1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tăng cholesterol máu nặng có tính chất gia đình: Nhân 3 trường hợp mắc bệnh động mạch vành sớm

6 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 3,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phương cách điều trị bệnh nhân tăng cholesterol máu có tính gia đình kèm bệnh động mạch vành. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ba bệnh nhân tăng cholesterol máu có tính gia đình đều có bệnh cảnh lâm sàng và những đặc điểm cận lâm sàng rất điển hình.

Trang 1

TĂNG CHOLESTEROL MÁU NẶNG CÓ TÍNH CHẤT GIA ĐÌNH:   NHÂN 3 TRƯỜNG HỢP MẮC BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH SỚM 

Bùi Thế Dũng*, Trần Hòa**, Võ Mỹ Phượng**, Trương Quang Bình** 

TÓM TẮT 

Mục  tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phương cách điều trị bệnh nhân tăng cholesterol 

máu có tính gia đình (Familial hypercholesterolemia – FH) kèm bệnh động mạch vành.  

Phương pháp: Báo cáo loạt trường hợp. 

Kết quả:. Từ tháng 4–2007 đến tháng 2–2013, có ba bệnh nhân FH nhập bệnh viện Đại học Y Dược. Ba 

bệnh nhân đều nhập viện với bệnh cảnh nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh lên. Tất cả đều là nữ giới, trẻ tuổi  (tuổi  trung  bình  32,6  tuổi),  100%  bệnh  nhân  có  nhiều  u  vàng  và  lipoprotein  tỷ  trọng  thấp  (LDL‐C)  trong  huyết thanh tăng rất cao (lần lượt là 568 mg/dL, 433 mg/dL và 300 mg/dL). Cả ba BN đều bị hẹp 3 nhánh  động mạch vành. Sau khi được điều trị nội khoa tối ưu và tái tưới máu động mạch vành thành công, ba bệnh  nhân đều ổn định về lâm sàng và có LDL‐C huyết thanh giảm khoảng 50% so với giá trị ban đầu. 

Kết luận: Ba bệnh nhân FH đều có bệnh cảnh lâm sàng và những đặc điểm cận lâm sàng rất điển hình: trẻ, 

nhiều u vàng, LDL‐C tăng cao, bệnh động mạch sớm và trầm trọng, đáp ứng tốt với điều trị bằng thuốc giảm  cholesterol và can thiệp tái tưới máu động mạch vành.  

Từ khóa: Tăng cholesterol máu gia đình, bệnh mạch vành. 

ABSTRACT 

FAMILIAL HYPERCHOLESTEROLEMIA AND EARLY CORONARY ARTERY DISEASE:  

3 CASE REPORTS 

Bui The Dung, Tran Hoa, Vo My Phuong, Truong Quang Binh 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 215 ‐ 220 

Objectives:  Study  on  the  characteristics  of  clinical,  subclinical  manifestations  and  treatment  strategy  of 

patients with familial hypercholesterolemia (FH) and coronary artery disease  

 Methods:  Case series study   

Results : From April 2007 to February 2013, three patients with FH were admitted to Medical University 

Center  All of them were diagnosed as acute non ST elevation myocardial infarction at admission. Three patients  were young females  (mean age: 32.6 years of age), 100% of them had xanthomas and extremely high serum  low  density lipoprotein ‐ cholesterol  (LDL‐C) levels  (568 mg/dL, 433 mg/dL and 300 mg/dL respectively). They had  three‐vessel disease on coronary angiography. All three patients until now are stable clinically and their serum  LDL  levels  decrease  approximately  50%  comparing  to  theirs  before  due  to  optimal  medical  treatment  and  reperfusion therapy.   

Conclusions: Three our FH patients had clinical and subclinical characteristics typically with  xanthomas,  high serum LDL levels, and severe coronary artery disease early. They have had good outcomes with cholesterol‐ lowering agents and coronary reperfusion therapy  

Key words: Familial hypercholesterolemia,  coronary artery disease. 

 

* Khoa Tim mạch – BV ĐHYD TP HCM; (**) Bộ môn Nội – ĐHYD TP.HCM

Tác giả liên lạc: BS. Bùi Thế Dũng  ĐT: 0902899000 Email: thedungbui@yahoo.com

Trang 2

Tăng  cholesterol  máu  gia  đình  (FH)  là  một 

rối loạn gen trội trên nhiễm sắc thể thường gây 

ra bởi đột biến gen thụ thể LDL‐C. Sự tăng cao 

cholesterol toàn phần và LDL‐C trong FH là do 

không  có  các  thụ  thể  LDL  (thể  đồng  hợp  tử) 

hoặc giảm số lượng các thụ thể LDL (thể dị hợp 

tử). Biểu hiện lâm sàng của FH là xuất hiện các u 

vàng  vùng  gân  và  bề  mặt  duỗi  của  các  khớp  ở 

tay,  chân  từ  khi  4  –  6  tuổi  ở  thể  đồng  hợp  tử 

hoặc tuổi trưởng thành ở thể dị hợp tử(4,5). Bệnh 

mạch vành (BMV) do xơ vữa có thể diễn ra sớm, 

từ 10 – 20 tuổi ở thể đồng hợp tử và 30 – 40 tuổi 

ở thể dị hợp tử và là nguyên nhân tử vong chính 

ở  những  bệnh  nhân  (BN)  FH.  Tuy  nhiên,  nếu 

được chẩn đoán sớm và điều trị thích hợp, nhiều 

BN  FH  đạt  được  việc  giảm  đáng  kể  nồng  độ 

LDL‐C, cải thiện triệu chứng bệnh mạch vành và 

có  thể  tăng  tuổi  thọ  của  họ  10  –  30  năm (3,5).  Vì 

những  lý  do  nêu  trên,  chúng  tôi  tiến  hành 

nghiên cứu với mục tiêu mô tả những đặc điểm 

lâm sàng, cận lâm sàng và kinh nghiệm điều trị 

những  bệnh  nhân  FH  kèm  bệnh  động  mạch 

vành tại bệnh viện của chúng tôi. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Chúng tôi báo cáo ba trường hợp bệnh nhân 

nữ trẻ tuổi (tuổi trung bình 32,6 tuổi) có u vàng  được  chẩn  đoán  FH  và  nhồi  máu  cơ  tim  cấp  không  ST  chênh  lên.  Các  bệnh  nhân  đã  được  điều  trị  nội  khoa  tối  ưu  và  tái  tưới  máu  động 

mạch  vành  tại  bệnh  viện  Đại  học  Y  Dược 

TP.HCM. 

KẾT QUẢ  Trường hợp lâm sàng 1 

BN  nữ  Huỳnh  Xuân  D.  37  tuổi  nhập  bệnh  viện  Đại  học  Y  Dược  (ĐHYD)  ngày  6‐4‐2007  vì  triệu  chứng  đau  ngực  nhiều  cơn  xuất  hiện  khi  nghỉ trong vòng 20 giờ trước đó. BN có tiền căn 

có u vàng vùng gối 2 chân từ năm 15 tuổi, được  chẩn đoán tăng cholesterol máu từ 3 năm qua và  đang  được  điều  trị  bằng  Questran  với  1  bác  sỹ  chuyên khoa da liễu. Ba người em trai cô ta cũng 

có  những  mảng  u  vàng  tương  tự  nhưng  chưa  được chẩn đoán và điều trị.  

Khám  lâm  sàng  cho  thấy  huyết  áp  120/80 

mmHg, nhịp tim 105 lần/phút, nhiều u vàng ở 

khớp gối hai bên và thân, kèm ban vàng ở mi 

mắt. ECG biểu hiện có ST chênh xuống ở DII, 

DIII,  avF  và  từ  V4  –  V6,  ST  chênh  lên  ở  aVR 

(hình  1).  Xét  nghiệm  máu  có  cholesterol  toàn 

phần  (total  CL)  =  645  mg/dL,  LDL‐C  =  568 

mg/dL. Nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh  lên được chẩn đoán sau khi men tim tăng liên  tục.  Sau  khi  điều  trị  ổn  định  ban  đầu  với  clopidogrel,  aspirin,  heparin,  nitrat,  ức  chế  β,  atorvastatin, bệnh nhân được chụp động mạch  (ĐM) vành cấp cứu. Kết quả: hẹp 50% lỗ xuất  phát  thân  chung  trái  (LM),  70%  LM  đoạn  xa, 

Trang 3

90%  lỗ  xuất  phát  động  mạch  liên  thất  trước 

(LAD),  90%  nhánh  mũ  (LCx)  đoạn  gần;  75% 

LCx đoạn xa; 90% ĐM vành phải (RCA) đoạn 

giữa.  BN  đã  được  phẫu  thuật  bắc  cầu  động 

mạch  vành  và  xuất  viện  sau  đó  hai  tuần  với 

toa  thuốc  aspirin  100  mg/ngày,  clipidogrel  75 

mg/ngày, perindopril 4 mg /ngày, atorvastatin 

80 mg /ngày. 

Trường hợp lâm sàng 2 

BN nữ Dương Nguyễn B.T. 26 tuổi có tiền sử 

u vàng ở chân từ năm 12 tuổi và có những cơn 

đau  ngực  khi  gắng  sức  trong  một  năm  trước. 

Ngày  01‐11‐2011  BN  nhập  bệnh  viện  ĐHYD  vì 

triệu  chứng  đau  ngực  kéo  dài  nhiều  giờ  trong 

ngày. Khám lâm sàng cho thấy huyết áp 110/70 

mmHg, nhịp tim 100 lần/ phút, nhiều u vàng ở  tay,  chân,  bụng  và  mông.  ECG  cho  thấy  ST  chênh lên ở avR và ST chênh xuống ở DII, DIII,  avF  và  từ  V4  –  V6.  Xét  nghiệm  máu  có  cholesterol  toàn  phần  478  mg/dL,  LDL‐C  =  433  mg/dL. Men tim tăng và đau ngực vẫn còn nên  được chỉ định chụp mạch vành cấp cứu với chẩn  đoán”nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh lên”.  Kết quả: Hẹp LM 90%, LAD đoạn gần 80%, tắc  RCA đoạn giữa (Hình 2). Siêu âm Doppler mạch  máu cho thấy có hẹp nặng 80% ĐM cảnh trong  phải. BN đã được đặt stent ĐM cảnh trong phải 

và phẫu thuật bắc cầu ĐM vành. Sau phẫu thuật 

10 ngày BN ổn định và ra viện với toa thuốc có  Atorvastatin 40mg/ ngày. 

Trường  hợp  lâm  sàng  3: BN  nữ  Chung 

Bội D. 35 tuổi nhập viện tại bệnh viện chúng tôi 

ngày  24‐02‐2013  vì  đau  ngực  nhiều  cơn  lan  xuống tay trái xuất hiện khi nghỉ. BN có tiền sử  nặng ngực âm ỉ không liên quan gắng sức trong 

Trang 4

1  năm  qua  và  đã  đi  khám  tại  nhiều  bệnh  viện 

với chẩn đoán rối loạn thần kinh tim và viêm dạ 

dày. Khám lâm sàng BN có sinh hiệu ổn định, có 

u vàng ở hai bàn tay và 2 gối. Xét nghiệm máu 

có  cholesterol  toàn  phần  388  mg/dL,  LDL‐C  = 

300  mg/dL.  BN  được  chỉ  định  chụp  ĐMV  cấp 

cứu với chẩn đoán”nhồi máu cơ tim cấp không 

ST chênh lên”dựa vào ECG và men tim. Kết quả: 

Tắc mạn tính LAD đoạn giữa và RCA đoạn gần,  hẹp 70% LCx đoạn gần (Hình 3). Do BN và thân  nhân từ chối phẫu thuật bắc cầu ĐM vành nên  chúng  tôi  đã  can  thiệp  đặt  stent  LAD  và  RCA  cho BN. Tình trang BN ổn định và được ra viện  sau  nhập  viện  7  ngày  với  toa  thuốc  có  Atorvastatin 40mg/ngày. 

Đặc điểm u vàng, cận lâm sàng và diễn tiến 

điều trị của ba BN được tóm tắt trong bảng 1 và 

bảng 2. 

Bảng 1: Đặc điểm BN lúc nhập viện 

Trang 5

BN Vị trí u vàng Total CL (mg/dL) LDL-C (mg/dL) HDL-C (mg/dL) TG (mg/dL) Tổn thương ĐMV

Bảng 2: Kết quả điều trị 

BN Số tháng điều trị Total CL (mg/dL) LDL-C (mg/dL) HDL-C (mg/dL) (mg/dL) TG Thuốc hàng ngày

BÀN LUẬN 

FH  là  một  trong  những  rối  loạn  di  truyền 

thường gặp nhất với tỷ lệ thể dị hợp tử chiếm 

1/500 dân số, dạng đồng hợp tử hiếm hơn với 

tỷ lệ 1/1.000.000 và không có sự khác biệt về tỷ 

lệ giữa nam và nữ. Trong thể FH đồng hợp tử, 

cholesterol huyết thanh tăng cao lúc sinh (3 – 4 

lần  mức  bình  thường),  nồng  độ  cholesterol 

trong huyết thanh vượt quá 600mg/dL và có thể 

đạt  đến  1200  mg  /dL,  u  vàng  phát  triển  trong 

thời thơ ấu với biến cố tim mạch đầu tiên xảy ra 

ở thời kỳ trẻ em hoặc tuổi vị thành niên. Trong 

các  thể  dị  hợp  tử,  cholesterol  huyết  thanh 

thường vượt quá 280 mg/dL ở trẻ em và trong 

khoảng  360  –  560  mg/dL  ở  người  lớn  và  BN 

không  có  triệu  chứng  trong  10  năm  đầu  tiên. 

Biểu hiện tích tụ cholesterol được gọi là u vàng 

(xanthoma) nhìn tại các dây chằng ở mặt duỗi 

của  bàn  tay  hoặc  đốt  ngón  tay,  gân  Achilles 

trước 20 tuổi. Một số cá nhân có thể biểu hiện 

tích tụ cholesterol trên giác mạc mắt mí mắt và 

thân. Nếu không điều trị BN FH thể dị hợp tử 

nguy  cơ  tử  vong  tăng  100  lần  do  BMV  trước 

tuổi  40(3,4,6).  Mabuchi  và  cộng  sự  báo  cáo  rằng 

trong dân số FH giới nam, hẹp ĐMV phát hiện 

bằng chụp động mạch vành xảy ra sớm ở tuổi 

17, và nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp có thể xảy 

ra ở khoảng 30 tuổi, tỷ lệ NMCT ở những bệnh 

nhân  được  chẩn  đoán  FH  là  37%(5).  Trong  khi 

đó ở giới nữ, BN FH sẽ có nguy cơ NMCT cấp 

xảy ra trước 40 tuổi cao gấp 125 lần(1). Do vậy, 

cần tầm soát và điều trị sớm FH để ngăn ngừa 

BMV (bảng 3 và 4). 

Bảng 3: Khuyến cáo tầm soát FH của Hội mỡ máu 

Quốc gia Mỹ (National Lipid Association – NLA) 

FH nên được nghĩ đến khi LDL-C ≥ 190 mg/dL (người ≥ 20

tuổi) hoặc ≥ 160 mg/dL (người < 20 tuổi)

Khả năng có FH cao hơn nếu BN có tiền sử gia đình bị tăng

cholesterol hoặc BMV sớm (nam <55 tuổi, nữ < 65 tuổi)

Nên nghi ngờ FH nếu BN có u vàng ở gân (thường là gân Achilles và gân duỗi ngón tay) ở bất kỳ lứa tuổi nào, hoặc u vàng da ở BN < 20 tuổi hoặc ở giác mạc mắt BN < 45 tuổi Khả năng là FH 80% nếu LDL-C ≥ 250 mg/dL ở BN ≥ 30 tuổi, ≥ 220 mg/dL ở BN 20 – 29 tuổi, hoặc ≥ 190 mg/dL ở

BN < 20 tuổi

Ba BN của chúng tôi đều là nữ trẻ tuổi (tuổi  trung  bình  32,6  tuổi),  xuất  hiện  u  vàng  sau  10  tuổi,  và  có  LDL‐C  trung  bình  là  433  mg/dL  (> 

250  mg/dL  theo  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  của  Hội 

mỡ  máu  Quốc  gia  Mỹ  (National  Lipid  Association ‐ NLA), khởi phát triệu chứng BMV  (đau ngực khi gắng sức diễn tiến đến NMCT cấp  không ST chênh lên) vào khoảng 30 tuổi nên có  nhiều khả năng là FH dị hợp tử. Tuổi mắc bệnh  BMV  cả  ba  BN  này  là  rất  sớm  so  với  nữ  giới  không  có  bệnh  FH  (sau  50  tuổi),  điều  này  phù  hợp với y văn như đã nêu trên. Điều đáng tiếc là  các BN trên đây đều không được chẩn đoán FH  sớm  và  không  được  điều  trị  hạ  cholesterol  tích  cực ngay từ đầu mà chỉ được điều trị với các bác 

sỹ chuyên khoa tim mạch khi đã có triệu chứng  BMV  rõ  ràng.  Kết  quả  chụp  ĐM  vành  qua  da  cho thấy tổn thương ĐM vành lan tỏa ba nhánh 

ở cả ba BN, tương tự với kết quả chụp ĐM vành 

ở 58 bệnh nhân FH bị NMCT của tác giả người  Nhật Mabuchi(5). 

Bảng 4: Tiêu chuẩn chẩn đoán có khả năng FH dị 

hợp tử dựa vào cholesterol toàn phần và LDL‐C (8) 

Tuổi Cholesterol toàn phần LDL-C

Trang 6

(mg/dL) (mg/dL)

Bên  cạnh  việc  phải  thay  đổi  lối  sống,  theo 

khuyến  cáo  của  NLA,  NCEP  ATP  III,  statins  là 

thuốc đầu tay để điều trị FH. Statins liều cao như 

atorvastatin  80  mg  hoặc  rosuvastatin  20  –  40 

mg/ngày có thể giảm LDL‐C hơn 50% so với trị số 

ban đầu ở dân số chung. Ezetimide, chất ức chế 

hấp thu cholesterol ở ruột non, kết hợp với statins 

có thể giảm LDL‐C 43 – 70% ở BN HF dị hợp tử 

và  khoảng  21%  ở  BN  HF  đồng  hợp  tử.  Đối  với 

những BN FH đáp ứng kém với thuốc (LDL‐C ≥ 

300  mg/dL  hoặc  ≥  160  mg/dL  kèm  BMV),  thẩm 

lọc LDL‐C kết hợp statin liều cao (atorvastatin 80 

mg/ngày) có thể làm giảm thêm đáng kể LDL‐C 

(khoảng 31%) và làm chậm tiến triển BMV. Phẫu 

thuật  nối  tắt  hồi  tràng  được  chứng  minh  làm 

giảm  LDL‐C  khoảng  40%  và  giảm  18%  tử  vong 

toàn bộ sau 25 năm theo dõi(2,4,). 

Ba BN trong nghiên cứu có tổn thương mạch 

vành 3 nhánh nên được chỉ định mổ bắc cầu ĐM 

vành.  Tuy  nhiên  có  một  trường  hợp  từ  chối 

phẫu thuật nên chúng tôi đã đặt stent ĐM vành 

cho  BN.  Bên  cạnh  các  điều  trị  chuẩn  BMV  như 

kháng kết tập tiểu cầu kép (clopidogrel, aspirin), 

chẹn  beta  giao  cảm,  các  BN  được  uống  statins 

liều cao (atorvastatin 80 mg hoặc rosuvastatin 20 

–  40  mg/ngày)  kết  hợp  với  ezetimide  10 

mg/ngày.  Kết  quả  cho  thấy  LDL‐C  giảm  rõ  rệt 

(trung  bình  giảm  khoảng  50%  so  với  mức  LDL 

ban đầu) khi BN được dùng kết hợp statins liều 

cao  và  ezetimide  so  với  khi  BN  chỉ  dùng 

atorvastatin 80 mg/ngày (do bệnh viện chúng tôi 

không  có  ezitimide  ở  thời  điểm  đó).  Điều  này 

cũng phù hợp với y văn. Theo dõi đến nay thì cả 

ba BN đều ổn định về lâm sàng với điều trị.  

KẾT LUẬN 

FH  là  một  trong  những  bệnh  lý  di  truyền  thường gặp nhất trên thế giới nhưng có thể điều trị  được. BN FH có nguy cơ rất cao mắc BMV sớm. Ba 

nữ bệnh nhân FH của chúng tôi đều có những đặc  điểm lâm sàng và cận lâm sàng rất điển hình: trẻ  tuổi,  nhiều  u  vàng,  LDL‐C  tăng  cao,  bệnh  động  mạch sớm trầm trọng xảy ra sớm, nhưng đã đáp  ứng  tốt  với  điều  trị  bằng  thuốc  giảm  cholesterol  (statins liều cao kết hợp ezetimide) và can thiệp tái 

tưới máu động mạch vành.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

 

Familial hypercholesterolemia and coronary heart disease: a  Human  genome  epidemiology  association  review.  Am  J  Epidemiol, 160 (5):421‐9. 

2 Grundy SM, et al (2004). Implications of Recent Clinical Trials  for  the  National  Cholesterol  Education  Program   Adult  Treatment Panel III Guidelines. Circulation, 110(2): 227‐239  

Early Coronary Artery Disease: A Case Report and Review of  the Literature. Turkiye Klinikleri J Med Sci, 26(3): 565‐568. 

Hypercholesterolemia  and  Coronary  Artery  Disease  Undergoing  Partial  Ileal  Bypass  Surgery.  Arq  Bras  Cardiol,  vol 75 (1): 49‐58. 

disease  in  familial  hypercholesterolemia.  Circulation,  79(2):  225‐232. 

Hypercholesterolemia:  Case  Series  and  Review  of  the  Literature. Case Reports in Transplantation, pp: 1‐5  

Hypercholesterolemia:  A  Review  of  the  Recommendations  from the National Lipid Association Expert Panel on Familial  Hypercholesterolemia.  Journal  of  Managed  Care  Pharmacy, 

19 (2): 139‐49. 

hypercholesterolemia  using  new  practical  criteria  validated 

by molecular genetics. Am J Cardiol, 72 (2): 171‐76. 

 

Ngày nhận bài báo:        01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   01/12/2013  Ngày bài báo được đăng:      05/01/2014 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 09:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w