1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tình hình điều trị rối loạn thái dương hàm tại khoa răng hàm mặt - Đại học Y Dược TP.HCM từ 2008 đến 2010

7 151 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 255,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu mục tiêu nhằm khảo sát các đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của bệnh nhân rối loạn thái dương hàm và tổng kết tình hình điều trị rối loạn thái dương hàm tại khoa răng hàm mặt từ năm 2008 đến năm 2010. Nghiên trên 539 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân rối loạn thái dương hàm.

Trang 1

TÌNH HÌNH ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN THÁI DƯƠNG HÀM

TẠI KHOA RĂNG HÀM MẶT – ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM TỪ 2008 ĐẾN 2010

Lương Thảo Nguyên*, Trần Thị Nguyên Ny**, Nguyễn Thị Kim Anh**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát các đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của bệnh nhân Rối loạn thái dương hàm (RLTDH)

và tổng kết tình hình điều trị RLTDH tại Khoa Răng Hàm Mặt từ năm 2008 đến năm 2010

Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứ trên 539 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân RLTDH được điều trị tại Bộ môn

Nha khoa Cơ sở từ năm 2008 đến năm 2010 Thu thập các thông tin có liên quan đến những đặc điểm về dịch tễ học, lâm sàng, phương pháp điều trị và theo dõi

Kết quả: Tỷ lệ nữ: nam có các dấu hiệu và triệu chứng của RLTDH xấp xỉ 2:1 RLTDH tập trung cao nhất

ở nhóm tuổi 18-24 và 25-44 Lý do đến khám chủ yếu là đau (52,69%), kế tiếp là mỏi (18,74%) Dấu hiệu và triệu chứng chiếm tỷ lệ cao nhất là tiếng kêu khớp (66,6%), kế đến là đau (57,7%) Có mối liên quan có ý nghĩa giữa RLTDH với giới tính, các cản trở cắn khớp và tình trạng mất nâng đỡ phía sau của bộ răng Bệnh nhân được điều trị bằng kết hợp nhiều phương pháp, trong đó máng nhai và mài chỉnh khớp cắn được sử dụng nhiều nhất Có 47,12% bệnh nhân không tái khám, 52,88% bệnh nhân tái khám sau 1 tuần, ít bệnh nhân tái khám từ 1 tháng trở lên Trong các bệnh án của bệnh nhân có tái khám thì hiệu quả của điều trị được ghi nhận là: 62,82% giảm đau, 32,05% giảm mỏi, 19,23% tăng biên độ vận động, 15,38% giảm tiếng kêu khớp

Từ khóa: Rối loạn thái dương hàm (RLTDH), điều trị, máng nhai, mài chỉnh khớp cắn

ABSTRACT

SITUATION OF TEMPOROMANDIBULAR DISORDERS TREATMENTS AT FACULTY OF ODONTOSTOMATOLOGY, HO CHI MINH UNIVERSITY OF MEDECINE AND PHARMACY FROM

2008 TO 2010

Lương Thao Nguyen, Tran Thi Nguyen Ny, Nguyen Thi Kim Anh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 2 - 2013: 66 - 71

Objective: To examine the clinical and epidemiological characteristics of temporomandibular disorders

(TMD) patients and to review the situation of TMD treatments at Faculty of Odontostomatology, Ho Chi Minh University of Medecine and Pharmacy from 2008 to 2010

Methods: This retrospective study examined 539 clinical documents of TMD patients having received

treatment in the clinic of Department of Fundamental Dentistry at Faculty of Odontostomatology from 2008 to

2010 The clinical and epidemiological characteristics, the methods of treatments and the follow-up of TMD treatments were collected and analysis

Results: The female-to-male ratio of patients with signs and symptoms of TMD was 2:1 TMD was highest

in the group of 18 to 24 of age and in the group of 25 to 44 of age The reasons for seeking in our clinic were mainly by pain (52.69%), followed by fatigue of the jaws (18.74% The signs and symptoms occupied highest proportion were joints sounds (66.6%), followed by pain (57.7%) There was a significant relationship between TMD with gender, occlusal inteferences and loss of posterior occlusal support TMD patients were treated by a

* Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi ** Khoa RHM, Đại Học Y Dược TP HCM;

Tác giả liên lạc: TS Nguyễn Thị Kim Anh ĐT: 0902206163 Email: drkimanh@gmail.com.

Trang 2

combination of methods Among the methods for management of TMD, occlusal splint and occlusal adjustment were two most widely used methods 47.12% of TMD patients didn’t follow-up visits, 52.88% of TMD patients had follow-up visits after 1 week, few of TMD patients had follow-up after treatment 1 mounth In clinical documents of patients with follow-up visits that have recognized the effectiveness of treatment: 62.82% decrease of pain, 32.05% decrease of fatigue, 19.23% increase of jaw motion, 15.38% decrease of joint sounds

Key words: temporomandibular disorders (TMD), treatment, occlusal splint, occlusal adjustmen

MỞ ĐẦU

Hiện nay, RLTDH khá phổ biến ở người

trưởng thành, khoảng một phần ba người

trưởng thành được ghi nhận có một hay nhiều

các triệu chứng, bao gồm đau ở cổ hoặc hàm,

tiếng kêu lục cục hay lạo xạo ở trong tai Có

nhiều phương pháp điều trị nhằm kiểm soát

bệnh nhưng không có một phương pháp nào

là tốt nhất mà thường cần phối hợp nhiều

phương pháp khác nhau để đạt hiệu quả tối

ưu(16) Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu

khảo sát tình hình RLTDH trong cộng đồng

như của Võ Đắc Tuyến và Hồ Thị Ngọc Linh(20)

trên nhóm công nhân dệt may, của Đoàn

Hồng Phượng(2) trên người trưởng thành

Tp.HCM, của Nguyễn Thị Kim Anh và Đoàn

Hồng Phượng(11) trên trẻ vị thành niên Tuy

nhiên, chưa có nghiên cứu khảo sát về vấn đề

điều trị bệnh nhân RLTDH Khoa Răng Hàm

Mặt, ĐH Y Dược Tp.HCM là trung tâm điều

trị lớn của cả nước, đặc biệt là trong việc điều

trị và kiểm soát bệnh RLTDH Với mong

muốn khảo sát tình hình điều trị RLTDH,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu hồi cứu trên

bệnh án của bệnh nhân tại Khoa Răng Hàm

Mặt từ năm 2008 đến năm 2010 nhằm các mục

tiêu sau:

Xác định đặc điểm về dịch tễ học, về lâm

sàng của các bệnh nhân RLTDH đã được điều

trị tại Khoa Răng Hàm Mặt từ năm 2008 đến

năm 2010

Tổng kết về tình hình điều trị bệnh nhân

RLTDH tại Khoa Răng Hàm Mặt từ năm 2008

đến năm 2010 về phương pháp điều trị, việc theo

dõi, tái khám và đánh giá hiệu quả điều trị

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu, không có nhóm chứng, không có nhóm so sánh

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả hồ sơ bệnh án của bệnh nhân điều trị RLTDH tại Khoa Răng Hàm Mặt - ĐH Y Dược Tp.HCM từ 2008 đến 2010 Tiêu chí loại trừ: (i)

Hồ sơ bệnh án bệnh nhân không điền đầy đủ thông tin ở những phần hành chính, hỏi bệnh sử hoặc khám lâm sàng; (ii) Hồ sơ bệnh án bệnh nhân không theo hết các bước điều trị

Phương pháp thu thập dữ liệu

Đặc điểm về dịch tễ học và lâm sàng của bệnh nhân RLTDH điều trị tại Khoa

Về dịch tễ : Giới tính: nam, nữ ; Tuổi: được chia làm các nhóm theo phân loại của Helkimo(8):

<18; 18-24; 25-44; 45-64; >64 ; Nơi sinh sống: ghi

nhận theo 2 nơi: ở Tp.HCM và ở các tỉnh Về lâm

sàng : Lý do đến khám: đau, tiếng kêu khớp, mỏi cơ/hàm, hạn chế vận động, kẹt hàm, nghiến răng, lý do khác Bệnh sử: ghi nhận các triệu chứng và thời gian xuất hiện để xác định tính chất cấp hay mãn của bệnh Trong đó, triệu chứng cấp là triệu chứng xuất hiện trong vòng 6 tháng trước lần khám đầu của bệnh nhân, triệu chứng mãn là triệu chứng đã xuất hiện trên 6 tháng(9) Các dấu hiệu và triệu chứng RLTDH được ghi nhận bao gồm: Đau (đau ở khớp, đau ở cơ) ; Tiếng kêu ở khớp (1 bên hay 2 bên; lục cục hay lạo xạo) ; Loạn năng (giới hạn vận động hàm: bệnh nhân há miệng hạn chế khi biên độ

há tối đa <40mm ; lệch hàm: độ lệch khi há miệng tối đa >2mm ; kẹt hàm ; mỏi hàm/cơ ; triệu chứng ở tai: đau vùng trong tai, ù tai ; đau đầu) ;

Trang 3

hạng Angle: I, II, III ; cắn sâu : độ cắn phủ

>4mm ; cắn chìa : độ cắn chìa >4mm; cản trở

khớp cắn ở các tư thế: lui sau, lồng múi tối đa,

đưa hàm sang bên, đưa hàm ra trước ; mất nâng

đỡ phía sau: không có sự tiếp xúc răng phía sau

ở cả 2 bên hàm, từ răng 4 trở ra sau) Thói quen

xấu: ghi nhận 2 thói quen xấu là: nghiến răng và

nhai một bên

Tình hình điều trị bệnh nhân RLTDH tại Khoa

Răng Hàm Mặt

Ghi nhận các phương pháp điều trị RLTDH

được áp dụng tại Khoa Ghi nhận thông tin về

thời gian tái khám của bệnh nhân theo 4 mốc:

không tái khám, tái khám sau 1 tuần, tái khám

sau 1 tháng, tái khám sau 2 tháng; về hiệu quả

điều trị: giảm đau, giảm mỏi, tăng biên độ vận

động hàm và giảm tiếng kêu khớp hay không…

Xử lý và phân tích số liệu

Bằng SPSS 16.0 Sử dụng phép kiểm định

Chi - Bình phương nhằm xác định mối tương

quan giữa RLTDH với giới tính và một số yếu

tố khớp cắn

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Đặc điểm về dịch tễ học và lâm sàng của mẫu

Dịch tễ học

Giới tính

Trong tổng số 539 hồ sơ bệnh án được

khảo sát, số lượng bệnh nhân nữ (367 người;

68,09%) trội hơn số lượng bệnh nhân nam (172

người; 31,91%), tỷ lệ nam: nữ xấp xỉ là 1:2

Điều này phù hợp với kết quả của các nghiên

cứu khác như của Võ Đắc Tuyến(19), của Locker

và Slader, và của Szentpetery(8) Điều này có

thể được giải thích bởi sự khác nhau về đặc

điểm của hai giới: nữ giới thường nhạy cảm

hơn nam giới và có ngưỡng đau thấp hơn, nữ

giới cũng quan tâm đến vấn đề sức khỏe hơn

nam giới, khả năng chịu áp lực tâm lý ở nữ

kém hơn nam…(2)

Tuổi

Phân bố từ độ tuổi nhỏ nhất là 13 tuổi (4

người) đến độ tuổi lớn nhất là 73 tuổi (2 người) Tuy nhiên, tập trung nhiều nhất ở độ tuổi từ 18 đến 24 tuổi (236 người - 43,78%) và

độ tuổi từ 25 đến 44 tuổi (209 người - 38,78%) Các nghiên cứu trong cộng đồng cũng cho thấy tỷ lệ các triệu chứng và dấu chứng cao hơn ở nhóm tuổi thanh niên và trung niên so với các lứa tuổi khác như nghiên cứu của: Von Korff, LeResche, Mohlin, Agerberg và Bergenholtz, Locker(8), Goulet(6), Đoàn Hồng Phượng(2) và Võ Đắc Tuyến(19)

Nơi sinh sống : 74,03% bệnh nhân điều trị tại khoa Răng Hàm Mặt sống ở Tp.HCM 140 bệnh nhân đến khám từ các tỉnh khác (25,97%) Điều này chỉ

ra rằng có một số lượng đáng kể bệnh nhân có nhu cầu điều trị RLTDH tại các tỉnh nhưng lại phải đến Tp.HCM Tình trạng này có thể do công tác y tế tại các tỉnh chưa đáp ứng được việc điều trị RLTDH, vì vậy chúng tôi đề nghị cần có các chương trình đào tạo chuyên sâu cho các bác

sĩ Răng Hàm Mặt tại các địa phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân trong việc chữa trị RLTDH

Đặc điểm lâm sàng

Lý do đến khám: nhiều nhất là đau (52,69%), như đau ở cơ, đau ở khớp khi vận động, đau ở khớp khi sờ, đau dai dẳng ; tiếp theo là mỏi (18,74%),

có thể là mỏi ở cơ hay mỏi hàm khi vận động; tỷ

lệ bệnh nhân đến khám vì tiếng kêu khớp là

14,29% Bệnh sử : Về bệnh sử, các bệnh nhân có

các triệu chứng cấp như đau (38,03%), tiếng kêu khớp (17,63%), khó khăn khi vận động hàm (22,45%); và các triệu chứng mãn như: đau (24,85%), tiếng kêu khớp (22,26%), khó khăn khi vận động hàm (14,5%) Đặc biệt có tỷ lệ đáng kể các bệnh nhân có xuất hiện các triệu chứng này trên 3 năm (21 bệnh nhân có các triệu chứng RLTDH xuất hiện từ 5 đến 10 năm trước) Rõ ràng, các triệu chứng của RLTDH xuất hiện đã lâu, nhưng có một lượng đáng kể bệnh nhân vẫn chưa điều trị, chỉ khi nào các triệu chứng trên trở nên trầm trọng hơn thì người bệnh mới có nhu cầu điều trị

Trang 4

Dấu hiệu và triệu chứng của RLTDH

Tỷ lệ các dấu hiệu và triệu chứng

Trong số các dấu hiệu và triệu chứng khi

khám lâm sàng thì tiếng kêu khớp có tỷ lệ cao

nhất (66,6%), kế đến là đau (57,7%) Bên cạnh đó,

các dấu hiệu và triệu chứng khác cũng chiếm tỷ

lệ cao Như vậy, mặc dù bệnh nhân đến khám

với lý do đau là chiếm chủ yếu nhưng khi khám

lâm sàng cho thấy tiếng kêu khớp vẫn là triệu

chứng- dấu hiệu chiếm tỷ lệ cao nhất Vì nghiên

cứu này được tiến hành trên thông tin của nhóm

bệnh nhân điều trị RLTDH nên tỷ lệ dấu hiệu và

triệu chứng cao hơn so với những nghiên cứu

trong cộng đồng như các nghiên cứu của

Nguyễn Thị Kim Anh và Đoàn Hồng Phượng(11)

trên trẻ vị thành niên với tiếng kêu khớp là 7,8%,

đau là 2,1%; nghiên cứu của Đoàn Hồng

Phượng(2) trên người trưởng thành với tiếng kêu

khớp là 24,62%, đau là 22,7% Về tiếng kêu

khớp, bệnh nhân có dấu hiệu – triệu chứng tiếng

kêu khớp 1 bên nhiều hơn tiếng kêu khớp 2 bên

(38,4% và 28,2%), với tiếng kêu lục cục là chủ yếu (62,52%) (bảng 1) Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Võ Đắc Tuyến(19) với tỷ lệ tiếng kêu lục cục là 70% và tiếng kêu lạo xạo là 5% Trong cộng đồng, nghiên cứu cuả Đoàn Hồng Phượng(2) cho thấy tỷ lệ tiếng kêu lục cục (24,62%) nhiều hơn tiếng kêu lạo xạo (0,38%) Triệu chứng – dấu chứng tiếng kêu lục cục và lạo xạo được thống kê theo nghiên cứu của Helkimo

là 21,5% và 11,5%(8) Về triệu chứng đau, đau khớp khi vận động hàm (50,28%) nhiều hơn đau khớp khi sờ (34,32%), trong đó, đau 1 bên khớp nhiều hơn đau 2 bên khớp (bảng 1) Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Đoàn Hồng Phượng: đau khớp thường gặp ở một bên so với đau khớp ở hai bên(2) Ngoài ra, các triệu chứng khác như triệu chứng ở tai, đau đầu đều khá cao Theo LeResche và cs(8) cho rằng hầu hết các đối tượng có đau ở vùng hàm mặt khi hàm nghỉ đều

có các triệu chứng đi kèm như đau đầu, ù tai, chóng mặt và đau vùng cổ vai

Bảng 1 Tỷ lệ các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng

Khám lâm sàng Nam Nữ p Chung Nam- Nữ Tỷ lệ %

ðau khớp 89 51,74 222 60,49 ns 311 57,70 ðau khớp khi vận ñộng hàm 70 40,70 201 54,77 0,01 271 50,28

ðau khớp khi sờ nắn 46 26,74 139 37,87 0,04 185 34,32

ðau cơ khi sờ nắn 42 24,42 131 35,70 0,006 173 32,10

Tiếng kêu ở khớp 109 63,37 250 68,12 ns 359 66,60

Phép kiểm định Chi – Bình phương; ns: p>0,05

Trang 5

có ý nghĩa thống kê ở một số triệu chứng dấu

hiệu RLTDH với giới tính như: đau (đau khớp

khi vận động hàm, đau khớp khi sờ nắn, đau cơ

khi sờ nắn), khó khăn khi thực hiện chức năng,

kẹt hàm, triệu chứng ở tai, triệu chứng ở đầu của

nữ thì cao hơn nam Nhiều nghiên cứu tình

trạng RLTDH trong cộng đồng cũng cho thấy:

nữ có biểu hiện nhiều hơn nam đối với các tỷ lệ

các triệu chứng hay dấu chứng mỏi hàm, há hạn

chế, đau cơ khi sờ, đau khớp khi sờ(2)

Khớp cắn

Theo quan sát của chúng tôi, hầu hết bệnh

nhân điều trị RLTDH tại Khoa có khớp cắn

Angle I (74,4%), trong đó có khoảng 6% bệnh

nhân có cắn sâu và cắn chìa, và không có mối

liên quan có ý nghĩa giữa loại khớp cắn theo

Angle, cắn sâu, cắn chìa với tình trạng RLTDH

Theo nghiên cứu của Gesch và cs, 2004(5) khảo sát

trên 4310 người từ 20-81 tuổi thì không có mối

liên quan giữa độ cắn chìa và độ cắn phủ với

tình trạng RLTDH Tuy nhiên, nghiên cứu của

Thilander và cs, 2002(18) lại cho thấy có mối liên

quan giữa cắn chìa, Angle III với tình trạng

RLTDH, nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Anh

và Đoàn Hồng Phượng(11) cũng cho thấy có mối

liên quan giữa cắn sâu và tiếng kêu khớp Đặc

biệt, có đến 83,11% tổng số bệnh nhân có cản trở

ở các tiếp xúc cắn khớp với cản trở ở tư thế

tương quan trung tâm là cao nhất 58,81% và có

mối liên quan có ý nghĩa giữa cản trở cắn khớp

với đau khớp và đau đầu (bảng 2) Mặc dù có

nhiều nghiên cứu cho thấy không có sự liên

quan có ý nghĩa giữa một khớp cắn xấu với tình

trạng RLTDH(12), cũng không tìm thấy bằng

chứng cản trở cắn khớp là yếu tố gây RLTDH(1)

Kết quả của nghiên cứu này khác với kết quả của

các nghiên cứu nói trên vì mẫu nghiên cứu của

chúng tôi là hồ sơ bệnh án của những bệnh nhân

đã được chẩn đoán là RLTDH Chúng tôi còn ghi

nhận thông tin về mất nâng đỡ phía sau của

khớp cắn, kết quả cho thấy 33 người có mất nâng

đỡ phía sau chiếm tỷ lệ 6,12% Theo nghiên cứu

của Tallents(17), có mối liên quan giữa sự mất

răng sau hàm dưới với sự dời đĩa khớp, theo

nghiên cứu của Wang(21), những người mất răng sau có tỷ lệ % RLTDH cao hơn, ở đây, chúng tôi cũng thấy có mối liên quan có ý nghĩa với tình trạng RLTDH ở các triệu chứng khó khăn khi

thực hiện chức năng (p=0,002)

Bảng 2 Mối liên quan giữa cản trở cắn khớp và dấu

hiệu, triệu chứng RLTDH

Triệu chứng &

dấu hiệu RLTDH

Cản trở cắn khớp

p

Có Không

n % n %

Tiếng kêu khớp 297 66,29 62 68,13 ns

Phép kiểm định Chi- Bình phương, ns: p>0,05

Thói quen xấu

Kết quả nghiên cứu cho thấy các thói quen xấu chiếm tỷ lệ khá cao: nhai một bên (63,27%), nghiến răng (46,38%) Theo Oral(13), nghiến răng được coi là yếu tố khởi đầu hay duy trì RLTDH, là yếu tố nguy cơ gây ra những triệu chứng và dấu hiệu của đau miệng mặt, đau khớp TDH, cơ hàm Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, thực tế có một số bệnh nhân không nhận biết được họ có thói quen xấu như: không biết mình có siết chặt răng, không biết mình có nghiến răng khi ngủ… nên thông tin ghi nhận từ việc hỏi bệnh nhân có thể chưa chính xác Vì vậy, chúng tôi không tìm mối liên quan giữa thói quen xấu và tình trạng RLTDH Chúng tôi hy vọng có thêm một số nghiên cứu về vấn đề này trong tương lai

Tình hình điều trị RLTDH tại khoa

Các phương pháp điều trị

Các phương pháp điều trị RLTDH được áp dụng tại Khoa rất đa dạng và được thực hiện phù hợp trên mỗi bệnh nhân Trong đó, máng nhai và mài chỉnh khớp cắn là hai phương pháp được áp dụng nhiều nhất Bên cạnh đó,

Trang 6

tại Khoa cũng kết hợp sử dụng những phương

pháp khác như: nội khoa - kê toa thuốc giảm

đau, giãn cơ, kháng viêm…; vật lý trị liệu –

chườm nóng, tập vận động hàm, tập loại bỏ

các thói quen xấu, nhai đều hai bên và phối

hợp điều trị nhổ răng, phục hình, chỉnh

hình Mặc dù chưa có chứng cớ chứng minh

cản trở cắn khớp là nguyên nhân gây

RLTDH(1), cũng như việc mài điều chỉnh khớp

cắn chưa phải là một phương pháp có hiệu

quả cao(7) Nhưng theo Dawson(1), việc mài

chỉnh khớp cắn là một trong những phương

pháp điều trị rất hiệu quả, giúp giảm đau,

giảm mỏi và giảm các triệu chứng RLTDH

Đây cũng là một trong hai phương pháp điều

trị được áp dụng tại Khoa cao và chúng tôi

cũng nhận thấy sự cải thiện tình trạng RLTDH

trên những bệnh nhân được điều trị bằng

phương pháp này Điều trị nội khoa có thể kết

hợp với điều trị vật lý trị liệu để tăng hiệu quả

trong điều trị RLTDH Các phương pháp vật

lý trị liệu được áp dụng tại Khoa như: chườm

nóng (sử dụng hơi nóng ẩm), tập vận động

hàm, loại bỏ các thói quen xấu, giúp bệnh

nhân nhai đều hai bên….Xu hướng điều trị

RLTDH hiện nay trên thế giới là hướng tới

điều trị về thái độ và hành vi của bệnh nhân

với các liệu pháp như liệu pháp tâm lý, liệu

pháp phản hồi sinh học, liệu pháp nhận thức –

hành vi, tập vận động hàm… Đây là những

phương pháp điều trị đơn giản và chi phí thấp

nhưng có hiệu quả lâu dài và bệnh nhân có thể

tự chăm sóc(4,14)

Theo dõi tái khám và đánh giá hiệu quả

điều trị

Về việc tái khám

Theo kết quả cho thấy: trong số các bệnh

nhân đến Khoa điều trị RLTDH thì có 47,12%

bệnh nhân không tái khám, 52,88% bệnh nhân

tái khám sau 1 tuần, và 3,9% bệnh nhân tái khám

sau 1 tháng hay 2 tháng

Về hiệu quả điều trị

Khảo sát các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành

công lâu dài và tương tự nhau giữa các loại điều trị không xâm lấn (vật lý trị liệu, máng nhai, liệu pháp nhận thức hành vi ) và điều trị xâm lấn (mài điều chỉnh khớp cắn, phục hình, chỉnh hình, phẫu thuật)(3), cũng như giữa các phương pháp điều trị(10, 15) Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đánh giá về hiệu quả điều trị nói chung

mà không đánh giá về hiệu quả của từng phương pháp Trong 78 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân khi tái khám có ghi nhận sự thay đổi tình trạng RLTDH, cụ thể có 100% bệnh nhân được điều trị đã giảm các triệu chứng và dấu hiệu của RLTDH Trong đó, có 62,82% giảm đau, 32,05% giảm mỏi, 15,38% giảm tiếng kêu khớp và 19,23% tăng biên độ vận động hàm cũng như là giảm các dấu hiệu và triệu chứng khác của RLTDH Phần lớn hồ sơ bệnh án chỉ ghi nhận công việc điều trị trong buổi tái khám mà thiếu sót việc ghi nhận sự thay đổi các dấu hiệu và triệu chứng RLTDH trên bệnh nhân sau điều trị Chúng tôi đề nghị khi tái khám, cần thiết ghi nhận đầy đủ về tình hình bệnh nhân ngay tại thời điểm đó

KẾT LUẬN

Khảo sát tình hình điều trị RLTDH trên 539

hồ sơ bệnh án của bệnh nhân đến khám và điều trị RLTDH tại Khoa Răng Hàm Mặt – ĐH Y Dược Tp.HCM từ năm 2008 – 2010, chúng tôi rút

ra một số nhận xét sau: Về dịch tễ học: tỷ lệ nữ: nam là 2:1 ; tập trung bệnh nhân RLTDH cao nhất ở nhóm tuổi 18-24 và 25-44 ; lượng bệnh nhân RLTDH chủ yếu là tại Tp.HCM, có khoảng 25,97% bệnh nhân đến từ tỉnh, trong đó có nhiều bệnh nhân đến từ những tỉnh ở khá xa như: Cà Mau, Bình Định Về lý do đến khám: nhiều nhất

là đau, tiếp theo là mỏi, nghiến răng, tiếng kêu khớp Về biểu hiện của RLTDH: dấu hiệu và triệu chứng: theo thứ tự thường gặp là tiếng kêu khớp (66,6%), đau (57,7%), kẹt hàm (35,81%) Trong đó, đau: đau khớp khi vận động nhiều hơn đau khớp khi sờ nắn, đau 1 bên khớp nhiều hơn đau 2 bên khớp, đau cơ khi sờ nắn với đau

cơ cắn chiếm tỉ lệ cao nhất; về tiếng kêu khớp:

Trang 7

kêu khớp 2 bên, tiếng kêu lục cục là chủ yếu

(62,52%) so với tiếng kêu lạo xạo (4,54%) Tương

quan có ý nghĩa giữa các yếu tố sau đây đã được

phát hiện (p<0,05): về tình trạng RLTDH với giới

tính ; giữa cản trở cắn khớp với đau khớp và đau

đầu ; giữa mất nâng đỡ phía sau với triệu chứng

khó khăn khi thực hiện chức năng Tình hình

điều trị RLTDH : máng nhai và mài chỉnh khớp

cắn là hai phương pháp được áp dụng nhiều

nhất trong điều trị RLTDH tại Khoa Răng Hàm

Mặt Có 47,12% bệnh nhân không tái khám,

52,88% bệnh nhân tái khám sau 1 tuần, ít bệnh

nhân tái khám từ 1 tháng trở lên Trong 78 hồ sơ

bệnh án của bệnh nhân có tái khám và có ghi

nhận hiệu quả của điều trị thì có 100% bệnh

nhân điều trị có hiệu quả (62,82% giảm đau,

32,05% giảm mỏi, 19,23% tăng biên độ vận động,

15,38% giảm tiếng kêu khớp)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Design Mosby Elsevier

hàm ở người lớn (từ 18 đến 54 tuổi) tại thành phố Hồ Chí

Minh Luận văn thạc sỹ y học - ĐH Y Dược Tp.HCM

Cập Nhật Nha Khoa - Đại học Y Dược Tp.HCM, 17: 48-54

of biobehavioral treatment of temporomandibular disorders J

Behav Med, 24(4): 341-359

(2004) Malocclusions and clinical signs or subjective

symptoms of temporomandibular disorders (TMD) in adults

Results of the population-based Study of Health in Pomerania

(SHIP) J Orofac Orthop, 65(2): 88-103

among French-speaking Canadians in Quebec and related

symptoms of temporomandibular disorders J Dent Res,

74(11): 1738-1744

and preventing temporomandibular joint disorders J Oral

Rehabil, 31(4): 287-292

disorders: implications for the investigation of etiologic factors Crit Rev Oral Biol Med, 8(3): 291-305

Stomatol Chir Maxillofac, 98(1): 37-42

review of the effectiveness of physical therapy interventions for temporomandibular disorders Phys Ther, 86(5): 710-725

tình trạng Rối loạn thái dương hàm ở trẻ vị thành niên (từ 12 đến 14 tuổi) (Nghiên cứu tại trường PTCS Bàn Cờ, Quận 3, Tp.HCM) Tạp chí Y học thực hành, 793: 134-141

disturbances in the masticatory In: Okeson JP Management

130-204, Mosby

temporomandibular disorder pain Agri, 21(3): 89-94

Propositions for a cognitive behavioural approach to bruxism management J Stomat Occ Med (online first)

Treatment of patients with temporomandibular disorders- a retrospective treatment comparison J Stomat Occ Med, 2:

59-64

temporomandibular disorders: a plea for a low-tech, high-prudence therapeutic approach J Orofac Pain, 13(4): 255-261

ME (2002) Prevalence of missing posterior teeth and intraarticular temporomandibular disorders J Prosthet Dent, 87(1): 45-50

temporomandibular dysfunction and its association with malocclusion in children and adolescents: an epidemiologic study related to specified stages of dental development Angle Orthod, 72(2): 146-154

điều trị hội chứng đau loạn năng bộ máy nhai Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ CKI, Nội trú khóa VIII (1988- 1991), Khoa RHM,

ĐH Y Dược Tp.HCM

Rối loạn thái dương hàm tại một mẫu dân số ở thành phố Hồ Chí Minh Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học răng

hàm mặt- ĐH Y Dược Tp.HCM, 37-42

Missing posterior teeth and risk of temporomandibular disorders J Dent Res, 88(10): 942-945

Ngày đăng: 20/01/2020, 09:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w