1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thay đổi về tình trạng nhiễm giun ký sinh đường ruột của nhân dân xã Hoàng Tây, huyện Kim Bảng, tỉnh Nam Hà sau 5 năm (1994 - 1999) áp dụng các biện pháp can thiệp về vệ sinh môi trường,

6 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 113,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết trình bày tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale/Necator americanus) giảm từ 10,4% xuống còn 4,10% (p < 0,05).2. Về cường độ nhiễm giun: - Cường độ nhiễm giun đũa không có sự thay đổi (14.494 trứng/1 gam phân so với 15.339 trứng/1gam phân (p > 0,05).- Cường độ nhiễm giun tóc tăng từ 660 trứng/1gam phân lên 957 trứng/1gam phân (p < 0,05).- Cường độ nhiễm giun móc/mỏ không có sự thay đổi (292 trứng/1 gam phân so với 227 trứng/1gam phân; p > 0,05).

Trang 2

THAY ĐỔI VỀ TÌNH TRẠNG NHIỄM GIUN KÝ SINH ĐƯỜNG RUỘT

CỦA NHÂN DÂN XÃ HOÀNG TÂY, HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH NAM HÀ SAU 5 NĂM (1994 - 1999) ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP CAN THIỆP

VỀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, CUNG CẤP NƯỚC SẠCH VÀ GIÁO DỤC SỨC KHOẺ

Hoàng Tân Dân*, Phạm Trung Kiên**, Lê Thanh Phương*, Đặng Bích Hà*

TÓM TẮT

Sau 5 năm (1994 - 1999) áp dụng biện pháp can thiệp về VSMT, cung cấp nước sạch và GDSK tại cộng đồng, tình trạng nhiễm giun đường ruột của nhân dân xã Hoàng Tây, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam biến động như sau:

1 Về tỷ lệ nhiễm giun:

- Tỷ lệ nhiễm giun đũa (Ascaris lumbricoides) giảm từ 87,33% xuống còn 67,30% (p < 0,01)

- Tỷ lệ nhiễm giun tóc (Trichuris trichiura) không có sự thay đổi (78,73% so với 76,2%; p > 0,05)

- Tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale/Necator americanus) giảm từ 10,4% xuống còn

4,10% (p < 0,05)

2 Về cường độ nhiễm giun:

- Cường độ nhiễm giun đũa không có sự thay đổi (14.494 trứng/1 gam phân so với 15.339 trứng/1gam phân (p > 0,05)

- Cường độ nhiễm giun tóc tăng từ 660 trứng/1gam phân lên 957 trứng/1gam phân (p < 0,05)

- Cường độ nhiễm giun móc/mỏ không có sự thay đổi (292 trứng/1 gam phân so với 227 trứng/1gam phân;

p > 0,05)

SUMMARY

THE CHANGE OF THE INFECTED SITUATION OF THE INTESTINAL WORM

OF PEOPLE AT HOANG TAY VILLAGE, KIM BANG DISTRICT, NAM HA PROVINCE AFTER 5 YEARS

(1994 - 1999) INTERFERING ABOUT HYGIENE, ENVIRØONMENT

AND HEALTHY EDUCATION

Hoang Tan Dan, Pham Trung Kien, Le Thanh Phuong, Dang Bich Ha

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Special issue of Parasitology - Vol 5 - Supplement of No 1 - 2001: 1 - 5

The change of after 5 years (1994 - 1999) interfering by hygiene, enviroment and healthy

education, the infected situation of the intestinal worm of people at Hoang Tay village, Kim Bang district, Nam Ha province gives following results:

1 The infected rate of inestinal worm:

- The infected rate of Ascaris lumbricoides reduces from 87.33% to 67.30% (p < 0.01)

- The infected rate of Trichuris trichiura does not chance (78.73% compare with 76.20%; p > 0.05%)

- The infected rate of Ancylostoma duodenale/Necator americanus

- reduces from 10.40% to 4.1% (p < 0.05)

2 The infected intensity of worm (the number of the worm egg/1 gram stools):

*Bộ Môn Ký sinh trùng - Trường Đại Học Y Hà Nội

**Bộ Môn Nhi - Trường Đại Học Y Thái Nguyên

Trang 3

- The infected intensity of Ascaris lumbricoides does not chance (14.494 worm egg/1 gram

stools compare with 15.339 worm egg/1 gram stools; p > 0.05)

- The infected intensity of Trichuris trichiura increases from 660 worm egg/1 gram stools to

957 worm egg/1 gram stools (p < 0.05)

- The infected intensity of Ancylostoma duodenale/Necator americanus does not chance (292

worm egg/1 gram stools compare with 227 worm egg/1 gram stools

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh giun ký sinh đường ruột (giun đũa, giun

tóc, giun móc/mỏ) ở Việt Nam hiện nay vẫn là

bệnh gây nhiều tác hại tới sức khoẻ của cộng đồng,

đặc biệt là lứa tuổi trẻ em

Trong công tác phòng chống giun sán nói

chung, phòng chống giun nói riêng, việc hạ thấp tỷ

lệ nhiễm và cường độ nhiễm là mục tiêu trọng tâm

Muốn vậy, phải áp dụng nhiều biện pháp phối hợp

như điều trị hàng loạt theo định kỳ, cải tạo vệ sinh

môi trường (VSMT), cung cấp nước sạch và giáo

dục sức khoẻ (GDSK) cho cộng đồng

Trong năm 1994, chúng tôi đã tiến hành điều

tra về tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm giun đường ruột

cho nhân dân xã Hoàng Tây, huyện Kim Bảng, tỉnh

Hà Nam Từ năm 1994 đến năm 1999, chúng tôi

cùng địa phương đã áp dụng các biện pháp can

thiệp về VSMT, cung cấp nước sạch, GDSK cho

cộng đồng dân cư trong xã Việc tiến hành điều trị

giun hàng loạt theo định kỳ, chúng tôi chưa tiến

hành được do điều kiện thuốc men, kinh phí (1)

Để đánh giá được kết quả sau 5 năm nghiên

cứu, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Thay đổi tình

trạng nhiễm giun ký sinh đường ruột của nhân dân

xã Hoàng Tây, huyện Kim Bảng, tỉnh Nam Hà sau

5 năm (1994 - 1999) áp dụng các biện pháp can

thiệp về vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch và

giáo dục sức khoẻ" với mục tiêu:

1 Xác định tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm giun

của cộng đồng dân cư trong xã tại thời điểm năm

1999

2 Đánh giá sự thay đổi về tỷ lệ nhiễm, cường độ

nhiễm giun của cộng đồng dân cư trong xã sau 5

năm (1994 - 1999) áp dụng các biện pháp can thiệp

về VSMT, cung cấp nước sạch, GDSK cho cộng

đồng

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Cộng đồng dân cư thuộc mọi lứa tuổi, giới, ngành nghề

Địa điểm nghiên cứu

Xã Hoàng Tây, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 7/1994 đến 7/1999

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lấy mẫu nghiên cứu

- Cỡ mẫu: Được xác định dựa vào công thức:

Trong đó: n số mẫu cần phải điều tra

+ Z /2: độ lệch rút gọn ứng với các sai lầm khác nhau, thường bằng 2,58 với độ tin cậy 99%

+ p là tỷ lệ nhiễm giun trong nhân dân ở các cuộc điều tra trước đó (2): p = 0,87

+ d: độ chính xác mong muốn trong chọn mẫu cho nghiên cứu này: d = 0,05

Do đó cỡ mẫu tối thiểu dự tính 300 người, để tăng độ tin cậy chúng tôi lấy số mẫu nghiên cứu tăng gấp đôi

Phương pháp xét nghiệm tìm trứng giun đường ruột

Xét nghiệm phân bằng kỹ thuật Kato - Katz

KẾT QUẢ Tình hình nhiễm giun (tháng 7/1999)

Bảng 1 Tỷ lệ nhiễm giun chung

n = z2 /2

Trang 4

Tên xã Số xét

nghiệm

Số có giun Tỷ lệ %

Bảng 2 Tỷ lệ nhiễm giun phối hợp

Nhiễm phối hợp Tổng số nhiễm

phối hợp

Số (+) Tỷ lệ

%

Giun đũa + Giun tóc

+ Giun móc/mỏ

Bảng 3 Tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun

móc/mỏ

Loại giun Số XN Số (+) Tỷ lệ %

Bảng 4 Tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun

móc/mỏ theo giới

số XN số (+) % số XN số (+) %

Giun đũa 301 193 64,1 360 252 70,0 >0,05

Giun tóc 301 214 71,1 360 290 80,6 <0,05

Giun

móc/mỏ

301 8 2,7 360 19 5,3 >0,05

Bảng 5 Cường độ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun

móc/mỏ (số trứng giun trong 1 gam phân)

Loại giun Số trứng giun trong 1 gam phân

Thay đổi tỷ lệ nhiễm giun qua các thời điểm

điều tra (tháng 7/1994 - 7/1999)

Bảng 6 Thay đổi tỷ lệ nhiễm giun qua các thời điểm

điều tra (tháng 7/1994 - 7/1999)

Năm Số XN số (+) Giun đũa % số (+) Giun tóc % số (+) Giun móc %

1994 663 579 87,33 522 78,73 69 10,4

Bảng 7 Thay đổi cường độ nhiễm giun đường ruột

qua các thời điểm điều tra (tháng 7/1994 - 7/1999)

Loại giun Thời gian điều tra Số trứng giun / 1 gam phân p

Giun đủa 1994 1999 14.494 15.399 > 0.05

Giun tóc 1994 1999 660 957 < 0,05

BÀN LUẬN Tỷ lệ nhiễm giun

- Kết quả điều tra về tỷ lệ nhiễm giun trong cộng đồng dân cư xã Hoàng Tây trong năm 1999 cho biết:

+ Tỷ lệ nhiễm giun chung: 87% (bảng 1) + Tỷ lệ nhiễm giun phối hợp: Nhiễm giun đũa + giun tóc: 93,4%; nhiễm giun đũa + giun móc/mỏ: 0,8%; nhiễm giun tóc + giun móc/mỏ: 0,8%; nhiễm giun đũa + giun tóc + giun móc/mỏ: 5% (bảng 2) + Tỷ lệ nhiễm giun (bảng 3): Nhiễm giun đũa: 67,3%; nhiễm giun tóc: 76,2%; nhiễm giun móc/mỏ: 4,1%

+ Tỷ lệ nhiễm giun theo giới (bảng 4): Tỷ lệ nhiễm giun đũa ở nam: 64,1%, ở nữ: 70% Tỷ lệ nhiễm giun tóc ở nam: 71,1%, ở nữ: 80,6% Tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ ở nam: 2,7%, ở nữ: 5,3%

- Kết quả điều tra về giun đường ruột của một số tác giả tại các địa phương thuộc đồng bằng Bắc bộ như sau:

+ Đỗ Thị Đáng và cs (1991)(2) điều tra về giun đường ruột trong dân cư 2 xã Bình Minh, Hoà Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình cho kết quả: Tỷ lệ nhiễm giun chung: 95,8%; tỷ lệ nhiễm giun đũa: 90,6%, giun tóc: 81,2%, giun móc/mỏ: 20,3% + Trương Thị Kim Phượng và cs (1999)(3) điều tra về giun đường ruột trong dân cư 3 xã Bắc Hồng, Nguyên Khê, Kim Chung, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội cho kết quả: Tỷ lệ nhiễm giun phối hợp

3 loại giun (giun đũa + giun tóc + giun móc/mỏ): 5%; tỷ lệ nhiễm giun đũa: 58,4%, giun tóc: 51,8%, giun móc/mỏ: 10,9%

Kết quả điều tra của chúng tôi thấp hơn kết quả của Đỗ Thị Đáng về tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ So sánh với kết quả của Trương Thị Kim Phượng về tỷ lệ nhiễm giun đũa, giun tóc thì kết quả của chúng tôi cao hơn, nhưng tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ lại thấp hơn

Cường độ nhiễm giun

- Kết quả điều tra về cường độ nhiễm giun trong cộng đồng dân cư xã Hoàng Tây trong năm

Trang 5

1999 cho biết:

+ Cường độ nhiễm giun đũa: 15.339 trứng / 1

gam phân

+ Cường độ nhiễm giun đũa: 957 trứng / 1 gam

phân

+ Cường độ nhiễm giun móc/mỏ: 227 trứng / 1

gam phân

Thay đổi về tình trạng nhiễm giun sau 5 năm

(1994 - 1999) áp dụng các biện pháp can thiệp về

VSMT, cung cấp nước sạch và GDSK tại cộng

đồng

Thay đổi về tỷ lệ nhiễm giun

Tỷ lệ nhiễm giun trước can thiệp (1994) và sau

can thiệp (1999): Giun đũa: 87,33% so với 67,3%

(p < 0,01); giun tóc: 78,73% so với 76,2% (p >

0,05); giun móc/mỏ: 10,4% so với 4,1% (p < 0,05)

Như vậy, sau 5 năm (1994 - 1999) áp dụng các

biện pháp can thiệp về VSMT, cung cấp nước sạch

và GDSK tại cộng đồng, tình trạng nhiễm giun đũa,

giun móc/mỏ của nhân dân xã Hoàng Tây, huyện

Kim Bảng, tỉnh Hà Nam giảm rất đáng kể (p < 0,01

- p < 0,05), nhưng tỷ lệ nhiễm giun tóc không có sự

thay đổi rõ rệt (p> 0,0%)

Thay đổi về cường độ nhiễm giun

Cường độ nhiễm giun trước can thiệp (1994) và

sau can thiệp (1999): Giun đũa: 14.494 trứng / 1

gam phân so với 15.339 trứng / 1 gam phân (p >

0,05); giun tóc: 660 trứng / 1 gam phân so với 957

trứng / 1 gam phân (p < 0,05); giun móc/mỏ: 292

trứng / 1 gam phân so với 227 trứng / 1 gam phân

(p > 0,05)

Như vậy, sau 5 năm (1994 - 1999) áp dụng các

biện pháp can thiệp về VSMT, cung cấp nước sạch

và GDSK tại cộng đồng, cường độ nhiễm giun đũa,

giun móc/mỏ của nhân dân xã Hoàng Tây, huyện

Kim Bảng, tỉnh Hà Nam không thay đổi (p > 0,05)

Đối với giun tóc có tuổi thọ cao, điều trị khó khăn

nên cường độ nhiễm tăng không nhiều (p < 0,05)

Chúng tôi nghĩ, nếu trong công tác PCGS chỉ

áp dụng các biện pháp can thiệp về VSMT, cung

cấp nước sạch và GDSK cho cộng đồng mà không

kèm theo biện pháp điều trị hàng loạt, có định kỳ

trong năm thì kết quả có giảm giun về tỷ lệ nhiễm, nhưng cường độ nhiễm giun không thay đổi

KẾT LUẬN

Sau 5 năm (1994 - 1999) áp dụng các biện pháp can thiệp về VSMT, cung cấp nước sạch và GDSK tại cộng đồng, tình trạng nhiễm giun đường ruột của nhân dân xã Hoàng Tây, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam có sự thay đổi như sau:

Về tỷ lệ nhiễm giun

- Tỷ lệ nhiễm giun đũa (Ascaris lumbricoides)

giảm từ 87,33% xuống còn 67,30% (p < 0,01)

- Tỷ lệ nhiễm giun tóc (Trichuris trichiura)

không có sự thay đổi (78,73% so với 76,2%; p > 0,05)

- Tỷ lệ nhiễm giun móc/mỏ (Ancylostoma duodenale/Necator americanus) giảm từ 10,4%

xuống còn 4,10% (p < 0,05)

Về cường độ nhiễm giun

- Cường độ nhiễm giun đũa không có sự thay đổi (14.494 trứng / 1 gam phân so với 15.339 trứng / 1 gam phân (p > 0,05)

- Cường độ nhiễm giun tóc tăng từ 660 trứng / 1 gam phân lên 957 trứng / 1 gam phân (p < 0,05)

- Cường độ nhiễm giun móc/mỏ không có sự thay đổi (292 trứng / 1 gam phân so với 227 trứng /

1 gam phân; p > 0,05)

3 Muốn thu được kết quả tốt trong PCGS, cần áp dụng các biện pháp phối hợp như cải tạo VSMT, cung cấp nước sạch, GDSK, đặc biệt là biện pháp điều trị hàng loạt, có định kỳ trong năm cho cộng đồng dân cư

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 HOÀNG TÂN DÂN và cs (1996), Tìm hiểu tình trạng nhiễm giun ký sinh đường ruột liên quan tới môi trường sống của nhân dân 2 xã Nhật Tân, Hoàng Tây, huyện Kim Bảng, tỉnh Nam Hà, Tạp chí Y học thực hành, Nhà xuất bản Y học, 1996,1, 18 - 21

2 ĐỖ THỊ ĐÁNG và CS (1999), Đánh giá bước đầu ứng dụng các biện pháp phòng chống giun sán tại một điểm ở Thái Bình, Tập san Nghiên cứu khoa học, Đại hoc Y khoa Thái Bình, 1991, 1, 41

- 44

3 TRƯƠNG THỊ KIM PHƯỢNG và cs (1999), Đánh giá tình trạng nhiễm giun đường ruột và kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về bệnh ký sinh trùng đường ruột tại một số xã thuộc huyện Đong Anh - Hà Nội, Tuyển tập công trình khoa học Trường Đại học Y Hà Nội, 1999, Tập I, 122 - 130

Ngày đăng: 20/01/2020, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w