1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân một trường hợp bệnh lý rối loạn chuyển hoá galactose

5 65 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 283,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rối loạn chuyển hoá galactose là một trong các bệnh rối loạn chuyển hoá có thể gặp ở trẻ sơ sinh. Việc phát hiện bệnh thường muộn và trẻ thường được chẩn đoán khi tử vong là chết chưa rõ nguyên nhân. Báo cáo ca bệnh này nhằm mục đích thông tin cho các quý bác sĩ về diễn tiến một trường hợp đã được chẩn đoán nhằm phát hiện và xử trí sớm.

Trang 1

GALACTOSE 

Ngô Minh Xuân*, Vũ Tề Đăng** 

TÓM TẮT 

Cho đến nay, tại Việt Nam, việc phát hiện các bệnh lý rối loạn chuyển hóa còn gặp nhiều khó khăn, đa phần  phát hiện trễ do chưa có chương trình tầm soát thường qui cho tất cả các trẻ sơ sinh. Hơn nữa, ngay sau sanh  việc cho trẻ ăn để thích nghi với cuộc sống ngoài tử cung. Tuy nhiên, nếu trẻ có rối loạn trong chuyển hoá một  trong các thành phần có trong thức ăn của trẻ thì việc cho ăn này sẽ trở nên nguy hiểm. Rối loạn chuyển hoá  galactose là một trong các bệnh rối loạn chuyển hoá có thể gặp ở trẻ sơ sinh. Việc phát hiện bệnh thường muộn và  trẻ thường được chẩn đoán khi tử vong là chết chưa rõ nguyên nhân. Báo cáo ca bệnh này nhằm mục đích thông  tin cho các đồng nghiệp về diễn tiến một trường hợp đã được chẩn đoán nhằm phát hiện và xử trí sớm. Nếu  chương trình tầm soát 48 loại bệnh lý rối loạn chuyển hoá bẩm sinh được triển khai thì việc phát hiện rối loạn  chuyển hoá galactose không khó. Tuy nhiên hiện nay tại Việt Nam, do chưa có chương trình tầm soát này nên có  nhiều gia đình có nhiều con bị tử vong sớm sau sinh mà không rõ nguyên nhân. Việc tầm soát dù không quá  phức tạp nhưng lại tốn kém vì phải gửi mẫu ra nước ngoài, kết quả trả về cũng khá chậm. Trường hợp rối loạn  chuyển hóa bẩm sinh này đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về các bệnh lý rối loạn chuyển hoá có thể là nguyên  nhân gây tử vong sớm cho trẻ sơ sinh mà không rõ nguyên nhân. Rất mong chương trình tầm soát các bệnh lý  rối loạn chuyển hoá sớm được triển khai và được thực hiện ngày càng rộng rãi cho các trẻ được sơ sinh Việt  Nam. 

Từ khóa: galactosemia, rối loạn chuyển hóa. 

ABSTRACT 

A REPORT OF GALACTOSEMIA DIAGNOSED AND MANAGED AFTER BIRTH AT TU DU 

HOSPITAL, VIETNAM 

Ngo Minh Xuan, Vu Te Dang * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2013: 98 ‐ 102 

In the treatment of infant diseases, the detection of pathological metabolic disorders is very difficult. Because  there are no screening programs for all newborns after births at Vietnam. Infact, feeding an infant immediately  after birth is necessary for children to survive outside the womb, but it may cause a severe problem if the baby  have a metabolic disorders. Pathological galactose metabolic disorders is one of the metabolic disorders in infants.  The disease is usually detected late and the baby may die before having a final cause. This report aims to inform  other colleague a special case that has been diagnosed and help us to have more experience about galactosemia.  Detecting pathological galactose metabolic disorders is not too difficult, but it requires a good screening and a  careful treatment. In Vietnam, families that have a children suffering from this disease have to sacrify one or two  first  baby  because  we  have  not  implemented  a  screening  program  of  48  types  of  these  diseases  congenital  metabolic disorders. The screening is not too complicated but is quite expensive and we have to send samples to  others  countries,  so  the  returned  results  is  also  quite  slow.  Through  this  report  cases  may  help  to  find  out  a  solution for diagnosis of pathological metabolic disorders in children that may be diagnosed as dead of unknown  causes.  We  hope  the  program  of  medical  screening  for  metabolic  disorders  can  be  deployed  in  and  is  widely  implemented for all children born in Vietnam. 

Key words: galactosemia, diagnose. 

*: Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch   ** Bệnh viện Từ Dũ 

Trang 2

Hiện  nay  tại  Việt  Nam,  việc  phát  hiện  các 

bệnh  lý  rối  loạn  chuyển  hoá  bẩm  sinh  còn  gặp 

nhiều  khó  khăn  do  chúng  ta  chưa  có  chương 

trình tầm soát một cách tự động cho tất cả các trẻ 

được sinh ra. Thông thường, trẻ sơ sinh sẽ được 

cho bú ngay từ ngày đầu sau sanh. Nhưng việc 

này  cũng  tiềm  ẩn  một  nguy  cơ  cao  cho  trẻ  nếu 

trẻ  có  rối  loạn  trong  chuyển  hoá  một  trong  các 

thành phần có trong thức ăn của trẻ. Bệnh lý rối 

loạn chuyển hoá galactose là một trong các bệnh 

rối loạn chuyển hoá có thể gặp ở trẻ sơ sinh. Việc 

phát  hiện  bệnh  thường  chậm  trễ  và  trẻ  thường 

được chẩn đoán khi tử vong là tử vong không rõ 

nguyên  nhân.  Báo  cáo  ca  bệnh  này  nhằm  mục 

đích  thông  báo  cho  các  đồng  nghiệp  diễn  tiến 

một trường hợp đã được chẩn đoán nhằm tìm ra 

cách chẩn đoán, phát hiện sớm cũng như hướng 

xử trí khi bé mắc phải. 

TỔNG  QUAN  Y  VĂN  VỀ  BỆNH  LÝ  RỐI 

LOẠN CHUYỂN HÓA GALACTOSE 

Bệnh Galactosemia là một rối loạn di truyền 

liên  quan  tới  chu  trình  chuyển  hóa  đường 

galactose.  

Các  nhà  nghiên  cứu  đã  xác  định  có  một  số 

týp bệnh galactosemia. Người bệnh mắc mỗi týp 

này là do đột biến ở các gen cụ thể và có những 

tác  động  khác  nhau  đến  các  enzyme  cần  thiết 

cho  quá  trình  phân  cắt  đường  galactose. 

Galactosemia thể cổ điển, hay còn được biết đến 

như là galactosemia týp I (thiếu hụt galactose‐1‐

phosphate  uridyl  transferase),  là  loại  phổ  biến 

nhất  và  mang  lại  hậu  quả  nghiêm  trọng  nhất. 

Galactosemia  týp  II  (hay  còn  gọi  là  thiếu  hụt 

galactosekinase)  và  týp  III  (có  tên  khác  là  thiếu 

galactose epimerase) mang các dấu hiệu và triệu 

chứng đặc trưng khác nhau. 

Nếu  trẻ  sơ  sinh  mắc  bệnh  galactosemia  cổ 

điển không được điều trị ngay lập tức bằng việc 

hạn chế đồ ăn chứa galactose, các biến chứng đe 

dọa tính mạng sẽ xuất hiện trong vòng vài ngày 

sau khi sinh. Trẻ sơ sinh bị biến chứng sẽ có biểu 

hiện điển hình như khó cho bú, chậm phát triển, 

cân nặng và chiều cao không tăng như dự kiến,  vàng da và mắt, tổn thương gan và bị chảy máu.  Các biến chứng nguy hiểm khác của bệnh này có  thể  bao  gồm  nhiễm  trùng  nặng  (sepsis)  và  bị  shock.  Trẻ  bị  tổn  thương  cũng  bị  tăng  nguy  cơ  chậm phát triển, khó phát âm, và thiểu năng trí  tuệ.  Phụ  nữ  với  di  chứng  của  galactosemia  có  thể có vấn đề về sinh sản do suy buồng trứng(1).  Galactosemia týp II gây ra ít vấn đề sức khỏe  hơn  thể  cổ  điển.  Trẻ  mắc  bệnh  bị  gia  tăng  đục  thủy tinh thể, nhưng ngược lại ít các biến chứng  lâu  dài  hơn.  Dấu  hiệu  và  triệu  chứng  của  galactosemia  týp  II  thì  biến  thiên  từ  nhẹ  đến  nặng và có thể bao gồm đục thủy tinh thể, chậm  lớn và chậm phát triển, thiểu năng trí tuệ và mắc  các bệnh về thận(1). 

Tần  suất  mắc  bệnh  loại  cổ  điển  khoảng  1/30.000  –  60.000  trẻ  sơ  sinh.  Loại  II  và  loại  III  xảy ra ít phổ biến hơn, loại II với tỷ lệ 1/100.000  trẻ sơ sinh. Loại III hầu như là rất hiếm xảy ra,  chỉ một vài bệnh nhân được báo cáo ở mỗi quốc  gia.  Tỷ  lệ  mắc  bệnh  khác  nhau  theo  các  nhóm  dân  tộc,  các  vùng  miền.  Ở  châu  Âu  tỷ  lệ  mắc  GALT là 30.000 đến 40.000(7). Ở Nhật Bản 1 trong 

1 triệu trẻ sơ sinh(4).   Các  nhà  khoa  học  đã  xác  định  một  số  loại  rối loạn chuyển hóa Galactosemia. Các loại bệnh  này  gây  ra  bởi  đột  biến  ở  một  số  các  gen  đặc  biệt,  và  ảnh  hưởng  đến  hoạt  động  của  các  enzym  khác  nhau  liên  quan  đến  việc  quá  trình  chuyển  hóa  đường  Galactose.  Bệnh  Galactosemia  cổ  điển,  còn  được  gọi  là  týp  I  (thiếu  enzym  galactose‐1  phosphate  uridyltransferase  ‐  GALT),  là  loại  hay  gặp  và  nghiêm  trọng  nhất.  Bệnh  Galactosemia  týp  II  (thiếu  enzym  galactokinase  ‐  GALK)  và  týp  III  (thiếu  enzym  UDP‐galactose‐4‐epimerase  ‐  GALE) thường chiếm tỷ lệ ít hơn và gây ra các  triệu chứng lâm sàng khác nhau. 

 Người bị bệnh Glactosemia cổ điển có rất ít  hoặc  thiếu  loại  enzym  GALT,  giúp  phá  vỡ  cấu  trúc đường Galactose. 

Các  nhà  khoa  học  đã  phát  hiện  có  tới  hơn 

180  đột  biến  trên  gen  GALT  gây  nên  bệnh 

Trang 3

Galactosemia  cố  điển.  Hầu  hết  các  biến  đổi  ở 

gen GALT là thay đổi các axit amin trong cấu 

trúc protein. 

GALT đột biến nhiều nhất được tìm thấy ở 

người da trắng (Châu  Âu  và  Bắc  Mỹ),  thay  thế 

axit min Glutamine với axit amin Arginine ở vị 

trí  188  trong  gen.  Một  đột  biến  trên  gen  GALT 

xảy ra đối với người gốc châu Phi là sự thay thế 

axit amin Leuxin cho axit amin Serin ở vị trí 135 

của gen này. 

Bệnh galactosemia là bệnh di truyền lặn trên 

nhiễm  sắc  thể  thường.  Người  không  bị  bệnh 

galactosemia mang hai alen bình thường để sản 

xuất  các  enzyme  GALT  (enzyme  cần  thiết  để 

chuyển  đổi  galactose  thành  glucose  sử  dụng 

được  bởi  cơ  thể).  Kiểu  gen  của  người  này  sẽ  là 

N/N và hoạt động enzyme của họ bình thường. 

Người được thừa hưởng một alen bình thường 

và  một  alen  gây  bệnh  từ  cha  mẹ.  Kiểu  gen  của 

người  này  sẽ  là  G/N  và  hoạt  động  enzyme  của 

họ  sẽ  yếu  hơn  bình  thường,  nhưng  không  yếu 

hơn quá nhiều. Một người mang hai alen bị đột 

biến  sẽ  gây  ra  bệnh  galactosemia  cổ  điển.  Kiểu 

gen của người này sẽ là G/G và enzyme của họ 

không hoạt động. 

Về mặt triệu chứng và biểu hiện lâm sàng  

Trẻ  sơ  sinh  bị  bệnh  Galactosemia  cổ  điển 

thường có biểu hiện sau khi sinh. Trẻ càng được 

cho bú sớm thì các dấu hiệu xuất hiện càng sớm, 

nhiều khi các dấu hiệu xuất hiện từ lúc trẻ được 

2 ngày tuổi.  

Các  triệu  chứng  sớm  của  bệnh  có  thể  bao 

gồm: Vàng da vàng mắt, ói mửa, tăng cân chậm, 

hạ đường huyết, bú kém, trẻ khó chịu, hôn mê, 

co giật … 

Nếu không được điều trị, các triệu chứng có 

thể  gồm:  đục  thủy  tinh  thể,  gan  lách  to,  tổn 

thương  não,  sưng  phù  các  chi  hoặc  tổn  thương 

dạ  dày,  nhiễm  vi  khuẩn  Escherichia  coli  (nhiễm 

trùng huyết) xơ gan, suy gan, tổn thương thận, 

tử vong. 

Khi chẩn đoán trẻ bị bệnh Galactosemia, cần 

có chế độ ăn uống hạn chế  thực  phẩm  có  chứa 

Galactose  ngay  lập  tức  nhằm  ngăn  chặn  tình  trạng ngộ độc cấp. 

Tuy nhiên các biến chứng lâu dài có thể xảy 

ra.  Bao  gồm:  Tăng  trưởng  chậm,  học  tập  kém,  rối loạn ngôn ngữ, chậm phát triển. 

Xét  nghiệm  máu  để  phát  hiện  bệnh  Galactosemia  bằng  cách  đo  nồng  độ  đường  Galactose trong máu. Cũng có thể tiến hành đo  nồng  độ  đường  Galactose  trong  nước  tiểu.  Đối  với trẻ sơ sinh chỉ cần tiến hành lấy vài giọt máu 

ở gót chân trong thời gian 48‐72 giờ sau khi sinh 

là  có  thể  phát  hiện  được  trẻ  có  bị  bệnh  Galactosemia  hay  không,  việc  xác  định  chẩn  đoán  sẽ  được  tiến  hành  bằng  cách  kiểm  tra  lại  máu lần thứ hai. Chẩn đoán sớm và điều trị kịp  thời  cho  trẻ  để  tránh  những  biến  chứng  ảnh  hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ.  Hiện  nay  không  có  cách  điều  trị  dứt  điểm  được bệnh Galactosemia. Việc điều trị là loại bỏ  đường Galactose trong thức ăn để tránh tái diễn  các  triệu  chứng,  và  việc  điều  trị  này  là  lâu  dài.  Người bị bệnh Galactosemia thường phải loại bỏ  những thực phẩm có chứa đường galactose khỏi  phần ăn, nhất là loại bỏ hẳn sữa và các sản phẩm  sữa.  Vì  sữa  và  các  sản  phẩm  sữa  thường  chứa  nhiều canxi, nên phải thường bổ sung canxi cho  những  người  bị  bệnh  Galactosemia  dưới  dạng  những  thực  phẩm  bổ  sung  và  có  thể  thay  thế  sữa bằng các sản phẩm sữa đậu nành. 

PHẦN BÁO CÁO CA BỆNH 

Bệnh  nhân  được  nhập  vào  khoa  với  chẩn  đoán theo dõi bệnh lý rối loạn chuyển hoá bẩm  sinh. Gia đình có tiền sử sanh 3 bé đầu tiên đều  mất  chưa  rõ  nguyên  nhân.  Trường  hợp  thứ  1  chết  sau  sanh  11  ngày.  Trường  hợp  thứ  2  chết  sau sanh 15 ngày và trường hợp thứ 3 chết sau  sanh 1,5 tháng. Đến bé thứ 4 được chẩn đoán là  theo  dõi  bệnh  lý  rối  loạn  chuyển  hoá,  và  bé  đã  được  chuyển  ngay  đến  bệnh  viện  Nhi  trung  ương để điều trị ngay từ ngày thứ 1. Khi vào bé  thở đều, cân nặng 2900g, khám lâm sàng không  phát hiện gì bất thường. Bé được nuôi bằng dịch  truyền  đường  hoàn  toàn.  Bé  được  làm  các  xét 

Trang 4

nghiệm  chẩn  đoán  bệnh  lý  chuyển  hoá  acid 

amin, acid béo, acid hữu cơ ; kết quả NH3 không 

cao, ceton niệu (‐). Bé được cho bú mẹ thử. Sau 6 

ngày bú mẹ và truyền dịch, trên da bé xuất hiện 

các  chấm  xuất  huyết  dưới  da,  vàng  dạ  Có  rối 

loạn đông máu và được truyền huyết tương tươi 

đông lạnh. Nghi ngờ giảm prothrombin do suy 

gan.  Bé  tiếp  tục  được  điều  trị  kháng  sinh,  dịch 

truyền và bú mẹ. Sau truyền plasma bé có phục 

hồi  về  rối  loạn  đông  máụ  Sau  đó  bé  không  có 

điều trị đặc hiệu và chỉ được theo dõi đông máu 

toàn bộ. Sau 43 ngày điều trị, tình hình nặng dần 

và người nhà xin về sau nhiều lần được truyền 

plasmạ Bé tử vong sau đó 3 ngàỵ  

Bé thứ 5 lần này là một bé gái, cân nặng lúc 

sanh  là  3500g,  dài  51  cm,  vòng  đầu  34  cm. 

APGAR 8/9. Sanh thường. Khám lâm sàng tổng 

quát ngay sau sanh chưa phát hiện bất thường. 

Bé thở khí trờị Tuy nhiên từ ngay khi vào khoa, 

bé  được  nuôi  dưỡng  hoàn  toàn  bằng  đường 

glucose  truyền  tĩnh  mạch,  không  uống  sữa  mẹ 

hay sữa công thức và được làm các xét nghiệm 

cơ  bản  như:  tổng  phân  tích  tế  bào  máu,  CRP, 

nhóm máu, Rh, Đông máu toàn bộ, siêu âm tim 

não  bụng  tổng  quát,  X  quang  tim  phổi  thẳng. 

Các xét nghiệm về cho kết quả bình thường. Bé 

có nhóm máu Ợ Sang ngày thứ 2, bé rất đòi ăn 

và được cho ăn glucose 10%. Từ ngày thứ 4, bé 

bắt đầu có biểu hiện vàng da và được  cho  thử: 

khí  máu  động  mạch,  đông  máu  toàn  bộ,  ion 

đồ/máu, CRP, Bilirubine, NH3, lactate/máu, tổng 

phân  tích  nước  tiểu,  đường  huyết  tại  giường. 

Kết  quả  đông  máu  toàn  bộ  có  rối  loạn  và  bé 

được  truyền  huyết  tương  tươi  đông  lạnh,  rọi 

đèn  điều  trị  vàng  dạ  Khí  máu  động  mạch  có 

toan chuyển hoá nhẹ với pH là 7,330 (không tính 

được  ANION  GAP  do  không  đo  được  Cl‐). 

Lactate  3,59  (ngưỡng  0,63‐2,44  mmol/L) ;  NH3 

60,4  (11‐60  micromol/L).  Bé  vẫn  tiếp  tục  được 

cho truyền đường và ăn hoàn toàn glucose kèm 

điện giải, rọi đèn. Lượng bú ngày một tăng và bé 

ngưng dịch truyền vào ngày thứ 13. Bé bú hoàn 

toàn  glucose  10%  kèm  điện  giảị  Bé  được  làm 

thêm các xét nghiệm SGOT, SGPT, TSH, G6PD, 

Coombs  Test,  alpha‐foetoprotein,  và  được  tầm 

soát 48 bệnh lý rối loạn chuyển hoá. Các kết quả  trả về đều bình thường, ngoại trừ AFP là 37470  ng/ml.  Bé  bắt  đầu  được  cho  ăn  sữa  loãng  từ  ngày thứ 13. Sau 2 ngày uống sữa, lâm sàng vẫn  bình thường và bé được làm lại các xét nghiệm  tầm  soát :  khí  máu  động  mạch,  SGOT,  SGPT,  BUN,  Creatinin,  CRP,  ion  đồ,  NH3/máu,  Afp/máụ  Kết  quả  khí  máu  động  mạch  có  toan  chuyển hoá, kiềm hô hấp bù trừ 1 phần. Anion  Gap là 18,1 mmol/l. AFP giảm còn 17939 ng/ml. 

Bé  được  chẩn  đoán  theo  dõi  bệnh  lý  rối  loạn  chuyển  hoá  và  cho  làm  lại  tầm  soát  48  bệnh  lý  chuyển  hoá  và  được  nuôi  ăn  bằng  sữa  progestimilk từ ngày thứ 16. Diễn tiến lâm sàng  vẫn tiến triển tốt. Ngày thứ 21, bé có kết quả tầm  soát  48  bệnh  với  chẩn  đoán  là  galactosemiạ  Bé  được  chuyển  sang  nuôi  dưỡng  hoàn  toàn  bằng  sữa lacto‐freẹ Bé lên cân tốt, không có biểu hiện  thần  kinh.  Thử  lại  chức  năng  gan  bình  thường 

và bé được cho xuất viện với chẩn đoán rối loạn  chuyển hoá galactose sau 26 ngày điều trị. Hiện  tại  bé  đã  được  hơn  12  tháng  tuổi,  cân  nặng  15 

kg,  và  bắt  đầu  chập  chững  những  bước  đi  đầu  đờị  Tuy  nhiên  bé  vẫn  phải  uống  sữa  lacto‐free 

và ăn các thức ăn không có đường. 

BÀN LUẬN 

 Bệnh  lý  rối  loạn  chuyển  hoá  ở  trẻ  sơ  sinh  tuy là bệnh hiếm gặp, nhưng rất khó chẩn đoán 

ở giai đoạn đầụ Em bé sau sanh thường chưa có  biểu hiện đặc biệt, và các thăm khám cũng như  xét  nghiệm  cận  lâm  sàng  thường  cho  kết  quả  bình  thường.  Việc  thận  trọng  ngay  từ  những  bước đầu là rất quan trọng. Nuôi dưỡng bé hoàn  toàn  bằng  đường  glucose  được  cho  là  khá  an  toàn.  Trong  trường  hợp  ở  đây,  các  thăm  khám  lâm sàng cũng như xét nghiệm đều cho kết quả  gần như bình thường. Xét nghiệm khí máu động  mạch  cũng  như  tính  toán  lượng  anion  GAP  cũng  khá  tốt  trong  chẩn  đoán  bệnh  lý  rối  loạn  chuyển hoá bẩm sinh. Khi các xét nghiệm trả về  đều  bình  thường,  bé  đã  được  cho  bú  sữa  bình  thường  kèm  dung  dịch  glucose  pha  điện  giải  xen kẽ để đánh giá khả năng hấp thu sữa của bé.  Việc thận trọng này rất cần thiết để hạn chế các 

Trang 5

lý rối loạn chuyển hoá bẩm sinh. Sau khi cho ăn 

sữa  48  giờ  rồi  tạm  ngưng,  bé  được  cho  làm  lại 

các xét nghiệm tầm soát bệnh lý rối loạn chuyển 

hoá và đã cho kết quả dương tính với bệnh lý rối 

loạn  chuyển  hoá  galactose  kèm  khí  máu  động 

mạch có anion GAP tăng. Sở dĩ lần đầu tiên thử 

tầm soát 48 bệnh lý rối loạn chuyển hoá không 

cho  ra  kết  quả  dương  tính  với  bệnh  nào  vì  bé 

chưa  được  tiếp  xúc  với  thức  ăn  có  thành  phần 

không  chuyển  hoá  được.  Việc  thử  cho  bé  tiếp 

xúc  với  sữa  công  thức  là  cần  thiết  để  đánh  giá 

khả năng chuyển hoá các chất của bé. Tuy nhiên 

khi  cho  ăn  sữa  công  thức  bình  thường  cần  rất 

thận  trọng  và  cho  ăn  lượng  vừa  phải  và  phải 

dừng lại ngay khi có kết luận có bệnh lý rối loạn 

chuyển hoá. Có thể kiểm soát mức độ toan máu 

của  bé  thông  qua  xét  nghiệm  khí  máu  động 

mạch và kiểm tra thêm NH3/máu. Hiện tại bệnh 

lý  rối  loạn  chuyển  hoá  galactose  đã  được  biết 

đến và đã có loại sữa đặc biệt dành cho loại bệnh 

này là lacto‐free. Tuy nhiên việc nuôi dưỡng bé 

về  sau  cần  có  sự  tham  gia  của  các  chuyên  gia 

dinh dưỡng. 

KẾT LUẬN 

Phát  hiện  bệnh  lý  rối  loạn  chuyển  hoá 

galactose thật sự không quá khó, nhưng đòi hỏi 

sự cẩn thận và tầm soát tốt cũng như thận trọng 

trong điều trị. Hiện tại ở Việt Nam, gia đình có 

trẻ bị mắc phải bệnh lý này thường có tiền sử là 

có một hoặc vài trẻ bị tử vong trước đó vì chúng 

ta  chưa  có  chương  trình  triển  khai  tầm  soát  48  loại bệnh lý rối loạn chuyển hoá bẩm sinh. Việc  tầm soát tuy không quá phức tạp nhưng khá tốn  kém và phải gửi mẫu ra nước ngoài, kết quả trả 

về thường chậm. Thông qua báo cáo trường hợp  bệnh này nhằm gióng lên hồi chuông cảnh báo  các bệnh lý rối loạn  chuyển  hoá  có  thể  có  ở  trẻ 

mà  thường  khi  tử  vong  tại  bệnh  viện  có  khoa  phụ sản, được chẩn đoán là chết chưa rõ nguyên  nhân. Rất mong chương trình tầm soát các bệnh 

lý  rối  loạn  chuyển  hoá  nặng  có  thể  được  triển  khai và được thực hiện một cách rộng rãi cho tất 

cả các trẻ được sinh ra tại Việt Nam 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Chase R. (2009). Galactosemia. Genome and Medicine. 

2 Elsas LJ. (2000). Galactosemia, GeneReviews. 

3 Gropper  SS, Weese  JO, West  PA, Gross  KC.  (2000).  Free  galactose  content  of  fresh  fruits  and  strained  fruit  and  vegetable  baby  foods:  more  foods  to  consider  for  the  galactose‐restricted diet, 100(5):573‐5. 

4 Hirokawa  H, Okano  Y, Asada  M, Fujimoto  A, Suyama 

I, Isshiki  G.  (1999).  Molecular  basis  for  phenotypic  heterogeneity  in  galactosaemia:  prediction  of  clinical  phenotype  from  genotype  in  Japanese  patients.  Eur  J  Hum  Genet; 7(7): 757‐64. 

5 Hunter  M, Angelicheva  D, Levy  HL, Pueschel 

SM, Kalaydjieva  L.  (2001).  Novel  mutations  in  the  GALK1  gene  in  patients  with  galactokinase  deficiency. Hum  Mutat. 17(1):77–8. 

6 Panis  B, Forget  PP, van  Kroonenburgh  MJ, Vermeer 

C, Menheere  PP, Nieman  FH, Rubio‐Gozalbo  ME.  (2004).  Bone metabolism in galactosemia; 35(4): 982‐987. 

7 Sutton  VR,  Hahn  S,  TePa  E.  (2012).  Clinical  features  and  diagnosis of galactosemia. 

8 Timson  DJ.  (2006).  The  Structural  and  Molecular  Biology  of  Type III Galactosemia. IUBMB Life, 58(2): 83 – 89. 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 08:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm