Trong nghiên cứu này, các tác giả đối chiếu hình ảnh tế bào học qua phương pháp áp tế bào của 167 trường hợp sinh thiết niêm mạc đường tiêu hóa (103 trường hợp từ đường tiêu hóa trên và 64 trường hợp từ đường tiêu hóa dưới) với chẩn đoán giải phẫu bệnh. Trong các trường hợp này có 89 trường hợp cho kết quả tế bào học lành tính, 75 trường hợp cho kết quả ác tính, 3 trường hợp chẩn đáng nghi ngờ.
Trang 1ĐỐI CHIẾU HÌNH THÁI TẾ BÀO HỌC VÀ GIẢI PHẪU BỆNH
CÁC MẨU SINH THIẾT ỐNG TIÊU HÓA QUA NỘI SOI
Hứa Thị Ngọc Hà * , Nguyễn Sào Trung*, Nguyễn Thúy Oanh**, Lê Minh Huy*
TÓM TẮT
Phương pháp áp tế bào là một phương pháp đơn giản, ít tốn kém, dễ sử dụng, đáng tin cậy ngày càng được dùng phổ biến trong việc chẩn đoán tức thì các tổn thương đường tiêu hóa Trong nghiên cứu này, các tác giả đối chiếu hình ảnh tế bào học qua phương pháp áp tế bào của 167 trường hợp sinh thiết niêm mạc đường tiêu hóa (103 trường hợp từ đường tiêu hóa trên và 64 trường hợp từ đường tiêu hóa dưới) với chẩn đoán giải phẫu bệnh Trong các trường hợp này có 89 trường hợp cho kết quả tế bào học lành tính, 75 trường hợp cho kết quả ác tính, 3 trường hợp chẩn đoáng nghi ngờ Aùp tế bào có 5 trường hợp dương tính giả (tất cả đều từ dạ dày), 12 trường hợp âm tính giả (1 từ thực quản, 5 từ dạ dày, 6 từ đại tràng) Kết quả cho thấy độ nhạy của phương pháp là 85,3%, độ đặc hiệu 93,5%, độ chính xác 89,3%, giá trị tiên đoán dương 93,3%, giá trị tiên đoán âm 85,8% Đối chiếu với giải phẫu bệnh cho thấy phương pháp áp tế bào có thể được áp dụng cho các tổn thương đường tiêu hóa cho kết quả nhanh chóng và chính xác.
SUMMARY
A CORRELATIVE STUDY OF IMPRINT CYTOLOGY AND HISTOLOGY
IN THE DIAGNOSIS OF GASTROINTESTINAL TRACT LESIONS
Hua Thi Ngoc Ha, Nguyen Sao Trung, Nguyen Thuy Oanh, Le Minh Huy
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 141 – 146
Imprint cytology is an very simple, inexpensive, easy, reliable, increasing popular method for the evaluation of lesions of gastrointestinal tract Endoscopic mucosal biopsies from 167 patients (103 from upper gastrointestinal tract and 64 from lower gastrointestinal tract) were studied to correlate the diagnostic efficacy of histology and imprint cytology in the diagnosis of lesions of gastrointestinal tract Of these 89 from benign lesions and 75 from malignant lesions, 3 from not sure malignant lesions Imprint was false positive in 5 cases (all of stomach) and false negative in 12 cases (1 oesophagus, 5 stomach, 6 colon) The sensitivity, specificity, accuracy, positive predictive value, negative predictive value and overall diagnostic accuracy for cytology irrespective of the site was 85.3%, 93.5%, 89.3%, 93.3%, 85.8% respectively To compare imprint cytology with histopathology regarding diagnostic accuracies and quickness in the diagnosis of lesions of gastrointestinal tract
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tế bào học (TBH) là một phương pháp chẩn đoán
ung thư với độ tin cậy và độ đặc hiệu cao( , , , ) 5 6 9 14 So với
giải phẫu bệnh, phương pháp tế bào học cho kết quả
nhanh hơn và ít tốn kém hơn Theo y văn thế giới, tế
bào học dịch cơ thể: màng phổi, màng bụng, màng
tim, não tủy đã được nghiên cứu từ lâu và được vào
sách kinh điển Trong 2 thập kỷ gần đây chẩn đoán tế
bào qua phương pháp chọc hút bằng kim nhỏ đã được
áp dụng đối với các bệnh lý tuyến giáp, tuyến vú, tuyến nước bọt, hạch limphô( , , , , ) 9 14 15 24 28 Tế bào học dịch rửa và chải phế quản cũng đã áp dụng trong chẩn đoán ung thư phế quản Tế bào học bệnh lý đường tiêu hóa chưa được nghiên cứu nhiều, nhất là
ở TP Hồ Chí Minh
Trong y văn các mẫu khảo sát tế bào học ở đường tiêu hóa được lấy từ dịch rửa dạ dày, chải trên tổn thương, chọc hút tế bào bằng kim nhỏ xuyên niêm mạc dưới hướng dẫn của nội soi siêu
* Bộ môn Giải phẫu bệnh - Đại học Y Dược TP HCM
Trang 2âm( , , , , , , , , )1 2 4 15 17 18 23 25 27 Phương pháp này cho phép khảo
sát được mô nằm sâu dưới niêm mạc, trong thành
ống tiêu hóa mà các phương pháp khác không lấy
được( ) 15 Các nghiên cứu khác dùng kỹ thuật áp tế
bào trên mẫu sinh thiết, kỹ thuật này rẻ tiền, cho kết
quả nhanh và không làm hư mẩu mô xét nghiệm giải
phẫu bệnh( , , , ) 5 6 16 31
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định hình thái tế bào của các bệnh ở đường
tiêu hóa: thực quản, dạ dày, đại tràng
Đối chiếu hình ảnh tế bào học với hình ảnh giải
phẫu bệnh,
Xác định độ đặc hiệu, độ nhạy cảm, độ chính xác,
giá trị tiên đoán âm, giá trị tiên đoán dương của
phương pháp
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng
167 mẫu sinh thiết được lấy từ thực quản, dạ dày,
đại tràng của các bệnh nhân được nội soi tại Bệnh
viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh và TT Y Khoa
MEDIC
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Các mẫu sinh thiết thực quản, dạ dày, đại tràng
qua nội soi được áp tế bào ngay sau khi lấy ra khỏi
bệnh nhân Cố định ngay trong alcol 95o
Khảo sát các đặc điểm tế bào học trên tiêu bản
nhuộm Papanicolaou
Đối chiếu kết quả chẩn đoán TBH với kết quả giải
phẫu bệnh (GPB)
Đánh giá phết đạt hay không: Phết tế bào được
đánh giá là đạt khi có hiện diện các đám tế bào biểu
mô tuyến Các phết không đạt sẽ được lọai khỏi lô
nghiên cứu
KẾT QUẢ
Chẩn đoán TBH
Bảng 1: Phân loại bệnh đường tiêu hóa theo TBH
Thực quản 5
Lành tính
Thực quản 8
Ác tính (75 ca)
Thực quản
Nghi ngờ ác tính (3 ca)
TỔNG 167
Đặc điểm giải phẫu bệnh - vi thể
Bảng 2: Phân loại bệnh theo giải phẫu bệnh
Thực quản 4
Lành tính ( 80 ca)
Thực quản 9
Ác tính (83 ca)
Thực quản 0
Nghịch sản (4 ca)
TỔNG 167
Đối chiếu chẩn đoán TBH - GPB
Bảng 3 Đối chiếu giữa chẩn đoán TBH và GPB
Giải phẫu bệnh Lành
tính Aùc tính
Nghịch sản Tổng
Tỷ lệ phù hợp giữa phương pháp áp tế bào và sinh thiết là 85,6%; Tỷ lệ âm giả: 7,5%; tỷ lệ dương giả: 3,1%
Độ tin cậy của phương pháp áp tế bào
Bảng 4 Các chỉ số đánh giá hiệu quả của phương
pháp Aùp tế bào
Trang 3Bảng 5: Giá trị của phương pháp áp tế bào
BÀN LUẬN
Tế bào học thực quản
Bình thường
Ở các mẫu áp tế bào thực quản thường thấy được
những mảng tế bào và các tế bào rời của lớp tế bào
gai bề mặt hay trung gian Lớp tế bào gai cận đáy
cũng có thể khi thấy được trên mẫu áp tế bào khi
niêm mạc thực quản bị loét Các tế bào tuyến ở niêm
mạc dạ dày thường thấy khi lấy mẫu ở đoạn thực
quản thấp gần chỗ nối thực quản - dạ dày Ta còn có
thể thấy các tế bào cơ trơn có hình thoi dài với nhân
thon tù đầu(, , , , , , , , , ) 10 11 14 16 18 21 24 28 29
Tế bào biến đổi do viêm
Trên mẫu áp tế bào thấy các tế bào rời và những
mảng tế bào gai phản ứng với hình ảnh “đàn cá” Cả
tế bào gai phản ứng và thoái hóa đều thấy trên nền
nhiều loại tế bào viêm với bạch cầu đa nhân trung
tính chiếm ưu thế Các tế bào gai phản ứng có nhân
lớn nhưng tỉ lệ nhân/bào tương vẫn không đổi, màng
nhân đều, chất nhiễm sắc phân bố đều, có thể có hạt
nhân rõ Các tế bào gai thoái hóa có bào tương lam
nhạt và không bào hóa Các tế bào có thể xếp rời rạc,
dị dạng như trong ác tính, nhưng vẫn giữ tỉ lệ nhân/
bào tương bình thường với màng nhân đều Đây là
đặc điểm quan trọng giúp phân biệt tế bào phản ứng
với tế bào ung thư( , , , , ) 14 16 18 21 24
Tế bào biến đổi do xạ
Sau xạ trị bệnh lý ác tính ở thực quản hay ở vùng
ngực, tế bào có thể có những biến đổi Dùng phương
pháp tế bào học sẽ giúp xác định các tổn thương do
xạ và không phải là ung thư tái phát Các tế bào biến
đổi do xạ thường có kích thước lớn, bào tương có hai
màu xanh, hồng, có không bào, có bạch cầu đa nhân
trong bào tương, viền tế bào không đều Có nhiều
nhân, nhân rất lớn, có chất nhiễm sắc thô, dơ Tuy
nhiên, tỉ lệ nhân/bào tương vẫn còn bình thường( , , , , ) 14 16 18 21 24.
Nghịch sản
Nghịch sản nhẹ khó xác định trên mẫu tế bào Đối với nghịch sản nặng, trên mẫu tế bào hiện diện những đám tế bào tuyến nhỏ, ít kết dính, các tế bào xếp chồng chất nhau Các đám tế bào này có bờ không đều Thỉnh thoảng cũng thấy các tế bào rời Các tế bào có nhân lớn, tăng sắc, dị dạng, tỉ lệ nhân/bào tương tăng, màng nhân không đều Các tế bào này có hạt nhân rõ Nên lưu ý đặc điểm tế bào học nghịch sản nặng vì khó phân biệt với carcinôm tuyến biệt hóa rõ( , , , , ) 14 16 18 21 24
Tổn thương ác tính
Tế bào gai ác tính
Hiện diện các đám tế bào xếp thành nhóm liên kết lỏng lẻo và nhiều tế bào riêng lẻ, tế bào đa dạng, đủ mọi kích cỡ, đôi khi có hình ảnh nhân quái dị, có thể thấy các tế bào “nòng nọc” Lọai biệt hóa cao có thể thấy hình ảnh cầu sừng, có vòng sáng quanh nhân, màng tế bào rõ Lọai biệt hóa kém có nhân rất tăng sắc, đa dạng, chất nhiễm sắc thô, vón cục và hạt nhân to, rõ( , , , , , ) 5 6 21 24 27 28
Tế bào tuyến ác tính
Mẫu áp giàu tế bào, tế bào tuyến ác tính xếp thành đám lỏng lẻo hoặc riêng lẻ gồm các tế bào hình trụ hoặc hình vuông với bào tương có không bào sáng Có thể thấy các tế bào nhẫn với bào tương chứa chất nhầy Tỷ lệ nhân/bào tương tăng, nhân to, tăng sắc và có màng nhân không đều, hạt nhân rõ Phân bào cũng thường gặp( , , , , , , , , , , , ) 4 5 6 16 17 18 20 21 22 24 28 30
Tế bào học dạ dày
Bình thường
Mẫu áp tế bào hiện diện những tế bào tuyến chế nhầy của niêm mạc dạ dày vùng tâm vị, thân vị, hang
vị Các tế bào tuyến sắp xếp thành những mảng dạng tổ ong 2 chiều hoặc thành những dải tế bào trụ chế nhầy Thỉnh thoảng cũng có thể thấy các tế bào rời Các tế bào tuyến có nhân nhỏ, nằm lệch về phía đáy, bào tương dạng tuyến, có không bào hay dạng ren (lace-like) Nhân có chất nhiễm sắc mịn, phân bố
Trang 4đều, có thể có hạt nhân nhỏ Ngòai ra còn có thể thấy
được các tế bào thành và các tế bào chính Các tế bào
chính có hình đa diện và có các hạt men bắt màu
kiềm Nhân nhỏ, tròn, màng nhân đều đặn Tế bào
thành có hình tháp, bào tương nhiều, có hạt, bắt màu
axít Trên mẫu còn thấy các tế bào cơ trơn có hình
thoi dài với nhân thon tù đầu( , , , , , ) 14 16 18 21 24 28
Viêm dạ dày
Trên mẫu áp hiện diện các mảng tế bào tuyến
hai chiều, hơi kết cụm, và các tế bào rời Các mảng tế
bào này vẫn còn phân cực rõ với hình ảnh “đàn cá’
Các tế bào này có nhân lớn, nhưng tỉ lệ nhân/ bào
tương vẫn còn bình thường, màng nhân đều, có thể
thấy hạt nhân rõ Các tế bào này nằm trên nền nhiều
bạch cầu đa nhân trung tính và các limphô bào
Ngoài ra còn có thể thấy các tế bào thoái hóa và xác tế
bào( , , , , ) 14 16 18 21 24
Carcinôm tuyến
Mật độ tế bào trên mẫu rất giàu, các tế bào rất dị
dạng, xếp rời rạc hoặc kết thành các đám nhỏ Đó là
các tế bào trụ hay hình hộp có độ dị dạng cao, tỉ lệ
nhân/ bào tương cao Bào tương đa sắc, có không bào
và có thể chứa chất nhầy Nhân tăng sắc, màng nhân
không đều, hạt nhân rõ, thường có phân bào Các tế
bào này có thể xuất hiện trên nền viêm nặng và
những thay đổi đi kèm trong viêm dạ dày, trường hợp
này cần chẩn đoán phân biệt với viêm dạ dày Các
trường hợp carcinoma biệt hóa rõ các tế bào xếp
thành những đám không gian ba chiều không kết
dính, mất phân cực và các tế bào rời Trong
carcinoma tuyến biệt hóa kém hay carcinoma lan tỏa
loại tế bào nhẫn mật độ tế bào thay đổi và có nhiều tế
bào rời dạng tế bào nhẫn Các tế bào ác tính có bào
tương không bào hóa dạng bọt bào và nhân tăng sắc,
bị đẩy lệch ra ngoại vi tế bào Các tế bào này khá
giống với các đại thực bào nên thường nhầm
lẫn(, , , , ,, )14 16 18 21 24
Tế bào học đại tràng
Trên mẫu áp tế bào của đại tràng có thể thấy các
tế bào tuyến xếp dạng mảng hình tổ ong, nhân tròn,
nằm ở rìa tế bào, màng nhân đều và một hạt nhân
không rõ Ngoài ra, cũng có thể thấy các tế bào cơ
trơn( , , , , , , )14 16 18 21 24 26 28 Các tế bào tuyến có hình trụ hoặc tế bào đài xếp dạng tổ ong Nhân tế bào nằm ở ngọai vi, có hình tròn, màng nhân đều và hạt nhân không rõ
Viêm lóet đại tràng
Các tổn thương do viêm lóet thường có nhiều bạch cầu đa nhân trung tính, limphô bào, mô bào kèm nhiều tế bào sợi của mô liên kết Hình ảnh trên mẫu áp tế bào tương tự như trong viêm dạ dày( , , , , ) 14 16 18 21 24
Nghịch sản của dạ dày và đại tràng
Hình ảnh tế bào của nghịch sản của dạ dày và đại tràng giống nhau Những thay đổi nghịch sản này có thể thấy ở một polyp (tuyến ống hay tuyến nhánh), u tuyến phẳng, hay trên một tình trạng viêm loét đại tràng mạn tính
Hình ảnh tế bào học trong nghịch sản nặng gồm các đám tế bào tuyến hình trụ hay hình hộp, mất kết dính Các đám tế bào này có nhân xếp chồng chất và mất phân cực Thỉnh thoảng có thể thấy các tế bào rời Các tế bào có chất nhiễm sắc thô, tăng sắc, màng nhân thay đổi, hạt nhân rõ, thường thấy phân bào Sự hiện diện của các tế bào thoái hóa trên nền viêm cho thấy nghịch sản xảy ra trên nền viêm loét đại tràng mạn tính( , , , , ) 14 16 18 21 24
Carcinôm tuyến đại tràng
Trên mẫu hiện diện các đám tế bào nhỏ, mất phân cực Các tế bào trụ hay cao, dị dạng nhiều Ngoài ra, các đặc điểm ác tính khác của tế bào cũng thường thấy ở các tế bào này Các nhân xếp tầng và hiên diện trên nền hoại tử
Ở carcinôm tuyến nhầy, tế bào học có hình ảnh các đám nhỏ tế bào ác tính nằm trong hồ chất nhầy( , , , , ) 14 16 18 21 24
Tổn thương nghi ngờ
Các tế bào xếp thành đám, nhân chồng chất, mất phân cực Nhân tế bào tăng sắc, màng nhân không đều, chất nhiễm sắc thô, hạt nhân rõ( , , , , ) 14 16 18 21 24
Các trường hợp chẩn đoán TBH lành tính
Qua kết quả thu được khi đối chiếu chẩn đoán
Trang 5TBH và GPB, áp tế bào đạt độ chính xác đến 89,3%,
đây là một xét nghiệm đơn giản , nhanh chóng, có độ
chính xác khá cao Tuy nhiên, có nhiều loại tổn
thương ác tính cũng có thể cho hình ảnh tế bào học
dễ nhầm lẫn với tổn thương lành tính, và điều này
dẫn đến âm tính giả trong chẩn đoán, tỉ lệ là 7,5%
(12/160)
Các trường hợp chẩn đoán TBH ác tính
Đối chiếu kết quả TBH và GPB, áp tế bào đạt có tỉ
lệ dương giả là 3,0% Qua nghiên cứu này, ta có thể
mạnh dạn áp dụng phương pháp này vào thực tế để
áp dụng cho các trường hợp cần kết quả nhanh trước
hoặc trong lúc mổ Có thể phối hợp với sinh thiết tức
thì để giúp cho phẫu thuật viên có hướng điều trị
thích hợp nhất, trong thời gian
Các trường hợp chẩn đoán TBH nghi ngờ
Trong các trường hợp này, phương pháp áp tế
bào không thể khẳng định chẩn đoán cụ thể mà chỉ
dừng ở việc “chẩn đoán nghi ngờ” Vì ở các tổn
thương này chỉ thấy tế bào biến đổi không điển hình
như trong viêm, nghịch sản Mặc dù không cho
chẩn đoán cụ thể, chính xác trong các trường hợp
này nhưng áp tế bào cũng cho ta một sự cảnh giác
cần thiết với các tổn thương phải theo dõi sát
Phân tích các trường hợp không phù hợp
Các trường hợp không phù hợp giữa chẩn đoán tế
bào học và giải phẫu bệnh trong nghiên cứu này có
17 trường hợp
Bản chất tổn thương là lý do chủ yếu gây khó
khăn cho việc chẩn đoán về TBH, GPB Vì trên tiêu
bản tế bào học chỉ thấy hình ảnh tế bào là chủ yếu,
ít khi khảo sát trọn vẹn cấu trúc Nhiều loại tổn
thương có hình thái tế bào rất giống nhau, nhất là
các tế bào biến đổi do viêm và nghịch sản, hay
giữa nghịch sản nặng với carcinôm biệt hóa rõ,
carcinôm giai đọan sớm
Hiệu quả của phương pháp áp tế bào
Tỉ lệ âm giả của nghiên cứu này còn khá cao dẫn
đến độ nhạy cảm của nghiên cứu còn thấp 85,3% do
chúng tôi quá thận trọng khi chẩn đóan ác tính trên
tiêu bản tế bào học vì các tổn thương ác tính thường có tính chất tế bào có thể rất phân biệt với vài trường hợp lành tính hoặc do một số tổn thưong cần phải khảo sát được cấu trúc mô học Các nguyên nhân khác một phần là do kỹ thuật lấy mẫu, một phần do chủ quan của người đọc kết quả Điều này phần nào dẫn đến tính chính xác của phương pháp áp tế bào giảm đi
Đối chiếu kết quả tế bào học với kết quả sinh thiết, chúng tôi ghi nhận có 5 ca tế bào học ác tính, nhưng GPB lành tính, chúng tôi xếp 5 ca này vào nhóm dương giả (chiếm tỷ lệ 3%) Tuy nhiên tỷ lệ này có thể thấp hơn, vì trên tiêu bản tế bào học các trường hợp này đều có đầy đủ tiêu chuẩn tế bào ác tính, có thể âm tính trên kết quả GPB nội soi là âm tính giả( )19, do trong quá trình cắt mỏng có thể cắt chưa tới mặt cắt có tế bào ung thư, hoặc đã gọt lấy đi hết vùng có tế bào ung thư Kết hợp hai phương pháp TBH và GPB sẽ nâng cao hiệu quả chẩn đoán
So sánh với các tác giả khác
Bảng 6: So sánh kết quả với các tác giả khác
Tác giả Độ nhạy cảm Độ đặc hiệu Độ chính xác
Sharma 98,5% 97% 98%
Phương pháp áp tế bào có độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác tương đối cao, do đó có thể sử dụng trong trường hợp bệnh nhân cần có kết quả nhanh để các nhà lâm sàng có cơ sở quyết định cách điều trị sớm
Phương pháp này cho biết những thông tin sớm nhất về tổn thương với sai lầm thấp Vì thế, áp tế bào giúp cho các bác sĩ phẫu thuật sắp xếp được chương trình điều trị sớm cho bệnh nhân gần hơn một tuần
so với chỉ chờ kết quả mô bệnh học Hiện nay, việc áp dụng TBH tức thì đối với các tổn thương đường tiêu hóa là phương pháp đầu tay, có xu hướng phát triển rộng rãi vì có thể cho chẩn đoán nhanh chóng nhiều loại tổn thương khác nhau
KẾT LUẬN
Áp tế bào là một phương pháp đơn giản, dễ sử dụng, có thể sử dụng chung với giải phẫu bệnh để
Trang 6góp phần chẩn đoán
Tỷ lệ phù hợp giữa TBH và GPB là 85,6% Độ
nhạy cảm, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán
dương, giá trị tiên đoán âm lần lượt là: 85,3%; 93,5â%;
89,3%; 93,3%; 85,8%
Có thể áp dụng phương pháp áp dụng phương pháp
áp tế bào thường quy để tăng tính chính xác trong chẩn
đoán bệnh lý đường tiêu hóa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bardales RH, Stanley MW, Simpson DD, et al:
Diagnostic value of brush cytology in the diagnosis of
duodenal, biliary, and ampullary neoplasms Am J
Clin Pathol 1998; 109:540–548
2 Bendig DW: Diagnosis of giardiasis in infants and
children by endoscopic brush cytology J Pediatr
Gastroenterol Nutr 1989; 8:204–206
3 Boggino HE, Fernandez MP, Logrono R: Cytomorphology
of gastrointestinal stromal tumor: Diagnostic role of
aspiration cytology, core biopsy, and immunochemistry
Diagn Cytopathol 2000; 23:156–160
4 Chhieng D, , et al: Endoscopic ultrasound-guided
fine-needle aspiration: A study of 103 cases Cancer 2002;
96:232–239
5 Cubukcu A, Gonullu NN, Ercin C, Alponat A, Kaur AC,
Canturk Z, Paksoy N (2000) Imprint cytology in the
diagnosis of Helicobacter pylori Does imprinting
damage the biopsy specimen? Acta Cytol Mar-Apr; 44
(2): 124-7
6 Cubukcu A, Gonullu NN, Kacar SO, Alponat A, Paksoy
N (2002): Imprint cytology in the endoscopic
diagnosis of gastrointestinal malignancies
Hepatogastroenterology 2002 Jan-Feb;49(43):198-200
7 Cusso X, Mones J, Ocana J, et al: Is endoscopic gastric
cytology worthwhile? An evaluation of 903 cases of
carcinoma J Clin Gastroenterol 1993; 16:336–339
8 Debol SM, Stanley MW, Mallery JS: Can fine needle
aspiration cytology adequately diagnose and predict
the behavior of gastrointestinal stromal tumors? Adv
Anat Pathol 2001; 8:93–97
9 DeMay R.M (1996): Salivary Glands Trong: DeMay
R.M., The Art & Science of Cytopathology, p657-697,
ASCP Press, Chicago
10 Falk GW, Chittajallu R, Goldblum JR, et al:
Surveillance of patients with Barrett’s esophagus for
dysplasia and cancer with balloon cytology
Gastroenterology 1997; 112:1787–1797
11 Falk GW, Ours TM, Richter JE: Practice patterns for
surveillance of Barrett’s esophagus in the United
States Gastrointest Endosc 2000; 52:197–203
12 Farouk R, Edwards J, Thorne M, et al: Brush cytology
for the diagnosis of rectal carcinoma Br J Surg 1996;
83:1456–1458
13 Garza Guajardo R, Barboza Quintana O, Perez Padilla
P: Negative images due to MAI infection detected in
Papanicolaou-stained duodenal brushing cytology
Diagn Cytopathol 1998;19:462–464
14 Geisinger K.R: Alimentary tract In Bibbo M: Comprehensive cytopathology, 2 nd ed, Saunders, 1997,
p 413- 444
15 Geisinger KR, Stanley MW, Raab SS, Silverman JF, Abati A (2004): Modern cytopathology Chapter 18: Gastrointestinal system Churchill Livingstone 2004
16 Geisinger KR, Teot LA, Richter JE: A comparative cytopathologic and histologic study of atypia, dysplasia, and adenocarcinoma in Barrett’s esophagus Cancer 1992; 69:8–16
17 Geisinger KR, Wang HH, Ducatman BS, Teot LA: Gastrointestinal cytology Clin Lab Med 1991; 11: 403–441
18 Geisinger KR: Endoscopic biopsies and cytologic brushings of the esophagus are diagnostically complementary Am J Clin Pathol 1995; 103:295–299
19 Gupta SK, Saran RK, Vaiphei K, Bhasin D, Kochhar
R, Raiwanshi A, Nijihawan R: Endoscopic GI cytology: scope and limitation www.acta-cytol.com/Abs/IAC/IAC75.htm
20 Halpern M, Gal R, Rath-Wolfson L, et al: Brush cytology and biopsy in the diagnosis of colorectal cancer: A comparison Acta Cytol 1997; 41:628–632
21 Henning N, Witte S: Atlas of gastrointestinal cytodiagnosis, 2 nd ed, Stuttgart, 1970
22 Hustin J, Lagneaux G, Donnay M: Cytologic patterns
of reparative processes, true dysplasia and carcinoma
of the gastric mucosa Acta Cytol 1994; 38:730–736
23 Jhala D, Chhieng D, El Oubeidi M, et al: Accuracy of preliminary diagnosis of malignancy on endoscopic ultrasound guided fine needle aspiration biopsy: A report of 120 cases Acta Cytol 2001;
24 Jhala N, Jhala Darshana: gastrointestinal tract cytopathology In: Atkinson BF., Atlas of diagnostic cytopathology Saunders, 2004: 199-230
25 Kochhar R, Rajwanshi A, Malik AK, et al: Endoscopic fine needle aspiration biopsy of gastroesophageal malignancies Gastrointest Endosc 1988; 34:321–323
26 Li SQ, O’Leary TJ, Sobin LH, et al: Analysis of KIT
mutation and protein expression in fine needle aspirates of gastrointestinal stromal/smooth muscle tumors Acta Cytol 2000; 44:981–986
27 Lin BP, Harmata PA: Gastric and esophageal brush cytology Pathology 1983; 15:393–397
28 Nochomovitz L, Siawy M, Silverberg S, Jannotta F, Schwartz A: Gastrointestinal tract in Introperative consultation, 1 st ed, Ascp, 1989, p 58-75
29 O’Donoghue JM, Horgan PG, O’Donohoe MK, et al: Adjunctive endoscopic brush cytology in the detection
of upper gastrointestinal malignancy Acta Cytol 1995; 39:28–34
30 Petrelli NJ, Letourneau R, Weber T, et al: Accuracy of biopsy and cytology for the preoperative diagnosis of colorectal adenocarcinoma J Surg Oncol 1999; 71:46–49
31 Sharma P, Misra V, Singh PA, Misra SP, Gupta SC A correlative study of histology and imprint cytology in the diagnosis of gastrointestinal tract malignancies Indian J Pathol Microbiol 1997 Apr; 40(2): 139-46
Trang 7Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005