1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát đặc điểm lâm sàng và vi sinh trên bệnh nhân viêm phổi thở máy tại khoa săn sóc đặc biệt Bệnh viện Nhân dân Gia Định

6 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 504,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về bệnh viêm phổi thở máy qua nội khí quản hoặc qua khai khí quản, xác định tỉ lệ viêm phổi thở máy, tỉ lệ vi khuẩn đề kháng kháng sinh và kháng sinh ban đầu thích hợp.

Trang 1

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ VI SINH   TRÊN BỆNH NHÂN VIÊM PHỔI THỞ MÁY   TẠI KHOA SĂN SÓC ĐẶC BIỆT BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH  

Trần Minh Giang*, Trần Văn Ngọc** 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Viêm phổi thở máy là viêm nhu mô phổi xảy ra sau 48 giờ thở máy qua nội khí quản hoặc qua khai 

khí quản.  

Mục tiêu nghiên cứu: xác định tỉ lệ viêm phổi thở máy, tỉ lệ vi khuẩn đề kháng kháng sinh và kháng sinh 

ban đầu thích hợp. 

Phương pháp nghiên cứu: thiết kế nghiên cứu theo mô hình cắt ngang 

Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân thở máy tại ICU bệnh viện Nhân dân Gia Định 

Kết quả: có 87 bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu, trong đó có 41 nữ và 46 nam, từ 19 đến 97 tuổi. Tỉ lệ 

viêm phổi thở máy là 30%, phần lớn là do Acinetobacter baumannii 69%. Vi khuẩn này kháng Carbapenem 78%. 

Tỉ lệ sử dụng kháng sinh ban đầu thích hợp là 46%. 

Bàn luận: tỉ lệ viêm phổi thở máy và tác nhân gây viêm phổi của chúng tôi tương đương với các nghiên cứu 

thực hiện tại bệnh viện thành phố Hồ Chí Minh.  

Kết  luận:  chúng tôi phát hiện viêm phổi thở máy là 0,3, Acinetobacter baumannii là tác nhân chính gây 

viêm phổi thở máy và kháng với Carbapenem 78%.  

Từ khoá: viêm phổi thở máy 

ABSTRACT 

SURVEY OF CLINICAL CHARACTERISTICS AND BACTERIA IN VENTILATOR‐ASSOCIATED  

PNEUMONIA (VAP) PATIENT AT ICU NHAN DAN GIA DINH HOSPITAL 

Tran Minh Giang, Tran Van Ngoc  

 * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 284 ‐ 289 

Introduction: ventilator – associated pneumonia is defined as an infection of lung parenchyma that occurs 

after 48 hours of mechanical ventilation by endotracheal tube or tracheostomy. 

Objectives: to determine the prevalence of ventilator‐associated pneumonia, to assess antibiotic resistance 

Methods: The study was designed as a prospective cross‐sectional investigation  

Study subjects: Mechanically ventilated patients in ICU Gia Dinh Peopleʹs Hospital 

Results: 87 patients met inclusion criteria, including 41 women and 46 men, aged between 19 and 97 years 

old. The prevalence of ventilator‐associated pneumonia was 30%. Acinetobacter baumannii was the major cause,  cultured in 69% of VAP. Bacterial resistance to carbapenems was found in 78%.  

Discussion: the prevalence of ventilator‐associated pneumonia and the high rate of Acinetobacter as cause 

were similar to the findings reported at Ho Chi Minh City hospitals. 

Conclusion:  We  found  that  VAP  prevalence  was  30%.  Acinetobacter  baumannii  was  the  major  cause  of 

VAP with resistance to carbapenems in 78%. 

Keyword: ventilator‐associated pneumonia. 

Trang 2

Viêm phổi thở máy là viêm nhu mô phổi xảy 

ra sau 48 giờ thở máy qua nội khí quản hoặc qua 

khai  khí  quản(1).  VPTM  được  thiết  lập  dựa  vào 

lâm  sàng  và  bằng  chứng  về  vi  khuẩn.  Việc  xác 

định  vi  khuẩn  gây  bệnh  thông  qua  cấy  định 

lượng đàm hút qua nội khí quản đơn thuần hoặc 

qua nội soi phế quản. Tiêu chuẩn cấy dương tính 

cho  mẫu  đàm  hút  qua  nội  khí  quản  là  ≥106 

cfu/ml. Tiêu chuẩn cấy dương tính cho dịch rửa 

phế  quản  phế  nang  và  chảy  phế  quản  có  nòng 

bảo vệ lần lượt là ≥104 cfu/ml và ≥103 cfu/ml(1). Tỉ 

lệ  VPTM  thay  đổi  từ  20%  ‐  52,5%(4,5,6,8,9,10),  tùy 

thuộc  vào  từng  khoa  ICU.  Ngày  càng  có  nhiều 

loại  vi  khuẩn  gây  VPTM  kháng  với  tất  cả  các 

kháng sinh hiện có, đáng kể đến là Acinetobacter 

baumannii(7,8).  VPTM  là  nguyên  nhân  hàng  đầu 

gây tăng tỉ lệ tử vong, tăng chi phí điều trị(1). Cho 

tới  nay,  tiêu  chuẩn  vàng  để  chẩn  đoán  VPTM 

vẫn chưa có. Tuy nhiên tiêu chuẩn có giá trị nhất 

là  cấy  định  lượng  chất  tiết  đường  hô  hấp  dưới 

qua nội soi phế quản. Do đòi hỏi về mặt kĩ thuật 

mà  VPTM  chưa  được  chẩn  đoán  với  độ  chính 

xác cao ở các bệnh viện Việt Nam. Chính vì vậy 

chúng  tôi  tiến  hành  khảo  sát  VPTM  trên  bệnh 

nhân  ICU,  tại  bệnh  viện  Nhân  Dân  Gia  Định 

bằng nội soi phế quản tại giường kèm cấy đàm 

định lượng. 

Mục tiêu  

‐ Xác định tỉ lệ VPTM theo tuổi, giới và bệnh 

đi kèm. 

‐  Xác  định  tỉ  lệ  vi  khuẩn  gây  bệnh  và  tình 

hình đề kháng kháng sinh. 

‐ Xác định tỉ lệ sử dụng kháng sinh ban đầu 

thích hợp trên bệnh nhân VPTM. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên cứu này được thiết kế theo mô hình 

cắt ngang, các dữ liệu được thu thập tại một thời 

điểm. Thiết kế nghiên cứu này phù hợp với mục 

tiêu xác định được tỉ lệ VPTM hiện hành, tỉ lệ vi 

khuẩn  phân  lập  được  và  tỉ  lệ  sử  dụng  kháng 

sinh ban đầu phù hợp trên bệnh nhân thở máy  tại một thời điểm. Thiết kế nghiên cứu này cũng  cho  phép  phân  tích  được  các  mối  tương  quan  giữa  các  yếu  tố  trong  quần  thể  nghiên  cứu.  Đề  cương nghiên cứu này trước khi được tiến hành 

đã  được  thông  qua  hội  đồng  y  đức  của  bệnh  viện Nhân Dân Gia Định.  

Đối tượng nghiên cứu 

Bệnh  nhân  thở  máy  qua  nội  khí  quản  hoặc  qua khai khí quản tại khoa ICU bệnh viện Nhân  Dân Gia Định từ tháng 1‐ 9 năm 2011. 

Tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu: bệnh nhân  thở  máy  qua  nội  khí  quản  hoặc  qua  khai  khí  quản  từ  48  giờ  trở  đi,  và  không có  VPTM  dựa  trên các tiêu chuẩn lâm sàng trước đó.  

Tiêu  chuẩn  loại  trừ:  bệnh  nhân  dưới  18  tuổi,  phụ  nữ  có  thai,  bệnh  nhân  ghép  tạng,  người nhà của bệnh nhân không đồng ý tham  gia nghiên cứu 

Các bước tiến hành 

Giải thích về lợi ích của nghiên cứu cho thân  nhân người bệnh và kí vào bản đồng ý tham gia  nghiên cứu.  

Nội soi phế quản tại giường 

Chỉ  định:  thực  hiện  nội  soi  phế  quản  tại  giường  khi:  lâm  sàng  bệnh  nhân  sốt  ≥38,5  oC,  hoặc  ≤36,5oC;  tăng  tiết  đàm  hoặc  đàm  đổi  màu  qua  nội  khí  quản  hoặc  qua  khai  khí  quản;  tăng  tiêu  thụ  oxy  kèm  hoặc  bạch  cầu  máu 

≥12000/mm3  hay  ≤4000/mm3,  hoặc  thâm  nhiễm  lan tỏa trên x quang ngực hay thâm nhiễm tiến  triển trên x quang ngực. 

Tiến hành nội soi phế quản tại giường: dùng  ống soi mềm LF‐GP, chiều dài cần soi 60cm, hệ  thống  quan  học:  trường  quan  sát  900,  nhìn  xa  50cm; đường kính ngoài đầu tận 3,8mm, đường  kính  ngoài  ống  4,1mm,  đường  kính  trong  kênh  hút  1,5mm;  gập  góc  lên  hoặc  xuống  1200;  hãng  Olympus; Nhật Bản. 

Chuẩn  bị  máy  soi:  theo  qui  trình  soi  phế  quản tại giường của bệnh viện.  

Trang 3

sử  dụng  an  thần  và  hoặc  dãn  cơ,  nằm  đầu  cao 

≥30o  trừ  trường  hợp  chống  chỉ  định.  Dùng 

monitor  hãng  Nihon  kohden  bsm‐4103k,  Nhật 

Bản theo dõi liên tục điện tâm đồ, SpO2, và ghi 

nhận  huyết  áp  mỗi  phút  qua  huyết  áp  động 

mạch xâm lấn hoặc đo huyết áp tự động ở cánh 

tay  không  phải  gắn  đo  độ  bảo  hòa  oxy  theo 

mạch  đập.  Nếu  bệnh  nhân  tỉnh,  chúng  tôi  tiến 

hành  tiêm  tĩnh  mạch  Norcuron  2mg  và 

Midazolam 2,5mg, đặt ngáng miệng. 

Tác giả là người trực tiếp thực hiện nội soi 

phế  quản  tại  giường.  Người  phụ  báo  cho 

người soi biết ngay khi có các triệu chứng báo 

động: SpO2 <90%, bệnh nhân tím tái, HA tụt và 

nhịp  tim  tăng  >20%,  hoặc  nhịp  tim  chậm  <50 

lần/phút. 

Đàm được hút ra từ nội soi phế quản đưa lên 

khoa  vi  sinh  trong  vòng  10  phút.  Tại  khoa  vi 

sinh,  trước  khi  cấy  đàm  định  lượng  được  làm 

tan  đàm  bằng  dung  dịch  1,4  Lithiopretol  1%. 

Mẫu đàm cấy được gọi là dương tính khi có ≥104 

khúm khuẩn lạc/ml. Tất cả mẫu đàm cấy dương 

tính  đều  được  làm  kháng  sinh  đồ.  Tất  cả  bệnh 

nhân vào nghiên cứu đều được theo dõi cho tới 

khi ra khỏi khoa SSĐB.  

Xử lí số liệu 

Các dữ liệu sau khi thu thập được nhập liệu 

bằng phần mềm Epi 3.1, xử lí số liệu bằng phần 

mềm Stata 10.0. 

Phân tích dữ liệu 

‐ Mô tả tần số và tỉ lệ phần trăm các thuộc tính. 

‐  Dùng  phép  kiểm  chi  bình  phương  hay 

Fisher test để kiểm định ở mức ý nghĩa 5%. 

‐ Mức độ kết hợp được ước lượng bằng tỉ số 

tỉ lệ hiện mắc PR với khoảng tin cậy 95%. 

‐  Biến  số  định  lượng  được  trình  bày  dưới 

dạng số trung bình (± độ lệnh chuẩn), kiểm định 

sự khác biệt thống kê bằng test student (t‐test). 

KẾT QUẢ 

Bảng 1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 

Biến số Tần số Tỉ lệ (%)

Nhóm tuổi

Dưới 40 40-59 60-79

Từ 80 trở lên

7

13

29

38

8,1 14,9 33,3 43,7

Không bệnh nền

76

11

87,4 12,6

Điểm Apache

II

Dưới 15 15-19 20-24 25-29

Từ 30 trở lên

11

14

28

20

13

12,6 17,3 32,2

23 14,9 Dùng thuốc

dạ dày Loại dùng

Có Không PPI

81

6

81

93,1 6,9

100 Dùng an thần

Cách dùng

Có Không Liên tục Ngắt quãng

43

41

17

26

49,5 50,5 39,5 60,5

Số ngày thở máy

≤5

>5

59

28

67,8 32,2

Phổi trái

67

20

77

23 Kháng sinh

ban đầu

Có không

81

6

93,1 6,9

Kháng sinh kết hợp

Cefo/sul + Quinol Carba + Quinol Cefa III + Quinol Piper/Tazo + Quinol Ticar/Clavu + Quinol Cefa IV + Quinol Cefo/sul + Amino Carba + Cefo/Sul + Quinol

22

21

6

2

2

1

1

1

39,3 37,6 10,7 3,5 3,5 1,8 1,8 1,8

Kết quả cấy đàm định lượng  

Dương tính: 30%, âm tính 70% 

Bảng 2: Tần số và tỉ lệ vi khuẩn phân lập được 

Biến số Tần số Tỉ lệ (%)

Vi khuẩn

Acinetobacter Klebsiella Enterobacter Pseudomonas

18

3

3

2

69,3 11,5 11,5 7,7

Trang 4

20%

40%

60%

80%

100%

120%

Tỉ lệ đề kháng kháng sinh chung

 

Hình 1: Kết quả kháng sinh đồ chung 

0%

20%

40%

60%

80%

100%

120%

Tỉ lệ đề kháng kháng sinh đối với

Acinetobacter Baumannii

  Hình 2: Kết quả kháng sinh đồ đối với A. baumannii 

0%

20%

40%

60%

80%

100%

120%

Tỉ lệ đề kháng kháng sinh đối với

Klebshiella

 

Hình 3: Kết quả kháng sinh đồ đối với Klebsiella 

(n=4) 

0%

20%

40%

60%

80%

100%

120%

Tỉ lệ đề kháng kháng sinh đối với

Enterobacter

 

Hình 4: Kết quả kháng sinh đồ đối với Enterobacter 

(n=3) 

  Hình 5: Kết quả kháng sinh đồ đối với Pseudomonas 

(n=2) 

Bảng 3: Kết quả điều trị  

Biến số Tần số Tỉ lệ (%)

Ra khỏi

Xuất nặng 33 37,9

Bảng 4: Mối liên quan giữa VPTM và đặc tính mẫu 

Đặc điểm (n=87)

VPTM n(%)

Không VPTM n(%) p

PR (KTC 95%)

Tuổi

Trang 5

Đặc điểm

(n=87)

VPTM

n(%)

Không VPTM n(%) p

PR (KTC 95%)

Trên 80 14(36,8) 24(63,2) 0,689 1,28(0,37-4,46)

Bệnh

nền

0,494

Điểm

Apac

he-II

15- 19 5(33,3) 10(77,7) 0,872 0,91(0,31-2,64)

20- 24 10(35,7) 18(64,3) 0,970 0,98(0,38-2,48)

Trên 29 4(30,8) 9(69,2) 0,772 0,84(0,27-2,61)

Bảng  5:  Mối  liên  quan  giữa  VPTM  và  các  yếu  tố 

nguy cơ: 

Đặc điểm

(n=87)

VPTM n(%)

Không VPTM n(%) p

Dùng thuốc an

thần

Có 15(35,7) 27(64,3)

0,251 Không 11(24,4) 34(75,6)

Bề mặt niêm mạc

phế quản/nội soi Trơn láng 10(38,5) 31(61,5) 0,290

Xước đỏ 16(50,8) 30(49,2)

BÀN LUẬN 

VPTM  là  một  vấn  nạn  y  tế  hiện  nay  ở  Việt 

Nam cũng như các nước Á châu. Không những 

tỉ  lệ  VPTM  không  ngừng  gia  tăng  mà  tỉ  lệ  vi 

khuẩn  kháng  thuốc  cũng  gia  tăng.  Để  xác  định 

chính xác một trường hợp có hay không VPTM 

vẫn  còn  đang  bàn  cãi.  Tuy  nhiên  cho  tới  nay, 

việc cấy định lượng bệnh phẩm qua nội soi phế 

quản vẫn được xem là tiêu chuẩn vàng cho chẩn 

đoán VPTM. Do đó, chúng tôi áp dụng cấy định 

lượng  dịch  rửa  phế  quản  phế  nang  nhằm  cung 

cấp đặc tính vi sinh và tỉ lệ VPTM cho thành phố 

Hồ Chí Minh.  

Tỉ  lệ  VPTM  chúng  tôi  phát  hiện  có  tới  30% 

bệnh  nhân  thỏa  tiêu  chuẩn.  Tỉ  lệ  VPTM  này 

không  có  sự  khác  giữa  các  nhóm  tuổi,  giới,  và 

bệnh  đi kèm.  Tuy nhiên tỉ  lệ  VPTM có  sự khác 

biệt  có  ý  nghĩa  theo  thời  gian  thở  máy  với 

P=0,02.  Tỉ  lệ  VPTM  của  chúng  tôi  cũng  tương 

đương với các tác giả khác thực hiện nghiên cứu 

tại  bệnh  viện  Chợ  Rẩy  27,3%(8) và  32,1%(6).  Tuy 

nhiên  tỉ  lệ  VPTM  của  chúng  tôi  thấp  hơn  đáng 

kể so với nghiên cứu tại bệnh viện Thống Nhất  thành phố Hồ Chí Minh, trên 198 bệnh nhân tỉ lệ  VPTM là 52,5%(4). Tỉ lệ VPTM ở các nước Á Châu 

là  18%(2),  các  nước  Âu  Châu  là  10%(1),  ở  Mĩ  là  9%(3). Tại sao tỉ lệ VPTM lại có sự khác nhau lớn  giữa  các  bệnh  viện  trong  nước  và  các  quốc  gia  khác  nhau?  Rỏ  ràng  ở  các  nước  có  nền  kinh  tế  phát  triển  như  Âu‐Mĩ  có  tỉ  lệ  VPTM  thấp.  Các  nước  này  không  có  chuyện  quá  tải  về  số  bệnh  nhân  trong  bệnh  viện.  Các  bệnh  nhân  tại  khoa  ICU nằm trong từng phòng riêng biệt. Mỗi y tá  tại  ICU  chỉ  chăm  sóc  cho  một  hoặc  hai  bệnh  nhân.  Lí  do  thứ  hai  là  vấn  đề  kiểm  soát  nhiễm  khuẩn rất chặt chẽ và rất có hiệu quả ở các nước  phát  triển.  Thứ  ba  là  chỉ  định  sử  dụng  kháng  sinh rất chặt và thời gian dùng kháng sinh tương  đối  ngắn.  Vấn  đề  thời  gian  bệnh  nhân  nằm  tại  ICU  và  thời  gian  thở  máy  ảnh  hưởng  trực  tiếp  đến tỉ lệ VPTM. Bệnh nhân nằm thở máy kéo dài  tại ICU thì cơ hội nhiễm trùng càng cao.  

Trong  nghiên  cứu  này  đã  phát  hiện  ra  bốn  chủng  vi  khuẩn  đang  hiện  hành  tại  khoa  ICU  của bệnh viện chúng tôi. Thứ tự từ cao đến thấp 

như  sau:  Acinetobacter  baumanni  69%,  Klebshiella  spp  11,5%,  Enterobacter  spp  11,5%  và  Pseudomonase aruginosa 8%. Đúng như nhận định 

ở  phần  mở  đầu  Acinetobacter  baumanni  là  tác 

nhân gây VPTM thường gặp nhất. Kết quả này  cũng tương tự như nghiên cứu gần đây nhất tại 

bệnh  viện  Chợ  Rẩy,  Acinetobacter  chiếm  61%(9).  Kết  quả  của  chúng  tôi  cho  thấy  không  thống  nhất  với  các  nghiên  cứu  trước  đây  cũng  ở  tại 

bệnh  viện  Chợ  Rẩy.  Acinetobacter  chiếm  tỉ  lệ 

15,8%(8),  36,5%(10).  Sự  trổi  dậy  của  A.  baumannii 

không những về tỉ lệ hiện hành mà đáng lo ngại  hơn  là  vi  khuẩn  này  kháng  hầu  hết  các  kháng 

sinh  hiện  có.  Số  liệu  chúng  tôi  cho  thấy.  A.  baumannii  kháng  với  nhóm  Carbapenem  gần 

78%, nhóm Quinolol 85%, Aminoglycoside 90%.  Kết  quả này  cũng  tương  tự như nghiên  cứu  tại 

bệnh  viện  Chợ  Rẩy  tỉ  lệ  A.  baumannii  kháng 

Imipenem  80,9%(9).  Theo  y  văn  cơ  chế  chính  A.  baumannii  gây  đề  kháng  thông  qua  gen: 

Trang 6

Chromosome  hoặc  Plasmids.  Ở  các  nước  Á 

Châu  gen  phân  lập  được  phổ  biến  nhất  từ  A. 

baumannii kháng Carbepenem là blaOXA‐23(7).  

Tỉ lệ sử dụng kháng sinh ban đầu thích hợp 

trên  bệnh  nhân  VPTM  trong  nghiên  cứu  của 

chúng  tôi  là  46%.  Tỉ  lệ  này  thấp  cũng  có  thể  lí 

giải như sau: phần lớn vi khuẩn cấy được là A. 

baumannii,  chính  vi  khuẩn  này  kháng  với 

Carbapenem lên tới 76%. 

Nghiên cứu của chúng tôi có một số ưu điểm 

và  những  mặc  hạn  chế  sau:  nghiên  cứu  của 

chúng  tôi  sử  dụng  máy  nội  soi  phế  quản  tại 

giường  để  lấy  bệnh  phẩm.  Đây  là  một  phương 

pháp  chuẩn  nhất  hiện  nay  trong  khâu  tiếp  cận 

đường  hô  hấp  dưới.  Thứ  hai  là  bệnh  phẩm  lấy 

được đem cấy định lượng để có con số cụ thể số 

lượng vi khuẩn tìm được trong mẫu đàm. Đây là 

hai phương pháp được xem là tiêu chuẩn vàng 

trong chẩn đoàn VPTM. Tuy nhiên một số mặc 

hạn  chế  còn  tồn  tại:  mẫu  nghiên  cứu  nhỏ,  thực 

hiện  tại  một  khoa  ICU  không  mang  tính  đại 

diện.  Số  trường  hợp  sử  dụng  kháng  sinh  trước 

lấy bệnh phẩm cao, ảnh hưởng đến tỉ lệ VPTM 

hiện hành. Vi khuẩn phân lập được chỉ dừng lại 

ở mức định danh, chưa biết được đặc điểm về di 

truyền của các vi khuẩn đa kháng thuốc này.  

Tóm  lại  tỉ  lệ  VPTM  của  chúng  tôi  còn  khá 

cao  30%,  tỉ  lệ  vi  khuẩn  kháng  thuốc  còn  nhiều. 

Trong tương lai chúng tôi hy vọng bộ phận kiểm 

soát nhiễm khuẩn của bệnh viện và của quốc gia  hoạt động hiệu quả hơn.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 

1 Chastre  and  et  al  (2006),  pneumonia  in  the  ventilator  ‐ 

dependent patient, principles and pracetice mechanical ventilation 

(pp. 991‐1018) Mcgraw ‐ Hill. 

2 Chawla  and  et  al  (2008),  ʺEpidemiology,  etiology,  and  diagnosis  of  hospital‐acquired  pneumonia  and  ventilator‐

associated pneumonia in Asian countriesʺ. Am J Infect Control, 

36(4 Suppl), S93‐100 

3 Fagon  and  et  al  (1989),  ʺNosocomial  pneumonia  in  patients  receiving  continuous  mechanical  ventilation.  Prospective  analysis  of  52  episodes  with  use  of  a  protected  specimen 

brush and quantitative culture techniquesʺ. Am Rev Respir Dis, 

139(4), 877‐884 

4 Lê Hữu Thiện Biên (1998), ʺViêm phổi nhiễm trùng bệnh viện 

ở bệnh nhân thở máyʺ. Thời sự Y Dược học. 9/1998: p.240‐243. 

5 Lê Bảo Huy (2008), ʺKhảo sát đặc điểm viêm phổi bệnh viện  liên  quan  đến  thở  máy  tại  khoa  hồi  sức  cấp  cứu  bệnh  viện 

Thống Nhấtʺ. Luận văn thạc sĩ y học, tr 45 – 73 

6 Phạm Hồng Trường (2005), ʺNghiên cứu tỉ lệ mắc phải, tỉ lệ tử  vong, yếu tố nguy cơ, tác nhân gây viêm phổi ở bệnh nhân 

thở máyʺ. Luận văn bác sĩ chuyên khoa II 7. 

7 Trần Văn Ngọc (2009), Điều trị viêm phổi – áp xe phổi. Điều trị 

học nội khoa. Nhà Xuất Bản Y Học, Tp Hồ Chí Minh, tr 293 – 

303 

8 Võ  Hồng  Lĩnh  (2001),  ʺKhảo  sát  nhiễm  khuẩn  bệnh  viện  tại 

khoa săn sóc đặc biệt bệnh viện Chợ Rẫyʺ. Luận văn thạc sĩ y 

học, tr 37 ‐ 57 

9 Võ Hữu Ngoan (2010), ʺ Nghiên cứu đặc điểm viêm phổi liên  quan đến thở máy tại khoa khoa săn sóc đặc biệt bệnh viện 

Chợ Rẫyʺ. Luận văn thạc sĩ y học, tr 42 – 69 

10 Vương Thị Ngọc Thảo (2004), ʺKhảo sát tình hình viêm phổi 

bệnh viện tại khoa săn sóc đặc biệt bệnh viện Chợ Rẫyʺ. Luận 

văn thạc sĩ y học, tr 24‐ 40. 

  Ngày nhận bài báo: 01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 08:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w