1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả kỹ thuật giảm đau bằng phong bế khoang cạnh sống điều trị chấn thương ngực kín có gãy nhiều xương sườn

6 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 541,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá hiệu quả của kỹ thuật giảm đau bằng phong bế khoang cạnh sống điều trị chấn thương ngực kín có gãy nhiều xương sườn. Bài viết nghiên cứu mô tả cắt ngang ở 32 bệnh nhân chấn thương ngực kín, có gãy nhiều sườn được thực hiện kỹ thuật bơm liên tục marcain qua catheter vào khoang cạnh sống ngực tại Khoa Phẫu thuật lồng ngực - tim mạch, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 12 - 2013 đến 10 - 2014.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT GIẢM ĐAU BẰNG PHONG BẾ KHOANG CẠNH SỐNG ĐIỀU TRỊ

CHẤN THƯƠNG NGỰC KÍN CÓ GÃY NHIỀU XƯƠNG SƯỜN

Nguyễn Trường Giang*; Nguyễn Văn Nam*

Nguyễn Ngọc Trung*; Lê Việt Anh*

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá hiệu quả của kỹ thuật giảm đau bằng phong bế khoang cạnh sống điều trị

chấn thương ngực kín (CTNK) có gãy nhiều xương sườn Đối tượng và phương pháp: nghiên

cứu mô tả cắt ngang ở 32 bệnh nhân (BN) CTNK, có gãy nhiều sườn được thực hiện kỹ thuật

bơm liên tục marcain qua catheter vào khoang cạnh sống ngực tại Khoa Phẫu thuật Lồng ngực

- Tim mạch, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 12 - 2013 đến 10 - 2014 Kết quả: tuổi trung bình

49, nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông Số lượng xương sườn gãy nhiều nhất từ 3 - 5

(75%) Tổn thương hay gặp nhất là tràn máu khoang màng phổi (46,9%) Vị trí đặt catheter chủ

yếu là D5 (62,5%) Hiệu quả giảm đau thể hiện rõ rệt khi đánh giá theo thang điểm VAS (4,31 ±

0,53 điểm khi nghỉ, 5,21 ± 0,6 điểm khi ho sau bơm thuốc 30 phút và 3,31 ± 0,47 khi nghỉ, 4,31

± 0,47 điểm sau bơm thuốc 3 giờ) Kỹ thuật không có tai biến, biến chứng Kết luận: kỹ thuật

giảm đau cạnh sống là phương pháp giảm đau an toàn, có hiệu quả

* Từ khóa: Chấn thương ngực kín; Phong bế khoang cạnh sống

Evaluation of Eficacy of Paravertebral Block Analgesia in Closed

Chest Trauma Patients with Multi-Rib Fracture

Summary

Objectives: To evaluate the results of paravertebral block analgesia in closed chest trauma

patients with multi-rib fracture Materials and methods: Cross-sectional descriptive study on

32 cases of paravertebral block analgesia in closed chest trauma with multi-rib fracture at 103

Hospital from 12 - 2013 to 10 - 2014 Results: Mean age was 49, the most of reason were traffic

accidents and falls The number of rib fractures at most from 3 to 5 ribs (75%) The most

common injury were pneumothorax (46.9%) The position of catheter was D5 (62.5%) The

analgesic effects depended the VAS score (4.31 ± 0.53 at rest and 5.21 ± 0.6 during coughing

of 30 minutes after the initial injection; 3.31 ± 0.47 at rest and 4.31 ± 0.47 during coughing of

3 hours after the initial injection) There were not accidents and complications Conclusion: The paravertebral block analgesia is a safe and effective method with low accidents and

complications

* Key words: Closed chest trauma; Paravertebral block analgesia

* Bệnh viện Quân y 103

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Văn Nam (namb12@yahoo.com.vn)

Ngày nhận bài: 17/12/2014; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 22/01/2015

Ngày bài báo được đăng: 26/01/2015

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau là nguyên nhân của các rối loạn

sinh lý trong hầu hết BN bị CTNK Mức độ

đau tăng lên khi có tổn thương gãy nhiều

xương sườn, làm cho BN không thể thở

sâu, ho khạc dẫn đến tăng tiết và ùn tắc

đờm dãi, làm giảm thông khí phổi, kích

thích có thể gây di lệch ổ gãy xương

sườn thứ phát, ảnh hưởng đến kết quả

điều trị Do vậy, giảm đau hiệu quả là một

vấn đề cơ bản trong điều trị CTNK

Có nhiều phương pháp giảm đau trong

điều trị CTNK: giảm đau trong màng phổi

(Interpleural analgesia), phong bế thần

kinh liên sườn (Intercostal nerve block),

tê ngoài bao cứng (Epidural analgesia),

phong bế khoang cạnh sống ngực

(Paravertebral block analgesia) và giảm

đau toàn thân bằng chế phẩm opioid

(Systemic opioids) Mỗi một phương pháp

đều có ưu và nhược điểm

Giảm đau bằng phong bế khoang cạnh

sống ngực được Eason và Wyatt [5] sử

dụng lần đầu tiên vào năm 1979 trong

điều trị chấn thương ngực có gãy nhiều

sườn, sau đó, một số tác giả trên thế giới

nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật này và

đánh giá đây là phương pháp giảm đau lý

tưởng với BN chấn thương ngực Đây là

kỹ thuật an toàn, dễ thực hiện, duy trì

giảm đau hiệu quả trong thời gian dài

Tuy nhiên, kỹ thuật này ở Việt Nam còn ít

được áp dụng và chưa được nghiên cứu,

đánh giá một cách có hệ thống

Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài

này nhằm mục đích: Đánh giá hiệu quả

giảm đau của kỹ thuật phong bế khoang

cạnh sống điều trị CTNK có gãy nhiều

xương sườn

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

32 BN CTNK, gãy ≥ 3 xương sườn, điều trị tại Khoa Phẫu thuật Lồng ngực - Tim mạch, Bệnh viện Quân y 103 từ tháng 12 - 2013 đến 10 - 2014

Tất cả BN không có chấn thương sọ não kết hợp, được xử lý các tổn thương kết hợp khác, huyết động ổn định, không

có thông khí nhân tạo và không có chống chỉ định dùng thuốc gây tê

2 Phương pháp nghiên cứu

* Chuẩn bị:

- Giải thích cho BN biết về kỹ thuật và các bước tiến hành

- Tư thế BN: ngồi có đỡ ở trước ngực hoặc nằm nghiêng về bên lành

- Đặt đường truyền tĩnh mạch, theo dõi điện tim, SpO2, mạch, huyết áp

- Dụng cụ: bộ kim Perifix, săng gạc vô trùng, bơm tiêm điện, thuốc tê

* Quy trình thủ thuật:

Sử dụng kỹ thuật giảm sức cản đột ngột

- Vị trí chọc kim: dưới 2 đốt sống so với xương sườn gãy cao nhất, hoặc giữa xương sườn gãy cao nhất và thấp nhất, cách gai sau đốt sống 2 - 2,5 cm

- Gây tê tại vị trí chọc kim

- Chọc kim Perifix vuông góc với mặt

da, đưa kim cho đến khi chạm mỏm ngang đốt sống

- Tháo nòng kim, lắp bơm tiêm khí, sau

đó chuyển nhẹ hướng kim trườn qua bờ

Trang 3

trên của mỏm ngang đốt sống cho đến khi

thấy giảm đột ngột lực cản khí trong bơm

tiêm Khi đó chứng tỏ kim đã đi qua dây

chằng liên mỏm ngang vào khoang cạnh

sống

- Đưa catheter qua kim Perifix vào khoang

cạnh sống, chiều dài catheter nằm trong

khoang khoảng 2 - 3 cm Cố định catheter

bằng opsite Kiểm tra bằng hút từ catheter

cảm giác lực âm tính là được

- Chuyển BN sang tư thế nằm ngửa

- Bơm thuốc:

+ Bơm chậm trong 3 phút marcain 0,25%

liều 0,5 - 1 mg/kg Theo dõi mạch, huyết

áp mỗi 5 phút trong 30 phút sau tiêm

+ Thiết lập liệu trình bơm liên tục marcain

0,125% liều 0,1 ml/kg/giờ

+ Liều bơm thuốc có thể tăng thêm

1 - 2 ml/giờ mỗi lần đánh giá, với liều tối

đa 0,2 ml/kg/giờ nếu đánh giá điểm VAS

> 4 khi BN ho hoặc BN cần giảm đau hơn

Có thể tăng thêm 3 - 4 ml marcain 0,125%

* Đánh giá hiệu quả giảm đau:

- Đánh giá mức độ đau theo thang

điểm VAS (Visual Analog Scale)

- Đánh giá và so sánh mức độ đau tại

các thời điểm:

+ To: trước đặt catheter

+ T2: sau đặt và bơm thuốc 3 giờ

- Đánh giá sự cải thiện chức năng tuần

hoàn, hô hấp: mạch, huyết áp; chức năng

hô hấp: tần số thở, SpO2, FVC, FEV1,

Tiffneau

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

1 Đặc điểm nhóm BN

- Phân bố tuổi: từ 30 - 83 tuổi, tuổi trung bình 49,34 ± 10,08, lứa tuổi hay gặp nhất từ 40 - 60 Nguyễn Trung Thành [3]

thực hiện kỹ thuật này cho BN CTNK có tuổi cao nhất 90

- Phân bố giới: nam 26 BN (81,3%), nữ

6 BN (18,7%), tỷ lệ nam/nữ 26/6

- Nguyên nhân: đa số là do tai nạn giao thông (56,3%)

Bảng 1: Đặc điểm tổn thương xương

sườn và khoang màng phổi

Số xương sườn gãy

Khoang màng phổi

Tràn máu khoang

Tràn khí khoang

Tràn máu + tràn khí

- Tổn thương khoang màng phổi chủ yếu là tràn máu khoang màng phổi (46,9%)

và tràn máu, tràn khí khoang màng phổi (43,7%)

Số lượng xương sườn gãy càng nhiều, mức độ đau càng nặng và cần phải giảm đau tốt Chúng tôi không chỉ định kỹ thuật cho BN CTNK có gãy < 3 xương sườn,

vì mức độ đau đớn nhẹ, có thể giảm đau bằng các thuốc giảm đau toàn thân theo đường uống và tiêm thông thường Chỉ định này của chúng tôi phù hợp với một

số tác giả khác [3, 5, 9]

Trang 4

Như vậy, kỹ thuật phong bế khoang

cạnh sống để giảm đau là kỹ thuật có thể

áp dụng trong tất cả trường hợp CTNK ở

mọi lứa tuổi, cả hai giới, khi có gãy ≥ 3

xương sườn và điểm đau VAS ≥ 6

2 Vị trí chọc kim và đặt catheter

D3: 1 BN (3,1%): D4: 1 BN (3,1%); D5:

20 BN (62,5%); D6: 7 BN (21,8%); D7: 1

BN (3,1%): D8: 2 BN (6,4%)

Chúng tôi xác định vị trí đặt catheter

theo đúng quy trình kỹ thuật, vị trí D5

chiếm tỷ lệ cao nhất (62,5%) và đặt thành

công catheter vào khoang cạnh sống ở

100% trường hợp Nguyễn Trung Thành

[3] gặp nhiều tại vị trí từ D4, D5 và D6,

1 trường hợp thất bại không đặt được catheter

Việc đặt catheter theo đúng quy trình

kỹ thuật, liên quan đến vị trí xương sườn gãy Ở vị trí này, khi bơm thuốc qua catheter sẽ đạt hiệu quả tối ưu để phong

bế các dây thần kinh liên sườn đi qua khoang cạnh sống đến chi phối cảm giác tại các ổ gãy xương Do vậy, vị trí đặt

catheter có liên quan đến hiệu quả giảm

đau Chúng tôi không gặp trường hợp nào thất bại không đặt được catheter vào khoang cạnh sống vì luôn tuân thủ chặt chẽ đúng quy trình kỹ thuật

3 Hiệu quả giảm đau cạnh sống

Bảng 2:

Chức năng

hô hấp

Mạch, huyết áp, tần số thở ổn định dần theo thời gian sau bơm thuốc

tôi phù hợp với Nguyễn Trung Thành [3] Theo Karmakar [9], chức năng hô hấp cải thiện sau khi thực hiện kỹ thuật: tần số thở giảm có ý nghĩa với p < 0,0001 và tăng

hoàn là hai rối loạn sinh lý bệnh hay gặp nhất trong CTNK, đau do gãy xương sườn là yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến hai rối loạn trên Do vậy, khi được giảm đau hiệu quả, các rối loạn trên sẽ giảm dần

Trang 5

Như vậy, hiệu quả giảm đau đã giúp cải

thiện chức năng tuần hoàn và hô hấp cho BN

CTNK có gãy nhiều xương sườn, làm cho quá

trình phục hồi nhanh hơn

- Điểm VAS khi nghỉ và khi ho đều giảm dần

theo thời gian sau bơm thuốc

Kết quả của chúng tôi cho thấy hiệu quả

giảm đau được thể hiện rõ rệt ngay sau khi

tiến hành làm thủ thuật và tại các thời điểm

nghiên cứu Hầu hết các chỉ tiêu nghiên cứu

đều thay đổi Điểm VAS khi nghỉ và khi ho

trước khi tiến hành thủ thuật (To) là 6,87 ±

1,03 và 7,68 ± 0,64, nhưng giảm ngay sau khi

± 0,6 khi ho, càng giảm dần tại các thời

điểm nghiên cứu sau đó Kết quả này cũng

tương tự nghiên cứu của Davies R.G [4] và

Nguyễn Trung Thành [3] Tuy nhiên, theo Fibla

J.J [6], điểm VAS thấp nhất ở thời điểm ngay

sau khi làm kỹ thuật, tức là giảm đau tức thì

ngay sau khi bơm thuốc Mặc dù thời điểm BN

cảm thấy mức độ đau giảm được các tác giả

công bố khác nhau, nhưng đều có điểm

chung là điểm VAS đều giảm sau 30 được

phong bế thuốc tê

Như vậy, kỹ thuật phong bế khoang cạnh

sống có hiệu quả giảm đau tức thì ngay sau

khi bơm thuốc hoặc sau bơm 30 phút, mức độ

đau được giảm dần theo thời gian do liều duy

trì của thuốc

4 Tai biến và biến chứng

Tai biến của kỹ thuật được một số tác giả

ghi nhận Lonnqvist nghiên cứu trên 367 BN

và gặp các tai biến như tụt huyết

áp (4,6%), chọc vào mạch máu (3,8%), chọc vào khoang màng phổi (1,1%) và tràn khí màng phổi (0,5%) Một số tác giả chọc kim

và tiêm thuốc vào khoang ngoài bao cứng hoặc thuốc lan sang ngoài bao cứng khi tiêm

số lượng lớn (> 25 ml) [2, 6, 9]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không gặp trường hợp nào bị tai biến hay biến chứng Mặc dù số lượng BN còn ít, nhưng nếu tuân thủ chặt chẽ đúng quy trình kỹ thuật

sẽ hạn chế tối đa các tai biến có thể gặp, điều này có thể khẳng định đây là một kỹ thuật an

toàn

KẾT LUẬN

Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật giảm đau bằng phong bế khoang cạnh sống ngực điều trị CTNK có gãy nhiều xương sườn, chúng tôi rút ra một số kết luận:

Giảm đau bằng phong bế khoang cạnh sống ngực có thể chỉ định trong điều trị CTNK

có gãy nhiều xương sườn Sử dụng kỹ thuật giảm sức cản đột ngột với bộ kim Perifix, vị trí

Hiệu quả giảm đau rõ rệt (điểm VAS ngay sau khi làm thủ thuật: 4,31 ± 0,53 khi nghỉ và 5,21

± 0,6 khi ho, tương ứng sau bơm thuốc

3 giờ là 3,31 ± 0,47 và 4,31 ± 0,47), cải thiện được chức năng tuần hoàn,

hô hấp (mạch, huyết áp, tần số thở đều ổn định dần, FVC, FEV1, Tiffneau tăng lên theo thời gian) Giảm đau bằng phong bế khoang cạnh sống ngực là phương pháp an toàn, dễ thực hiện

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Trung Thành Giảm

đau bằng tê cạnh sống trong phẫu thuật ung thư

vú Tạp chí Y học thực hành 2011, 5 (3)

2 Nguyễn Hồng Thủy, Nguyễn Quốc Anh, Đánh

giá tác dụng giảm đau của gây tê cạnh cột sống

ngực bằng hỗn hợp lidocain và fentanyl trên BN

can thiệp gan mật Tạp chí Thông tin Y dược

2012

3 Nguyễn Trung Thành, Huỳnh Vĩnh Phúc và

CS, Đánh giá hiệu quả tê cạnh cột sống trong

giảm đau sau mổ lồng ngực và chấn thương ngực

gãy nhiều xương sườn Tạp chí Y học Thành phố

Hồ Chí Minh 2009, số 6.

4 Davies R.G, Myles P.S, Graham J.M A

comparison of analgesic efficacy and side-effects

of paravertebral epidural blockade for thoracotomy

a systematic review and meta-

analysis of randomized trials British J of Anesthesia 2006, 96 (4), pp.418-426

5 Eason MJ, Wyatt R Paravertebral thoracic

block: a reappraisal Anesthesia 1979, 34, pp.638-642

6 Fibla J.J, Molins L, Mier J.M et al The

efficacy of paravertebral block using a catheter technique for posoperative analgesia in thoracoscopic surgery: a randomized trial European J of Cardio Thoracic Surgery 2011, 40, pp.907-911

7 Gulbahar G, Kocer B, Muratli S.N et al A

comparision of epidual and paravertebral catheterisation techniques in pos-thoracotomy pain

management European J of Cardio Thoracic Surgery 2010, 37, pp.467-472

8 Jankovic V.N Up date on thoracic

paravertebral blocks Coll Antropol 2011, 35 (2),

pp.595-598

Ngày đăng: 20/01/2020, 09:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w