Qua nghiên cứu so sánh độ mô học của Daumas - Duport và độ mô học của Kernohan đối với 122 trường hợp u sao bào đã được chẩn đoán tại khoa giải phẫu bệnh bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 6/98 đến 6/99, các tác giả nhận thấy trong 122 trường hợp có 11 trường hợp không tương hợp giữa 2 tiêu chuẩn mô học của Kernohan và Daumas - Duport, chủ yếu tập trung vào độ ác 1, 2 (3 trường hợp), độ 3, 4 (5 trường hợp) và 1 trường hợp là độ 3 (Kernohan) và độ 2 (Daumas - Duport), 2 trường hợp là độ 2 (Kernohan) và độ 3 (Daumas - Duport).
Trang 1Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 5 * Phụ bản của Số 4 * 2001
SO SÁNH ĐỘ MÔ HỌC U SAO BÀO THEO TIÊU CHUẨN CỦA DAUMAS – DUPORT VÀ CỦA KERNOHAN
Nguyễn Vũ Thiện*, Trần Minh Thông*, Nguyễn Sào Trung*
TÓM TẮT
U hệ thần kinh trung ương là u thường gặp, nhất là ở trẻ em Loại u nguyên phát thường gặp nhất là u sao bào Có nhiều bảng xếp loại của các tác giả khác nhau như Kernohan, Ringertz, Tổ chức Y tế Thế giới, Daumas – Duport Việc xếp độ mô học u sao bào giúp cho bác sĩ lâm sàng có hướng điều trị thích hợp hơn
Qua nghiên cứu so sánh độ mô học của Daumas - Duport và độ mô học của Kernohan đối với 122 trường hợp
u sao bào đã được chẩn đoán tại khoa giải phẫu bệnh bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 6/98 đến 6/99, các tác giả nhận thấy trong 122 trường hợp có 11 trường hợp không tương hợp giữa 2 tiêu chuẩn mô học của Kernohan và Daumas - Duport, chủ yếu tập trung vào độ ác 1, 2 (3 trường hợp), độ 3, 4 (5 trường hợp) và 1 trường hợp là độ 3 (Kernohan) và độ 2 (Daumas - Duport), 2 trường hợp là độ 2 (Kernohan) và độ 3 (Daumas - Duport) Tìm hiểu về nguyên nhân của sự không tương hợp này thì có đến 5 trường hợp liên quan đến u sao bào lông và còn lại là do số lượng lam cắt ra là 1 Để khắc phục tình trạng này, các tác giả đề nghị nên cắt nhiều tiêu bản để đánh giá toàn diện và nếu bệnh nhân trẻ tuổi, trên vi thể có đặc điểm u sao bào lông thì nên xếp vào độ 1, 2 vì loại u này có tiên lượng tốt
* Bộ môn Giải phẫu bệnh – Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
** Khoa Giải Phẫu bệnh – Bệnh viện Chợ rẫy
Trang 2Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 5 * Phụ bản của Số 4 * 2001 Nghiên cứu Y học
Chuyên đề Giải Phẫu Bệnh
2
SUMMARY
COMPARISION OF HISTOLOGIC GRADING OF ASTROCYTOMAS ACCORDING TO DAUMAS -
DUPORT AND KERNOHAN
Nguyễn Vũ Thiện*, Trần Minh Thông*, Nguyễn Sào Trung
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Special issue of Pathology - Vol 5 - Supplement of No 4 - 2001:13-16
Tumors of the central nervous system are most commonly encountered in children The commonest primary tumors are astrocytomas There are many classification systems of astrocytomas such as Kernohan, Ringertz, W.H.O, Daumas – Duport The histological grading of astrocytomas will help clinicians for better treatment patients We compare histological grading of Daumas - Duport and Kernohan for 122 cases of astrocytomas diagnosed at the Pathology Department of Cho Ray Hospital from June 1998 to June 1999 and
we have found that in 122 cases, there are 11 cases which differ in grading between Daumas - Duport and Kernohan, most of them are grade 1 or 2 (3 cases), grade 3, 4 (5 cases) and 1 case grade 3 (Kernohan), grade
2 (Daumas - Duport); 2 case grade 2 (Kernohan) and grade 3 (Daumas - Duport)
About the cause of this irrelevancy, 5 cases are pylocytic astrocytomas, the others have only one slide To avoid this situation, the authors suggest to have a set of slides for a complete evaluation and especially in young patients, pylocytic astrocytomas diagnosed microscopically should be graded 1 or 2 because those have a good prognosis
ĐẶT VẤN ĐỀ
U hệ thần kinh trung ương đều có ở người lớn
và trẻ em Ở trẻ em u hệ thần kinh trung ương là u
nguyên phát đứng hàng thứ hai sau bệnh bạch
huyết và limphôm(7) U sao bào cũng thường gặp ở
trẻ em Trong 207 trẻ em có u ở hố sau thì đã có
167 trường hợp là u sao bào (1)
U sao bào là u nguyên phát thường gặp nhất
của hệ thần kinh trung ương, chiếm 70-80% u thần
kinh đệm(8) và khoảng 20% u nội sọ nguyên phát(9)
Có nhiều bảng xếp loại của các tác giả khác
nhau như Kernohan, Ringertz, Tổ chức y tế thế
giới, Daumas – Duport , chứng tỏ giữa các tác giả
còn có nhiều điểm chưa thống nhất
Việc xếp độ mô học u sao bào giúp cho lâm
sàng có hướng điều trị thích hợp hơn
Trần Minh Thông đã chẩn đoán 176 trường hợp
u sao bào trong 648 bệnh nhân đã được phẫu thuật
u hệ thần kinh trung ương ở Bệnh Viện Chợ Rẫy từ
1994 – 1997ø Tuy nhiên tác giả chưa bàn tới vấn đề
xếp độ mô học của u sao bào cũng như so sánh các
tiêu chuẩn phân loại nhằm đưa ra hướng giải quyết
tốt cho hơn cho bệnh nhân(10)
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
So sánh độ mô học của Daumas – Duport và độ mô học của Kernohan
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- 122 trường hợp u sao bào đã được chẩn đoán tại khoa giải phẫu bệnh bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 6/98 đến 6/99
Phương pháp nghiên cứu
- Loại nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu
Thu thập các dữ liệu về lâm sàng
- Các bệnh phẩm này được xử lý và nhuộm Hematoxylin - Eosin
Xếp độ mô học theo tiêu chuẩn của Daumas – Duport và của Kernohan
So sánh độ mô học của Daumas - Duport và Kernohan
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel
Trang 3Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 5 * Phụ bản của Số 4 * 2001
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán vi thể của Daumas
– Duport (4)
Theo cách chia độ của Daumas - Duport, chúng
tôi có số liệu như sau:
Bảng 1: Độ mô học theo Daumas - Duport
Trong độ ác 4, có 3 trong 4 tiêu chuẩn là 23
trường hợp
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán vi thể của
Kernohan (5)
Theo tiêu chuẩn vi thể của Kernohan, chúng
tôi có số liệu như sau:
Bảng 2: Độ mô học của Kernohan
Độ mô học của Kernohan 1 2 3 4
So sánh tiêu chuẩn mô học theo Daumas -
Duport và Kernohan
Bảng 3: Tiêu chuẩn phân loại mô học theo Daumas
- Duport và Kernohan
Daumas - Duport 0 37 55 30 122
Chúng tôi sử dụng phương pháp ANOVA 2
yếu tố không lặp, với giả thiết là các độ mô học
theo Daumas - Duport và Kernohan không khác
nhau và tiêu chuẩn mô học theo Kernohan và
Daumas - Duport cũng không khác nhau
Kết quả như sau:
F độ mô học = 117,22 > F (0,01) = 29,46 Loại
giả thiết Có nghĩa là các độ mô học có khác biệt
F tiêu chuẩn mô học = 0 < F (0,01) = 34,12
Nhận giả thiết Có nghĩa là các tiêu chuẩn mô học
của Daumas - Duport và Kernohan chưa thấy có sự
khác biệt
Kết luận: Có thấy khác biệt giữa độ mô học và
chưa thấy có sự khác biệt các tiêu chuẩn mô học
của Daumas - Duport và Kernohan
Do có nhiều bảng phân loại được dùng để phân
loại các u thần kinh đệm nên khó so sánh tiên
lượng và kết quả điều trị trong y văn Do vậy điều
quan trọng là hiểu những nét tương đồng và khác
nhau giữa các hệ thống phân loại u thần kinh đệm(5) Hệ thống phân loại u sao bào của Kernohan cũng dựa chủ yếu vào 4 yếu tố của Daumas - Duport, nhưng cách đánh giá có khác nhau là Daumas - Duport dựa trên tổng số điểm để xếp độ mô học(3,10)
Theo kết quả chúng tôi thu thập được thì giữa tiêu chuẩn chẩn đoán mô học giữa Daumas - Duport và Kernohan chưa thấy có sự khác biệt với sai số là 1%
Tuy nhiên trong nghiên cứu này chúng tôi chẩn đoán 11 trường hợp không tương hợp giữa 2 tiêu chuẩn mô học của Kernohan và Daumas - Duport, chủ yếu tập trung vào độ ác 1, 2 (3 trường hợp), 3,
4 (5 trường hợp) và 1 trường hợp là độ 3 (Kernohan) và độ 2 (Daumas - Duport), 2 trường hợp là độ 2 (Kernohan) và độ 3 (Daumas - Duport) Sự khác nhau cơ bản giữa Kernohan và Daumas - Duport trong độ 1 là Kernohan xếp u sao bào lông vào độ 1 Người ta nhận thấy rằng u sao bào lông có tiên lượng tốt và hiếm khi hóa ác Tác giả Ringertz cũng xếp u sao bào lông vào độ 1 và ngày nay Tổ chức y tế thế giới cũng xếp như vậy(5) Trên vi thể u sao bào lông có thể có dị dạng tế bào , phân bào , tăng sản nội mô mạch máu nhưng không có ý nghĩa tiên lượng Có thể có tế bào khổng lồ với nhiều nhân ở ngoại vi đặc biệt ở tiểu não và đại não(2) Như vậy khi u sao bào lông có một ít tế bào nhân không điển hình thì theo Daumas - Duport sẽ xếp độ 2 nhưng theo Kernohan có thể là độ 1 nếu mật độ tế bào không tăng nhiều và như vậy gây khác biệt giữa Daumas - Duport và Kernohan trong xếp độ 1 và 2 Trong nghiên cứu này có 3 trường hợp (K3302, K5618, K6035) không tương hợp và đều là u sao bào lông ở tiểu não Trên tiêu bản gồm các tế bào nhân không điển hình, mật độ tế bào tăng ít Do đó theo Daumas - Duport sẽ có độ mô học 2 và Kernohan là độ 1
Có 2 trường hợp không tương hợp giữa độ 3 (Daumas - Duport) và 2 (Kernohan)
Đây là trường hợp của 1 bệnh nhân 18 tuổi (K4099) và 1 bệnh nhân 23 tuổi (K6842) có u sao bào lông ở tiểu não Trên tiêu bản có nhân không điển hình, tăng sản nội mô mạch máu nên theo
Trang 4Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 5 * Phụ bản của Số 4 * 2001 Nghiên cứu Y học
Chuyên đề Giải Phẫu Bệnh
4
Daumas - Duport sẽ có 2 tiêu chuẩn với độ mô học
là 3(3,4) Tuy nhiên đây là u sao bào lông ở tiểu não,
trên vi thể có mật độ tế bào tăng, nhân không điển
hình, không có vùng thoái sản ác tính nên chúng tôi
chỉ xếp độ 2 theo Kernohan
Tiêu chuẩn của Daumas - Duport có thể thấp
hơn Kernohan trong một số trường hợp như mẫu
mô nhỏ chỉ lấy được vùng có nhiều nhân không
điển hình mà không lấy được các thành phần khác
Kernohan xếp nhân dị dạng vào độ 3, trong khi
đó Daumas - Duport xem như là có nhân không
điển hình Trong trường hợp này nếu mật độ tế bào
tăng nhiều, có nhiều nhân dị dạng, đại bào nhiều
nhân và không có các tiêu chuẩn khác, thì
Kernohan sẽ đánh giá là độ 3 hoặc 4 nhưng theo
Daumas - Duport chỉ xếp độ 2 Trường hợp K5541
là một ví dụ Theo Daumas - Duport trường hợp
này chỉ có 1 tiêu chuẩn nhân không điển hình,
không có các tiêu chuẩn khác như hoại tử, phân bào
nên xếp là độ 2, nhưng đa số là các tế bào có nhân
dị dạng, đại bào nhiều nhân nên theo Kernohan thì
độ mô học là độ 3 Trường hợp này có thể lý giải là
mẫu mô u nhỏ không đại diện hết cho khối u nên
không thể đánh giá hơn
Kernohan xem độ 3, 4 như là u nguyên bào
thần kinh đệm đa dạng(6) nhưng không phân biệt rõ
ràng độ 3 và 4(5) nếu có nhiều hoại tử, tăng sản nội
mô mạch máu, phân bào , dị dạng thì xếp vào độ 4
hơn là độ 3 Do đó sẽ có một số trường hợp
Kernohan là độ 3 nhưng Daumas - Duport có thể
xếp vào độ 4
Trong nghiên cứu này có 5 trường hợp như vậy
Các trường hợp này có số lượng tế bào u không
nhiều như độ 4 và ít hoại tử, phân bào nên theo
Kernohan là độ 3 Trong khi đó theo Daumas -
Duport thì có 3 hoặc 4 tiêu chuẩn là xếp độ 4 Sự
không tương hợp này có thể được khắc phục bằng
cách cắt nhiều lam ở nhiều vùng khác nhau để có 1
sự đánh giá toàn diện
KẾT LUẬN
Có 11 trường hợp không tương hợp về xếp độ mô học giữa Daumas - Duport và Kernohan chủ yếu giữa độ 1, độ 2 (3 trường hợp), giữa độ 3, độ 4 (5 trường hợp) và giữa độ 2, độ 3 (3 trường hợp) Tìm hiểu về nguyên nhân của sự không tương hợp này thì có đến 5 trường hợp liên quan đến u sao bào lông và còn lại là do số lượng lam cắt ra ít Để khắc phục tình trạng này, theo chúng tôi nên cắt nhiều tiêu bản để đánh giá toàn diện và nếu bệnh nhân trẻ tuổi, trên vi thể có đặc điểm u sao bào lông thì nên xếp vào độ 1, độ 2 vì loại u này có tiên lượng tốt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 BONNER K., SIEGEL KR.: Pathology, treatment and
management of posterior fossa brain tumors in childhood In
J-NEUROSCI – NURS, 1988 APR; 20 (2): 84-93
2 BURGER C.P., SCHEITHAUER W.B : Tumors of neuroglia
and choroid plexus epithelium In BURGER C.P.,
SCHEITHAUER W.B.: Tumors of the central nervous system
AFIP, 1994: 25 - 96
3 CUNG THỊ TUYẾT ANH: Xạ trị các bướu sao bào của não
Luận án chuyên khoa II, TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HCM 1999
4 DAUMAS-DUPORT C., SCHEITHAUER B., O FALLON J.,
KELLY P.: Grading of astrocytomas a simple and reproducible
method In CANCER, 1988 NOV 15; 62 (10): 2152-2165
5 McDONALD D.J., ROSENBLUM L.M.: Gliomas In RENGACHARY S.S., WILKINS H.R.: Principles of
neurosurgery, WOLFE, 1994: 26.1-26.6
6 NGUYỄN SÀO TRUNG, Bệnh hệ thần kinh - Bệnh học các
tạng và hệ thống, TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM
1998: 730-735
7 RUBINSTEIN J.L.: TUMORS OF THE NEUROGLIAL CELLS In RUBINSTEIN J.L.: Tumors of the central nervous system AFIP, 1972: 33 - 40
8 SISSON A.J.: Central nervous system- tumors In SISSON A.J
The bare facts of systemic pathology 2 nd, J.B.LIPPINCOTT COMPANY 1978: 199 – 200
9 STEPHEN.V.F., BOULDIN.W.T., The nervous system In
Rubin Emanuel, Farber L.J, pathology 2 nd , J.B.LIPPINCOTT COMPANY 1994 1439 –1440
10 TRẦN MINH THÔNG: Góp phần nghiên cứu u hệ thần kinh
trung ương Luận án chuyên khoa II, TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y
DƯỢC TP.HCM 1999