1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả của sildenafil citrate (viagra) trong điều trị tăng áp phổi ở trẻ bị tim bẩm sinh shunt trái - phải tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

7 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 255,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm nhận xét hiệu quả làm giảm áp lực động mạch phổi của sildenafil citrate trong bệnh tim bẩm sinh có shunt trái – phải tại khoa tim mạch - bệnh viện Nhi Đồng 2, từ tháng 12/2008 đến tháng 09/2009. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

HIỆU QUẢ CỦA SILDENAFIL CITRATE (VIAGRA) TRONG ĐIỀU TRỊ TĂNG ÁP PHỔI Ở TRẺ BỊ TIM BẨM SINH SHUNT TRÁI – PHẢI

TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2

Nguyễn Trần Quỳnh Như*, Nguyễn Văn Đông*, Trịnh Hữu Tùng**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nhận xét hiệu quả làm giảm áp lực động mạch phổi của Sildenafil Citrate trong bệnh tim bẩm

sinh có shunt trái – phải tại khoa Tim mạch – bệnh viện Nhi Đồng 2, từ tháng 12/2008 đến tháng 09/2009

Phương pháp: Mô tả

Kết quả: Qua khảo sát 47 bệnh nhi được sử dụng Sildenafil Citrate (Viagra) liều 2mg/kg/ngày chia 3-4

lần/ngày theo dõi trong 6 tháng, chúng tôi nhận thấy: áp lực động mạch phổi tâm thu giảm 4,36 mmHg sau 1 tháng điều trị (p<0,05), 10,43 mmHg sau 3 tháng điều trị (p<0.05), 14,89 mmHg sau 6 tháng điều trị (p<0,05); giảm tần suất bị viêm phổi và thời gian nằm viện trung bình; các tác dụng phụ của thuốc: Hạ kali máu (15%) và tăng men transaminase (20%)

Kết luận: Áp lực động mạch phổi ở trẻ bị tim bẩm sinh có shunt trái-phải giảm khi sử dụng Sildenafil

Citrate, cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhi qua việc làm giảm tần suất bị viêm phổi

Từ khóa: Tim bẩm sinh có shunt trái-phải, sildenafil citrate, tăng áp động mạch phổi

ABSTRACT

THE EFFECT OF THE SILDENAFIL CITRATE IN TREATING PULMONARY ARTERIAL

HYPERTENSION IN CHILDREN WITH LEFT-TO-RIGHT SHUNT CONGENITAL HEART DISEASES

AT CARDIOLOGY DEPARTMENT, CHILDREN’S HOSPITAL 2

Nguyen Tran Quynh Nhu, Nguyen Van Dong, Trinh Huu Tung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 14 - Supplement of No 4 - 2010: 43 - 47

Obiectives: Describe the decrease in pulmonary arterial pressure of Viagra (sildenafil citrate) in congenital

heart diseases with left-to-right shunt at cardiology department, Children’s Hospital 2, from 12/2008 to 09/2009

Materials and Methods: Cross-sectional study

Results: Forty seven patients in our department met our criteria, using Viagra (sildenafil citrate) with the

dose of 2mg/kg divided 3-4 times/day, followed up to 6 months Diastolic pulmonary arterial pressure decreased 4.36 mmHg after one month (p<0.05), 10.43 mmHg after 3 months (p<0.05), 14.89 mmHg after 6 months (p<0.05) Decrease in frequency of pneumonia, in mean time of hospitalization duration Side-effects of sildenafil citrate: decreased in postasiumamia (15%) and increased in transaminase (20%)

Conclusions: In conclusion, sildenafil citrate helped to decrease the pulmonary arterial pressure in children

with left-to-right shunt congenital heart diseases, to improve the life quality by reducing the frequency of pneumonia

Key words: Sildenafil citrate, left to right shunt congenital heart disease, pulmonary arterial hypertension

* Khoa Tim mạch, Bệnh viện Nhi đồng 2, ** Phòng Kế hoạch tổng hợp, Bệnh viện Nhi đồng 2

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Trần Quỳnh Như, ĐT: 0918607292, Email: qnhu13@yahoo.com

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng áp phổi là tình trạng tăng áp lực tuần

hoàn phổi do nguyên nhân tại phổi hay ngoài phổi

Tăng áp phổi là một trong những biến chứng

nặng của bệnh tim bẩm sinh shunt trái – phải

Bệnh diễn tiến nặng dần, gây tổn thương mạch

máu phổi không hồi phục, suy tim phải trong

vòng 2- 3 năm nếu không được điều trị, sẽ dẫn

đến suy tim toàn bộ và tử vong

Tăng áp động mạch phổi xảy ra khi áp lực

động mạch phổi tâm thu > 30 mmHg, hoặc áp

lực động mạch phổi tâm trương > 25 mmHg khi

nghỉ ngơi hoặc > 30 mmHg khi vận động

Việc điều trị tăng áp phổi bao gồm: Oxy liệu

pháp; dùng các thuốc Dobutamine; lợi tiểu; ức

chế Calcium; ức chế men chuyển; các

Prostacycline; các thuốc ức chế thụ thể của

Endothelin; Nitric oxide; các thuốc ức chế men

phosphodiesterase type 5 (Sildenafil citrate);

hoặc ghép phổi

Thực tế tại Việt Nam hiện nay, không phải

tất cả các bệnh nhi mắc bệnh tim bẩm sinh đều

có điều kiện và có thể được phẫu thuật sữa

chữa dị tật ngay sau sinh Hậu quả của tăng

lưu lượng tuần hoàn lên phổi trong bệnh tim

bẩm sinh có shunt trái – phải sẽ dẫn đến tăng

áp phổi

Nitric oxide là liệu pháp giảm áp phổi rất tốt

trong điều trị cơn tăng áp phổi cấp tính ở trẻ sơ

sinh cũng như ở trẻ bị bệnh tim bẩm sinh có

shunt trái – phải Tuy nhiên với hoàn cảnh Việt

Nam hiện nay, giá thành sử dụng Nitric oxide

rất đắt, đồng thời muốn sử dụng Nitric oxide

phải có hệ thống máy thở cồng kềnh cũng như

hệ thống pha khí phức tạp mà không phải ở

bệnh viện nào cũng có thể ứng dụng được Cũng

như các thuốc Prostacycline, và ức chế thụ thể

Endothelin đã được FDA chấp nhận cho dùng

để điều trị tăng áp phổi và có hiệu quả rất tốt,

nhưng hiện tại trên thị trường thuốc Việt Nam

có giá cả rất đắt

Việc tìm ra một loại thuốc có khả năng làm

giảm áp phổi hiệu quả đáng kể, có giá rẻ và dễ

tìm sẽ cải thiện việc điều trị tăng áp phổi, cũng như giảm tỉ lệ tử vong cho trẻ bị tim bẩm sinh có shunt trái – phải có tăng áp phổi trong thời gian chờ đợi được phẫu thuật sữa chữa triệt để là yêu cầu bức thiết trong hoàn cảnh Việt Nam

Một trong số các thuốc dãn mạch hiện nay được xem như có hiệu quả cao trong điều trị tăng áp phổi đã được FDA công nhận và cho phép sử dụng, cũng như đã được nhiều nghiên cứu điều trị tăng áp phổi ở trẻ em trên các nước

chứng minh là có hiệu quả đó là Sildenafil

Vậy liệu Sildenafil có hiệu quả trong điều trị tăng áp động mạch phổi trên trẻ em có bệnh tim bẩm sinh có shunt trái – phải không?

Chúng tôi đã tiến hành thực hiện nghiên

cứu này nhằm khảo sát hiệu quả của Sildenafil

(Viagra) trong điều trị tăng áp phổi mức độ trung bình đến nặng ở bệnh nhi có bệnh tim bẩm sinh shunt trái-phải nhập tại Bệnh viện Nhi đồng 2 và Viện Tim TP.HCM từ tháng 12/2008 đến 9/2009 phối hợp với các thuốc điều trị cổ điển

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định mức độ giảm áp lực động mạch

phổi thì tâm thu khi dùng Sildenafil (Viagra)

trên bệnh nhi bị tăng áp động mạch phổi mức độ trung bình đến nặng do bệnh tim bẩm sinh có shunt trái-phải

Xác định tỉ lệ suy tim trong nhóm nghiên cứu

Xác định tỉ lệ nhập viện do viêm phổi và thời gian nằm viện của nhóm nghiên cứu trong thời

gian dùng Sildenafi

Xác định tỉ lệ bị thay đổi chức năng gan và

có rối loạn ion đồ máu của nhóm nghiên cứu

trong thời gian dùng Sildenafil

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Tiền cứu, mô tả hàng loạt ca

Dân số nghiên cứu

Tất cả BN bị tăng áp phổi thứ phát do bệnh tim bẩm sinh shunt trái – phải nhập khoa tim

Trang 3

mạch BV Nhi Đồng II và tại phòng khám của

Viện tim từ 12/2008 đến 9/2009

Phương pháp chọn mẫu

Lấy trọn

Tiêu chuẩn nhận vào

Những trường hợp trẻ bị tăng áp phổi thứ

phát do tim bẩm sinh shunt T – P, từ 2 tháng đến

3 tuổi, có tăng áp phổi thứ phát do tim bẩm sinh

shunt T – P theo tiêu chuẩn của Viện sức khỏe

Hoa Kỳ với áp lực động mạch phổi tâm thu lúc

nghĩ ≥ 50 mmHg

Tiêu chuẩn loại ra

Đang bị sốc tim, suy hô hấp nặng chưa cải

thiện (đang thở máy), tăng áp phổi giai đoạn

cuối (PVR/SVR > 0,7), có bệnh hô hấp mạn tính

(xơ hóa phổi, loạn sản phổi), hở van 3 lá hoặc

van động mạch phổi thực thể, trẻ < 2 tháng và >

3 tuổi, uống thuốc không đều, bỏ điều trị hoặc

bỏ tái khám

Phương pháp thực hiện

Các BN tham gia nghiên cứu được hỏi bệnh

sử, khám lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng và

được cho dùng Sildenafil citrate (Viagra) với liều

2mg/kg/ngày phối hợp với điều trị tăng áp phổi

cổ điển (ức chế men chuyển, lợi tiểu) Các thời

điểm khảo sát áp lực động mạch phổi tâm thu:

nhập viện, sau 1 tháng, sau 3 tháng, sau 6 tháng

Các biến số chính: áp lực động mạch phổi

tâm thu tại các thời điểm nhập viện (PAPs0), sau

1 tháng (PAPs1), 3 tháng (PAPs3), 6 tháng

(PAPs6) dùng Sildenafil citrate

Xử lý và phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm EPI DATA 3.1 để nhập

số liệu và STATA 10.0 để phân tích

KẾT QUẢ

Đặc điểm dân số nghiên cứu:

Đặ c ñ i ể m

Tu ổ i (tháng) 21±19

Gi ớ i: nam/n ữ 0,88

Đị a ch ỉ : TPHCM/T ỉ nh 1.24

Đặ c ñ i ể m

T ỉ l ệ suy tim 57%

T ỉ l ệ s ử d ụ ng digoxin 36%

T ỉ l ệ có bi ể u hi ệ n cao áp ph ổ i trên X-Quang 74%

T ỉ l ệ có bi ể u hi ệ n cao áp ph ổ i trên ECG 55%

T ỉ l ệ có s ử d ụ ng l ợ i ti ể u 85%

T ỉ l ệ có s ử d ụ ng ứ c ch ế men chuy ể n 83%

Nhận xét: Tuổi trung bình của nhóm nghiên

cứu là 21 tháng, trong đó có 57% các trường hợp

có suy tim, có 74% các trường hợp có biểu hiện dấu hiệu cao áp phổi trên X quang phổi, 55% biểu hiện dấu hiệu cao áp phổi trên ECG, nhưng chỉ có 36% có sử dụng Digoxin, có 85% có sử dụng thuốc lợi tiểu và 83% có sử dụng ức chế men chuyển

Hiệu quả làm giảm áp lực động mạch phổi

Gi ả m áp

l ự c Đ MP

Sau 1 tháng dùng Sidenafil

Sau 3 tháng dùng Sidenafil

Sau 6 tháng dùng Sidenafil

S ố ca 25 35 39

T ỉ l ệ 53,19% 74,46% 82,97%

M ứ c gi ả m trung bình

4,36 mmHg 10,43 mmHg 14,89 mmHg

Nhận xét: Chúng tôi nhận thấy việc sử dụng

Sildenafil liều 2mg/kg/ngày chia 3-4 lần ở trẻ bị tim bẩm sinh có shunt trái-phải có cao áp ĐM phổi mức độ trung bình đến nặng sau 1 tháng có 53% các trường hợp giảm áp lực động mạch phổi và làm giảm được áp lực ĐMP tâm thu là 4,36mmHg; sau 3 tháng có 74,46% các trường hợp và giảm được 10,43mmHg; và sau 6 tháng

có 82,97% các trường hợp và giảm được là

14,89mmHg

Tác dụng không mong muốn xảy ra trong quá trình điều trị

Chúng tôi nhận thấy sau 6 tháng sử dụng Sildenafil có 20% các trường hợp làm tăng SGOT

và SGPT lên gấp hai lần giá trị bình thường và 15% các trường hợp làm tăng K+/máu nhưng

không trầm trọng

Tỉ lệ viêm phổi và thời gian nằm viện trung bình do biến chứng viêm phổi

Chúng tôi nhận thấy tỉ lệ nhập viện do viêm phổi là 53%, và thời gian nằm viện trung bình

Trang 4

của các bệnh nhi được theo dõi trong 6 tháng có

điều trị bằng Sildenafil là 36 ± 48 ngày

BÀN LUẬN

Liều sildenafil citrate (Viagra) sử dụng trong

lô nghiên cứu này là 2mg/kg/ngày chia làm 3-4

lần, cũng giống với liều sử dụng trong các

nghiên cứu của các tác giả Nazzareno, Bharani

và cộng sự(1,7) Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng

tôi chỉ sử dụng trong thời gian ngắn (6 tháng) so

với nghiên cứu của Bharani là 12 tháng(1)

Số bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu của

chúng tôi gồm 47 bệnh nhân, trong đó tỉ lệ nam

nữ 0,88 Tỉ lệ này cũng phù hợp với tỉ lệ nam nữ

trên dân số chung của Việt Nam và giống với tỉ

lệ trong nhóm nghiên cứu của tác giả Nazzareno

và cộng sự 2005 là ¾(7)

Tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu là

21 tháng, trong đó nhóm trên 12 tháng chiếm tỉ

lệ 49% và có PAPs trung bình là 80 ± 22,36

mmHg, so với tác giả Bharani và cộng sự là 80,8

mmHg(1) Điều này (49%) có thể được giải thích

là do việc tầm soát bệnh tim bẩm sinh ở nước ta

chưa được chú trọng, trẻ thường được phát hiện

bệnh TBS chưa được chú trọng và giải quyết vấn

đề phẫu thuật ở nước ta còn quá trễ vì quá tải,

trẻ thường có những đợt nhiễm khuẩn hô hấp

tái đi tái lại Đối với những trẻ trên 12 tháng tuổi

trong lô nghiên cứu của chúng tôi có PAPs rất

cao (88,4 mmHg) là do phát hiện trễ, điều trị nội

khoa chưa được đầy đủ, và có thể đã có những

tổn thương trên mạch máu phổi

Trong nhóm nghiên cứu cửa chúng tôi có tỉ

lệ suy tim là 57% cao hơn nhiều so với tác giả

Lee & Channick 2005(8) là 37%, tập trung ở

nhóm trên 12 tháng tuổi, có thể do trẻ bị tăng

áp phổi nặng không được điều trị hoặc điều trị

chưa đúng mức sẽ dẫn đến suy tim Theo

Delgado và cộng sự, suy tim làm tăng tỉ lệ tử

vong và làm tăng tỉ lệ chống chỉ định phẫu

thuật tim trên trẻ bị tăng áp phổi nặng có biến

chứng suy tim Điều này cho thấy sildenafil

citrate cải thiện tình trạng suy tim trên nhóm bệnh nhi này, do đó mang lại cho các trẻ này

cơ hội được phẫu thuật tim(4,5)

Tỉ lệ có sử dụng thuốc ức chế men chuyển là 83%; thuốc lợi tiểu là 85% Đây là 2 loại thuốc cổ điển được sử dụng trong điều trị tăng áp phổi và suy tim ở trẻ em Tuy nhiên chúng ta cũng nhận thấy tỉ lệ trẻ bị suy tim khi điều trị bằng các thuốc cổ điển này là khá cao Theo tác giả Lee & Channick 2005(8), việc sử dụng sildenafil ciatrate làm giảm tỉ lệ suy tim cũng như tăng tỉ lệ sống còn trên nhóm trẻ này

Nhận xét về hiệu quả của Sidenafil citrate

Việc sử dụng Sildenafil có là giảm đáng kể

áp lực ĐMP tâm thu sau 1 tháng điều trị, trung bình giảm được 4,36mmHg (từ 80 mmHg xuống còn 75,64 mmHg); sau 3 tháng điều trị, trung bình giảm được 10,43mmHg (từ 80 mmHg xuống còn 64,57 mmHg); sau 6 tháng điều trị, trung bình giảm được 14,89mmHg (từ 80 mmHg xuống còn 65.11 mmHg) Tỉ lệ trên còn thấp so với các nghiên cứu của tác giả Bharani và cộng

sự(1), sildenafil citrate làm giảm PAPs từ 80,8 mmHg xuống còn 55,3 mmHg trong vòng 12 tháng (p<0,05), theo tác giả Humpl và cộng sự(6)

làm giảm PAPm từ 60 mmHg xuống còn 50 mmHg trong vòng 12 tháng, theo tác giả Gilbert

và cộng sự(2) làm giảm PAPm từ 90 mmHg xuống còn 50 mmHg trong vòng 12 tháng

Hệ số tương quan giữa PAPs0 trước khi điều trị so với PAPs1 (sau khi dùng Sidenafil 01 tháng) là 0,8547 (với giá trị p < 0,005), so với PAPs3 (sau khi dùng Sidenafil 03 tháng) là 0,8414 (với giá trị p<0,005), so với PAPs6 (sau khi dùng Sidenafil 06 tháng) là 0,7244 (với giá trị p<0,005) Như vậy, có sự tương quan mạnh có ý nghĩa thống kê giữa trong việc kiểm soát áp lực động mạch phổi tâm thu (PAPs) bằng Sidenafil Tuy nhiên, hệ số tương quan giảm dần sau thời gian điều trị

Nhóm tuổi là yếu tố gây nhiễu lên sự giảm PAPs sau 6 tháng điều trị bằng Sidenafil với t =

Trang 5

4,08 (p = 0,00) Điều này có thể giải thích do trên

12 tháng tuổi, nếu không chẩn đoán sớm và điều

trị tích cực, đã có hiện tượng biến đổi mạch máu

phổi không hồi phục, nên tỉ lệ giảm PAPs ít hơn

so với nhóm 6-12 tháng, kết quả cho thấy

sildenafil ciatrate ít có tác dụng hơn trên nhóm

bệnh nhân ≥12 tháng tuổi

Sau điều trị bằng sildenafil citrate, tỉ lệ ảnh

hưởng lên sự rối loạn điện giải là 15%; tỉ lệ ảnh

hưởng lên chức năng gan là 20% ( SGOT, SGPT

tăng trên 2 lần so với bình thường) so với tác giả

Lee & Channick và cộng sự(8) là 11% gây tăng

men gan Tuy nhiên không có trường hợp nào

ghi nhận có ảnh hưởng nặng nề lên tính mạng

bệnh nhân Theo tác giả Nazzareno và cộng sự(7),

các tác dụng phụ của sildenafil citrate gồm chán

ăn, tiêu chảy, đỏ da Tuy nhiên, trong nghiên

cứu của chúng tôi thì các tác dụng phụ này

không đáng kể

Thời gian nằm viện trung bình được theo dõi

trong vòng 6 tháng là 36 ± 48 ngày, trung bình là

23,23 ngày/1 lần nằm viện tại khoa tim mạch, so

với tác giả Yun Sik Lee và cộng sựlà 19,4 ± 9

ngày nằm viện tại phòng hồi sức tích cực/1 lần

nằm viện Trong đó tỉ lệ nhập viện do viêm phổi

là 53%, số ngày nằm viện trung bình tại khoa tim

mạch do viêm phổi là 25 ngày/1 lần nằm viện so

với tác giả Yun Sik Lee và cộng sự là 17,6 ngày

nằm tại phòng hồi sức tích cực Điều này cho

thấy sildenafil citrate không chỉ điều trị tăng áp

phổi mà còn mang lại cho bệnh nhi một cuộc

sống có chất lượng tốt hơn, giảm thời gian nằm

viện do viêm phổi cũng đồng nghĩa với giảm chi

phí điều trị, mang lại cho trẻ và gia đình một

cuộc sống tương đối bình thường Theo tác giả

Humpl và cộng sự(6), sildenafil citrate làm giảm tỉ

lệ tử vong trong nhóm trẻ tăng áp phổi bị suy

tim (37% tử vong trong 12 tháng theo dõi nếu

không được điều trị tích cực) Theo tác giả

Chaudhari và cộng sự 2005(3), Hon và cộng sự

2005(5), sildenafil citrate cải thiện nhanh lâm sàng

ở trẻ nhũ nhi (7 ngày tuổi đến 5 tháng tuổi)

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu dùng Sidenafil citrate (Viagra) đường uống trong điều trị tăng áp phổi nặng ở trẻ bị tim bẩm sinh có shunt T-P chúng tôi rút ra được một số kết luận như sau :

Về các tác dụng của sildenafil citrate :

- Làm giảm áp lực động mạch phổi tâm thu đáng kể sau 6 tháng điều trị, trung bình giảm được 14,89 mmHg

- Tỉ lệ nhập viện do viêm phổi trong 6 tháng theo dõi là 53%, số ngày nằm viện trung bình là

36 ngày, số ngày nằm viện trung bình là 25 ngày/1 lần nằm viện  Cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhi

- Tỉ lệ suy tim là 57%

- Tác dụng phụ: thay đổi men gan 20% (tăng SGOT, SGPT trên 2 lần bình thường), rối loạn điện giải (tăng / giảm Kali máu)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

sildenafil in patients with moderate-to-severe pulmonary hypertension Indian Heart J 55(1): p 55-9

Hypertension: Pathophysiology and Anesthetic Approach Anesthesiology 99: p 1415-1432

hypertension due to impaired alveolarisation and plexiform pulmonary arteriopathy Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed 90(6): p F527-8

hypertension on mortality and pulmonary artery pressure profile after heart transplantation J Heart Lung Transplant 20: p 942-948

pulmonary hypertension in an infant Biol Neonate 88(2): p 109-12

6 Humpl, T., et al., (2005): Beneficial effect of oral sildenafil therapy on childhood pulmonary arterial hypertension: twelve-month clinical trial of a single-drug, open-label, pilot study Circulation 111(24): p 3274-80

Arterial Hypertention N Engl J Med 2005 353: p 2148-2157

in pulmonary arterial hypertension Semin Respir Crit Care Med 26(4): p 402-8

Ngày đăng: 20/01/2020, 08:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm