  giảm  miễn  dịch  nặng).  Tình  trạng rối loạn lipid máu được ghi nhận như sau:  rối  loạn  kiểu  nhóm  1  giữa  các  giai  đoạn  lâm  sàng  tương  tự  nhau  (43,4%  và  44,6%),  rối  loạn  kiểu nhóm 2 thì giai đoạn lâm sàng 3 và 4 có tỉ lệ  rối  loạn  lipid  máu  cao  hơn  (44,6  vs  40,6%),  rối  loạn kiểu nhóm 3 thì có tỉ lệ tương đương nhau.  Như  vậy,  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  giai  đoạn  lâm  sàng  của  bệnh  nhân  không  có  liên  quan  đến  rối  loạn  lipid  máu,  tương  tự  như  nghiên cứu của Marianne S(9) thực hiện tại Pháp  năm 2008 và của Periard D(14) năm 1999.  

Rối loạn lipid máu liên quan đến thời gian đã 

sử dụng phác đồ ARV bậc 1 ở bệnh nhân sử  dụng phác đồ ARV bậc 2 

Điều trị ARV làm giảm tải lượng HIV RNA,  phục  hồi  miễn  dịch,  cải  thiện  chất  lượng  cuộc  sống.  Phục  hồi  miễn  dịch  đánh  giá  dựa  vào  sự  gia  tăng  tế  bào  T  CD4 +,  giảm  tải  lượng  virus  dưới  ngưỡng  phát  hiện,  không  xuất  hiện  các  bệnh  nhiễm  trùng  cơ  hội.  Tuy  nhiên,  việc  điều  trị  này  thường  đưa  đến tăng  cholesterol  toàn  phần,  LDL‐C  và  triglyceride.  Trong  phác  đồ  có  thuốc ức chế men sao chép ngược không có gốc  (non‐nucleos(t)ide  reverse  transcriptase  inhibitors  =  NNRTI),  có  sự  gia  tăng  cholesterol  toàn  phần,  LDL‐C  và  triglycerids,  tăng  triglyceride  thường  không  nghiêm  trọng  như  phác đồ có sử dụng PI. Thời gian điều trị kéo dài  cũng  gây  rối  loạn  lipid  máu.  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  thấy  bệnh  nhân  có  tiền  sử  điều  trị  ARV bậc 1 từ 12‐36 tháng tỉ lệ rối loạn lipid máu  nhiều  hơn.  Nghiên  cứu  của  Calza  L(2)  trên  130  bệnh nhân năm 2005 cho thấy tỉ lệ rối loạn lipid  máu  sau  12  tháng  điều  trị  42,2%.  Tỉ  lệ  trong 

Trang 9

bệnh nhân có tiền sử dùng ARV bậc 1 thời gian 

12‐  36  tháng  có  rối  loạn  lipid  máu  nhiều  hơn 

nhưng lại không có khác biệt thống kê giữa các 

nhóm.  

Liên quan tiền căn sử dụng d4T phác đồ ARV 

bậc 1 với rối loạn lipid máu ở phác đồ bậc 2 

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân 

có  tiền  sử  điều  trị  d4T  trước  khi  chuyển  sang 

phác đồ ARV bậc 2 tỉ lệ rối loạn lipid máu nhóm 

1 là 40,8%, nhóm 2 là 36,7% và nhóm 3 là 27,6%. 

Nghiên cứu của Katherin) cho thấy bệnh nhân có 

tiền  sử  điều  trị  d4T  thì  tỉ  lệ  rối  loạn  lipid  máu 

nhiều hơn khi chuyển sang phác đồ so với người 

không  có  tiền  sử  điều  trị  d4T.  Một  nghiên  cứu 

khác của Johannes R(5) và cộng sự thực hiện năm 

2004 có tỉ lệ rối loạn lipid máu ở bệnh nhân sử 

dụng  d4T  sau  42  tháng  là  27%,  tương  tự  với 

nghiên cứu của chúng tôi.  

Liên quan tiền căn sử dụng NVP phác đồ ARV 

bậc 1 với rối loạn lipid máu ở phác đồ bậc 2 

NVP được ghi nhận ít gây rối loạn lipid máu 

hơn so với các thuốc khác trong nhóm NNRTIs. 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  giữa  bệnh 

nhân có và không có tiền sử điều trị NVP không 

có khác nhau khi chuyển sang điều trị phác đồ 

ARV  bậc  2.  Nghiên  cứu  của  Marianne  S(9)  cho 

thấy  NVP  gây  rối  loạn  lipid  máu  thấp  hơn  các 

thuốc cùng nhóm NNRTIs. 

Liên quan tiền căn sử dụng EFV phác đồ ARV 

bậc 1 với rối loạn lipid máu ở phác đồ bậc 2 

Trong  nhóm  thuốc  NNRTIs,  EFV  được  ghi 

nhận  gây  rối  loạn  lipid  máu  nhiều  hơn  so  với 

NVP. Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận bệnh 

nhân có tiền căn sử dụng EFV trước khi chuyển 

sang phác đồ ARV bậc 2 tỉ lệ rối loạn lipid máu 

nhiều hơn so với không sử dụng ở cả 3 kiểu rối 

loạn (42,5% và 38,9%; 40,2% và 33,7%; 25,2% và 

22,2%). Một nghiên cứu cắt ngang của Eric W(13) 

thực hiện tại Cameroon được tiến hành từ tháng 

11  năm  2009  đến  tháng  1  năm  2010,  138  bệnh 

nhân HIV chưa điều trị ARV và 138 người khác 

được  điều  trị  ít  nhất  12  tháng  với  phác  đồ  bao 

gồm  NVP  hoặc  EFV.  Kết  quả  cho  thấy  nhóm  dùng  EFV  thì  có  tỉ  lệ  rối  loạn  lipid  máu  nhiều  hơn.  Như  vậy,  bệnh  nhân  có  tiền  căn  sử  dụng  EFV  tỉ  lệ  rối  loạn  lipid  máu  sẽ  cao  hơn  so  với  nhóm  bệnh  nhân  không  có  sử  dụng  thuốc  này  trước khi chuyển sang phác đồ bậc 2. 

Mối liên quan rối loạn lipid máu và thời gian 

sử dụng ARV bậc 2 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  trên  217  bệnh  nhân với thời gian điều trị ARV bậc 2 được chia 

ra làm ba loại: dưới 12 tháng, từ 12 đến 36 tháng 

và trên 36 tháng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ 

lệ rối loạn lipid máu nhóm 1 ở bệnh nhân có thời  gian điều trị ARV trên 36 tháng nhiều hơn 21‐36  tháng và dưới 36 tháng (44,8%, 39,3% và 40%). Ở  bệnh nhân có rối loạn nhóm 2 được dùng thuốc  trên 36 tháng cũng cao hơn 2 kiểu nhóm còn lại.  Rối  loạn  kiểu  nhóm  3  ở  bệnh  nhân  điều  trị  từ  trên 36 tháng cao hơn nhóm bệnh nhân điều trị  dưới  12  tháng  (27,5%  vs  20%).  Như  vậy,  bệnh  nhân  có  thời  gian  điều  trị  ARV  lâu  hơn  có  rối  loạn lipid máu nhiều hơn nhưng không có khác  biệt  thống  kê.  Nghiên  cứu  của  Katherine(6)  trên 

1035 bệnh nhân cho thấy thời điều trị ARV bậc 2  lâu rối loạn lipid máu nhiều hơn (không có khác  biệt thống kê), nghiên cứu của Adewole O(1) năm 

2010  tại  Nigeria  trên  130  bệnh  nhân  cho  thấy  bệnh nhân điều trị ARV trên 12 tháng có rối loạn  lipd máu nhiều hơn so với nhóm dưới 12 tháng.  Thời gian điều trị ARV dài hơn có rối loạn lipid  máu nhiều hơn nhưng không có khác biệt thống 

kê. Như vậy, so với một số nghiên cứu trên thế  giới, kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với các  nghiên cứu đã thực hiện. 

Mối liên quan rối loạn lipid máu và tế bào T 

CD 4+  ở bệnh nhân sử dụng ARV bậc 2 

Kết quả nghiên cứu liên quan giửa số lượng 

tế bào T CD4+ và rối loạn lipid máu của chúng tôi  cho  thấy  rối  loạn  kiểu  nhóm  1  khi  T  CD4+  (tế  bào/mm3 máu) dưới 200 là 45,3%, cao hơn bệnh  nhân có số lượng tế bào T CD4+ trên 200. Rối loạn  kiểu nhóm 2 ở bệnh nhân có số lượng tế bào T 

CD4+ thấp hơn cũng có rối loạn lipid máu nhiều  hơn (41,5% so với (38,5%). Đối với rối loạn kiểu 

Trang 10

CD4+ dưới 200 và trên 200 tỉ lệ lần lượt là 24,5% 

và  23,8%.  Như  vậy,  nghiên  cứu  của  chúng  tôi 

cho thấy bệnh nhân có số lượng T CD4+ dưới 200 

sẽ  có  rối  loạn  lipid  máu  nhiều  hơn  (không  có 

khác biệt thống kê giữa các nhóm), phù hợp với 

một  số  nghiên  cứu  khác  đã  thực  hiện  trên  thế 

giới. Nghiên cứu của Catharina(3) thực hiện trên 

12.513 bệnh nhân ở Tanzania (2011) cho thấy có 

sự gia tăng trị số trung bình của triglyceride và 

LDL‐C khi số lượng tế bào T CD4+ dưới 200.  

Mối  liên  quan  rối  loạn  lipid  máu  và  ALT  ở 

bệnh nhân được điều trị phác đồ bậc 2 

Nồng  độ  ALT  trung  bình  trong  nghiên  cứu 

của  chúng  tôi  là  37,16  ±  36,07  IU/L.  Kết  quả 

nghiên cứu cho thấy nhóm 1 tỉ lệ rối loạn lipid 

máu  khi  ALT  ≥  45  và  <40  lần  lượt  là  44,2%  và 

31.1%.  Nhóm  2  (cũng  cho  kết  quả  tương  tự 

(41,7% so với 38,5%) và nhóm 3 kết quả lần lượt 

là (24,5% và 22,2%). Tuy có tỉ lệ rối loạn cao hơn 

nhưng  không  có  khác  biệt  thống  kê  giữa  các 

nhóm.  Tăng  men  gan  kèm  rối  loạn  lipid  máu 

cũng  có  thể  do  bệnh  lý  chuyển  hóa  ở  gan. 

Nghiên  cứu  của  Adewole(1)  (2010)  cho  thấy 

không có sự liên quan giữa viêm gan và rối loạn 

lipid máu. Tăng men gan liên quan đến rối loạn 

lipid  máu  trên  bệnh  nhân  điều  trị  ARV  bậc  2 

chưa  được  nghiên  cứu  nhiều.  Kết  quả  nghiên 

cứu  của  chúng  tôi  chưa  phù  hợp  với  một  số 

nghiên  cứu  trên  thế  giới  nên  cần  có  nhiều 

nghiên cứu cỡ mẫu lớn hơn, thời gian dài hơn để 

kết luận vấn đề này. 

Mối liên quan của Hb đến rối loạn lipid máu ở 

bệnh nhân được điều trị phác đồ ARV bậc 2 

Điều trị ARV đã cải thiện rõ rệt về lâm sàng, 

bệnh nhân hết nhiễm trùng cơ hội, sinh hoạt tốt 

hơn và cải thiện tình trạng thiếu máu. Hb trung 

bình trong nghiên cứu của chúng tôi 13,66 ± 1,81 

g/L. Liên quan giữa rối loạn lipid máu và nồng 

độ Hb trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 

như sau bệnh nhân có Hb trên 12g/L có rối loạn 

lipd  máu  nhiều  hơn  nhóm  bệnh  nhân  thiếu 

máu. Ở nhóm 3, bệnh nhân điều trị ARV bậc 2, 

Hb trên 12g/L rối loạn có liên đến rối loạn lipid 

máu và có khác biệt giữa 2 nhóm (26% và 13,9%  với p= 0,049). Một nghiên cứu tại Hàn Quốc của  Ozdemir A(11) thực hiện năm 2007 trên 427 bệnh  nhân  ghi  nhân  nhóm  bệnh  nhân  có  chỉ  số  Hb  trên  14g/L  sẽ  có  rối  loạn  lipid  máu  nhiều  hơn.  Giải  thích  điều  này  có  thể  do  Hb  <12g/L  gặp  ở  những  bệnh  nhân  có  tình  trạng  suy  kiệt  kèm  thiếu  máu,  BMI  sẽ  thấp  nên  tình  trạng  rối  loạn  lipid  máu  sẽ  thấp  hơn.  Kết  quả  này  cũng  phù  hợp  với  nghiên  cứu  của  chúng  tôi.  Tuy  nhiên,  liên  quan  giữa  chỉ  số  Hb  và  rối  loạn  lipid  máu  trên  bệnh  nhân  HIV/AIDS  sử  dụng  ARV  bậc  2  chưa được khảo sát nhiều trong các nghiên cứu  trên thế giới. 

KẾT LUẬN 

Rối  loạn  lipid  máu  trong  nghiên  cứu  của  chúng tôi được ghi nhận ở 159/217 (73,3%) bệnh  nhân,  trong  đó  các  chỉ  số  rối  loạn  kiểu  nhóm  1  (tăng cholesterol và triglyceride) là 41%, nhóm 2  (tăng  cholesterol,  triglyceride  và  LDL‐C)  là  38,7% và nhóm 3 (tăng cholesterol + triglycerid + 

LDL‐C  và  giảm  HDL‐C)  là  24%.  Tăng 

Cholesterol được ghi nhận 47,9% bệnh nhân với  trị  số  trung  bình  5,42  ±  1,84  mmol/L,  tăng  triglyceride  71,4%  với  trị  số  trung  bình  4,35  ±  3,34 mmol/L, tăng LDL‐C 58,1% với trị số trung  bình  4,68  ±  3,31  mmol/L  và  giảm  HDL‐C  35%  với trị số trung bình 1,17 ± 0,50 mmol/L.  

Các  yếu  tố  tuổi,  thời  gian  nhiễm  HIV,  thời  gian sử dụng ARV bậc 1, thời gian sử dụng ARV  bậc  2,  trị  số  ALT,  Hb  có  liên  quan  đến  rối  loạn  lipid máu nhưng không có giá trị thống kê.   Tóm  lại,  qua  nghiên  cứu  chúng  tôi  mới  ghi  nhận có rối loạn lipid máu ở  bệnh  nhân  nhiễm  HIV/AIDS nhưng chưa tìm được các yếu tố liên  quan  cũng  như  diễn  tiến  cơ  học  nồng  độ  lipid  trong  quá  trình  điều  trị  cũng  như  hậu  quả  của  rối loạn lipid trên bệnh nhân.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO  

Nigeria”, Afr Health Sci, 10(2), pp. 144–149 

associated  with  antiretroviral  therapy  in  HIV‐infected 

patients” Journals Antimicrobial Chemotherapy, 53(1), pp. 10‐14 

Ngày đăng: 20/01/2020, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm