1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều trị ngoại khoa bệnh lý động mạch cảnh qua 88 trường hợp

6 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 352,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu phẫu thuật điều trị bệnh lý động mạch cảnh được biết đến và phát triển mạnh trong thập niên trở lại đây, có liên quan đến sự hiểu biết về sinh lý bệnh, lâm sàng của thiếu máu não và có thương tổn động mạch ngoài sọ có liên quan, đồng thời nhờ sự tiến bộ của phương pháp chụp động mạch và phát triển của phẫu thuật mạch máu.

Trang 1

QUA 88 TRƯỜNG HỢP 

Nguyễn Văn Khôi* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Phẫu thuật điều trị bệnh lý động mạch cảnh được biết đến và phát triển mạnh trong thập niên trở 

lại đây, có liên quan đến sự hiểu biết về sinh lý bệnh, lâm sàng của thiếu máu não và có thương tổn động mạch  ngoài sọ có liên quan, đồng thời nhờ sự tiến bộ của phương pháp chụp động mạch và phát triển của phẫu thuật  mạch máu.  

Phương pháp: Tổng kết lại các chẩn đoán về lâm sàng và cận lâm sàng của 88 bệnh nhân bị xơ vữa động 

mạch vào điều trị tại Trung tâm bệnh lý mạch máu La Défense và La Roseraire, Pháp khi tôi theo học và phụ mổ 

từ năm 1994 – 1996. 

Kết quả: 88 trường hợp đã được chẩn đoán và điều trị ngoại khoa 88/88 (100%) trường hợp, cả 88 trường 

hợp đều được mổ bóc vỏ nội mạc động mạch, hoặc bắc cầu, hoặc cắm lại động mạch… Cả 88 trường hợp (100%)  đều lành bệnh và xuất viện. 

Kết luận: Bệnh lý xơ vữa động mạch của các động mạch ngoài sọ cung cấp máu lên não sẽ làm ảnh hưởng 

đến tuần hoàn não, cần phải được chẩn đoán và điều trị sớm để ngừa các biến chứng có thể xảy ra.  

Từ khóa: xơ vữa động mạch, bóc vỏ nội mạc, bắc cầu.  

ABSTRACT 

SURGERY TREATMENT 88 PATIENTS WITH CAROTID ATHEROSCLEROSIS 

Nguyen Van Khoi * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2013: 44 - 49 

Objectives: surgery treatment carotid atherosclerosis have been known and develop in century as a result 

understanding about physiopathology and clinical of artery out of brain. Besides that, DSA and vascular surgery  develop rapidly. 

Methods:  retrospective  study  patients  with  arteriosclerosis  have  been  surgery  treated  at  vascular  disease 

center La Défense and La Rosaie, France where I studied as an assistant in 1994 and 1996. 

Results: There were 88 patients with carotid atherosclerosis have been diagnosed and treated by surgery. 

Surgery treatment include: endarterectomy, vascular by pass, arterial anastomosis… 88 patients had good results  and discharge in good condition. 

Conclusions: the carotid artery supply blood to brain so the atherosclerosis of this artery reduce the blood to 

brain. It must be early diagnosis and treatment with surgery to prevent complications. 

Keywords: atherosclerosis, endarterectomy, vascular by pass. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Phẫu thuật điều trị bệnh lý động mạch cảnh 

đã  được  biết  đến  và  phát  triển  mạnh  trong 

khoảng  thập  niên  trở  lại  đây.  Nó  có  liên  quan 

đến  sự  hiểu  biết  về  sinh  lý  bệnh,  lâm  sàng  của 

thiếu  máu  não  và  các  thương  tổn  động  mạch  ngoài  sọ  có  liên  quan,  đồng  thời  cũng  nhờ  sự  tiến  bộ  của  những  phương  thức  chụp  động  mạch  và  sự  phát  triển  của  chuyên  khoa  ngoại  mạch máu. 

* Bệnh viện Chợ Rẫy 

Tác giả liên lạc: PGS.TS. Nguyễn Văn Khôi   ĐT: 0913196136   Email: khoinguyenvan@yahoo.co.uk  

Trang 2

lý  mạch  máu  La  Défense  và  La  Roseraie,  Paris, 

tôi  đã  phụ  mổ  cho  Giáo  sư  JM.Cormier  88 

trường hợp bệnh lý động mạch do xơ vữa hoặc 

có kèm theo hẹp mạch máu nơi khác.  

SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Sử dụng toàn bộ số liệu bệnh nhân đến thăm 

khám, được chẩn đoán, điều trị và theo dõi sau 

mổ  tại  các  bệnh  viện  đã  nêu  từ  tháng  10/1994 

đến tháng 10/1995. 

KẾT QUẢ 

Độ tuổi và giới tính  

Giới tính: Nam: 56; Nữ: 32 

Bảng 1: Độ tuổi: 

Triệu chứng lâm sàng 

Bệnh  nhân  có  thể  có  các  triệu  chứng  như 

sau: 

Có cơn thiếu máu não tạm thời.  

Ù tai 

Yếu nửa người đột ngột  

Loạn vận ngôn 

Cóng, sững sờ 

Cảm giác kiến bò 

Lạc hướng không gian – thời gian đột ngột. 

Không mạch lạc 

Đột quị mất trí nhớ 

Khám thấy yếu vận động và cảm giác 

Các xét nghiệm cận lâm sàng 

Tất cả 88 trường hợp đều được làm siêu âm 

doppler động mạch và chụp động mạch.  

Phát hiện hẹp lớn hơn 70% do xơ vữa động  mạch trong 87/88 và phát hiện một trường hợp  dài và xoắn động mạch cảnh trong bên phải.  Ngoài  ra  để  chuẩn  bị  cho  bắc  cầu  về  sau,  cũng  đã  làm  siêu  âm  doppler  tĩnh  mạch  hiển  trong một hoặc hai bên để đánh giá có viêm tắc  tĩnh mạch hay không. 

Ngoài ra còn chụp một vài động mạch khác  trên  cơ  thể  bệnh  nhân  khi  nghi  ngờ  có  thương  tổn qua khám lâm sàng.  

Phát  hiện  các  tổn  thương  khi  chụp  động  mạch cảnh 

Tổn thương phía bên phải 

Hẹp hành cảnh và lỗ động mạch cảnh trong.  Bệnh  lý  động  mạch  cảnh  kèm  hẹp  các  nơi  khác  như  động  mạch  dưới  đòn,  hẹp  thân  cánh  tay đầu, hẹp điểm siphon: 04 trường hợp. 

Dài và xoắn động mạch cảnh trong. 

Tổn thương phía bên trái 

Hẹp  động  mạch  cảnh,  hành  cảnh,  lỗ  động  mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài.  Bệnh động mạch cảnh kèm hẹp động mạch  dưới đòn, lỗ động mạch cột sống và động mạch  đùi nông trái.  

(Bệnh  động  mạch  cảnh:  Bao  gồm  hẹp  lỗ  động  mạch  cảnh  gốc,  xơ  vữa  động  mạch  cảnh  gốc, xơ vữa hành cảnh, hẹp lỗ động mạch cảnh  trong và cảnh ngoài). 

Điều trị ngoại khoa 

Các loại phẫu thuật đã tiến hành 

Bóc  nội  mạc  hành  cảnh  và  tái  tạo  lại  thành  mạch. 

Bắc cầu bên – tận giữa động mạch cảnh gốc 

và động mạch cảnh trong. 

Cắm động mạch cảnh gốc vào thân cánh tay  đầu. 

Cắm động mạch cảnh trong vào hành cảnh.  Bắc cầu bên – tận giữa động mạch dưới đòn  phải  và  động  mạch  cảnh  trong  trái  trước  khí  quản: 31 trường hợp 

Trang 3

mạch cảnh gốc. 

Cắt  đoạn  và  nối  tận  –  tận  động  mạch  cảnh 

trong phải bị xoắn.  

Mở  xương  ức  cắm  trực  tiếp  tận  –bên  thân 

cánh tay đầu vào động mạch chủ quai lên. 

Nong điểm siphon bên phải bằng bóng.  

Nong  chỗ  hẹp  động  mạch  đùi  nông  trái 

bằng bóng và đặt stent. 

Chất liệu sử dụng trong phẫu thuật 

Mảnh vá (patch) bằng 

Mersilène: 18 trường hợp 

Tĩnh mạch hiển trong: 11 trường hợp 

Core tex 8: 05 trường hợp 

Dacron: 04 trường hợp 

Bắc cầu bằng 

Tĩnh mạch hiển trong: 38 trường hợp 

Gore tex 7: 04 trường hợp 

Gore tex 8: 08 trường hợp 

Dụng cụ 

Nong động mạch bằng bóng: 02 trường hợp  

Đặt stent:01trường hợp 

Kỹ thuật mổ 

Tư thế bệnh nhân 

Đặt bệnh nhân nằm ngửa, trùm tóc lại. Đầu 

nghiêng sang đối bên. Dái tai bên mổ khâu kéo 

lên trên. Độn gối nhỏ dưới vai phía bên mổ. Tay 

bên mổ duỗi dọc theo thân người. 

Đường mổ 

Rạch  da:  Từ  góc  hõm  ức  đến  xương  chũm, 

rạch theo bờ trước cơ ức đòn chũm.  

Bóc  tách  cắt  bỏ  cơ  bám  da  mặt  và  cơ  vai 

móng.  

Dùng Beckman banh rộng phẫu trường. 

Vào  trong  máng  cảnh  sẽ  thấy  tĩnh  mạch  cổ 

trong  nằm  ngoài  và  động  mạch  cảnh  gốc  nằm 

trong. 

Cắt  bỏ  tĩnh  mạch  thân  giáp  lưỡi  móng  từ 

tĩnh mạch cổ trong vắt ngang qua.  

Bóc tách động mạch cảnh gốc sâu xuống bên  dưới  và  bóc  tách  lên  trên  góc  hàm  để  thấy  rõ  động mạch cảnh trong, chú ý bóc tách thật nhẹ  nhàng  không  được  thô  bạo.  Vì  đi  theo  động  mạch cảnh gốc và động mạch cảnh trong có thân  giao cảm và dây thần kinh X. Đi phía sau hành  cảnh  là  dây  thanh  quản  trên.  Khi  bóc  tách  lên  vùng góc hàm, phải chú ý dây hạ thiệt (XII), dây  thiệt hầu (IX), dây XI và VII. 

Ngoài ra khi bóc tách động mạch cảnh ngoài  phải  chú  ý  động  mạch  hầu  lên  và  động  mạch  giáp trên. 

Khi  bóc  tách  di  động  động  mạch  cảnh  gốc,  động  mạch  cảnh  trong,  động  mạch  cảnh  ngoài  dùng  dây  cao  su  nâng  động  mạch  lên,  riêng  vùng hành cảnh phải thật nhẹ nhàng và thường  dùng xylocain 1% để phong bế nhằm ngăn ngừa  biến chứng. 

Cách xử trí động mạch 

Kẹp mạch máu 

Dùng Satinski kẹp động mạch cảnh gốc nhẹ 

nhàng.  

Dùng  bull–dog  kẹp  động  mạch  cảnh  trong,  cảnh ngoải, giáp trên và hầu lên nhẹ nhàng.  

Xẻ  động  mạch  cảnh  gốc  ‐  hành  cảnh  ‐  động  mạch cảnh trong 

Trước  tiên  phải  đánh  giá  lớp  nội  mạc?  xơ  vữa? hay là viêm lớp nội mạc? 

Dùng que (spatule) để lấy các mảng xơ vữa 

ở  động  mạch  cảnh  gốc,  động  mạch  cảnh  trong  hoặc là động mạch cảnh ngoài. 

Bơm  rửa  nơi  lấy  nội  mạc  động  mạch  bằng  dung dịch NaCl 90/00 ấm để lấy sạch các mảng 

xơ vữa nhỏ. 

Thả kẹp nhẹ nhng từ hai đầu động mạch để  trôi dạt đi các mảng xơ vữa nhỏ. 

Khâu vắt nội mạc bằng prolne 7/0. 

Nếu tái tạo động mạch 

Cắt  miếng  patch  hình  quả  trám  bằng  mersilène hay bằng tĩnh mạch. 

Trang 4

hai prolene 7/0 khâu vắt liên tục. 

Nếu là bắc cầu 

Dùng  Moskito  nong  nhẹ  lỗ  động  mạch  

cảnh trong. 

Dùng đoạn tĩnh mạch hiển trong  hoặc  gore 

tex  nối  tận  –  bên  động  mạch  cảnh  gốc  –  động 

mạch  cảnh  trong.  Có  khi  nối  bên  –  bên  động 

mạch  cảnh  gốc  và  động  mạch  cảnh  trong.  Chỉ 

dùng để khâu la prolene 7/0. 

Khi  cắm  động  mạch  cảnh  gốc  vào  động 

mạch dưới đòn, thì động mạch cảnh gốc bao giờ 

cũng phải để phía sau tĩnh mạch cổ trong nhằm 

tránh chèn vào gây ứ hệ tuần hoàn.  

Riêng  bắc  cầu  bên  –  tận  động  mạch  dưới 

đòn phải và động mạch cảnh trong trái thì đoạn 

ghép  phải  đủ  dài  nhằm  tránh  chèn  ép  các  cơ 

quan trước khí quản và khí quản. 

Đuổi khí – Thả kẹp 

Bơm đầy vào lồng mạch máu  sau  khi  được 

đặt patch hoặc bắc cầu trước khi cột mũi chỉ cuối 

cùng bằng dung dịch NaCl 9 0/00 500 ml cĩ pha 

1  ml  Heparine,  bơm  vài  lần  để  trơi  dạt  hết  các 

mảng xơ vữa nhỏ và các bọt khí. 

Gây mê cho đầu bệnh nhân nằm thấp. 

Thả kẹp: 

Bước  1:  Thả  đầu  trên  thấy  máu  chảy  ra… 

kẹp lại nhẹ. 

Bước  2:  Thả  đầu  dưới  thấy  máu  chảy 

ra…kẹp lại nhẹ. 

Bước 3: Người phụ mổ nắm nhẹ hai mối chỉ, 

phẫu thuật viên thả kẹp đầu trên, dùng ngón trỏ 

và ngón giữa bàn tay phải kẹp chắt đầu trên, thả 

kẹp  đầu  dưới  bằng  tay  trái,  dùng  ngón  cái  và 

ngón trỏ bàn tay trái vuốt động mạch cảnh theo 

chiều máu đẩy đi (tức là hướng lên não) thấy bọt 

khí  trào  ra  chỗ  khâu  nối.  Nếu  là  prothèse  thì 

dùng loại kim nhỏ cắm vào thành prothèse cho 

thoát  khí,  khi  thấy  hết  rút  bỏ  kim  và  thả  hai 

ngón tay phải ra, liền theo sau là cột chỉ. 

Đặt đầu bệnh nhn trở lại như ban đầu.  

Đóng vết mổ 

Kiểm tra cầm máu kỹ  

Đặt dẫn lưu Redon  Đóng vết mổ hai lớp 

Sử dụng Heparine 

Trước khi kẹp động mạch: dùng 0,5mg / kg 

cơ  thể  Heparine  chích  đường  tĩnh  mạch,  trước 

đó khoảng vài phút. 

Bơm rửa tại chỗ: Pha loãng 1 ml Heparine  trong  500  ml  NaCl  o/oo  bơm  rửa  trôi  dạt  các  mảng  xơ  vữa  và  đuổi  khí,  bơm  từng  bơm   tiêm ruột.  

Sau  mổ  vài  ba  ngày,  nên  truyền  tĩnh  mạch  thông qua theo dõi TQ và TCK. 

Các biến chứng cần theo dõi 

Biến chứng sớm 

Chảy máu: Máu chảy qua dẫn lưu do dùng  Heparine  quá  liều  hoặc  cao  huyết  áp  sau  mổ,  cần phải đánh giá và xử trí đúng. 

Liệt các dây thần kinh: Bệnh nhân có dị cảm  vùng  cổ  và  thái  dương.  Lý  do  là  cắt  hoặc  bóc  tách thô bạo làm tổn thương các dây thần kinh  như:  nhánh  dưới  của  thần  kinh  mặt,  dây  hạ  thiệt,  dây  lang  thang,  dây  thanh  quản  trên.  Riêng  liệt  dây  X,  dây  thanh  sẽ  hồi  phuc  trong  nhiều tuần sau mổ.  

Suy yếu về thần kinh sau mổ là do: 

Thuyên tắc trong và sau mổ.  

Huyết khối xung quang vùng bóc nội mạc.  Huyết  khối  trong  lòng  động  mạch  đối  bên  hoặc các động mạch trong sọ. 

Thiếu máu do kẹp động mạch cảnh  Hiện  tượng  tăng  mạch:  gây  xung  huyết  (phù, xuất huyết) 

Sự  tiến  triển  tiếp  theo  của  một  ổ  nhũn  não  trước đó trong não.  

Trong  trường  hợp  này  xử  lý  bằng  Corticoide, Mannitol, Heparine. 

Biến chứng muộn 

Sau  bóc  tách  nội  mạc  động  mạch  cảnh  làm  thành động mạch mỏng và rất đàn hồi. 

Trang 5

Tái  tạo  lại  động  mạch  bằng  prothèse  hoặc 

bằng tĩnh mạch: hình thành các dạng túi phình ở 

vùng  cổ,  thuyên  tắc  hoặc  huyết  khối.  Kiểm  tra 

bằng siêu âm Doppler hoặc chụp động mạch. 

Do  nhiễm  Staphylococcus  aureus  tại  chỗ  có 

máu tụ, do viêm nhiễm hoặc chảy máu. 

Vấn đề mổ lại được đặt ra, dùng patch hoặc 

ống  ghép  prothèse  nếu  là  không  nhiễm.  Nếu 

nhiễm trùng dùng ghép tự thân.  

BÀN LUẬN 

Sự  tiến  bộ  vượt  bậc  của  phẫu  thuật  động 

mạch cảnh trong thập niên trở lại đây bao gồm 

sự hiểu biết về: sinh lý bệnh. lâm sàng của thiếu 

máu não và những thương tổn động mạch cảnh 

ngoài hộp sọ có liên quan. 

Các  tác  giả  Cormier  JM,  Kieffer.K,  Moore. 

WS,  Thévenet.  A  và  Thompson.JE(1,2,3,4,5,6)  đều 

nhận thấy rằng:  

Sự ra đời của các phương pháp như: siêu âm 

mạch  máu,  chụp  cắt  lớp  (CT)  não,  chụp  cộng 

hưởng từ (MRI) và chụp mạch máu đã cho phép 

xác định tổn thương động mạch.  

Xác  định  rõ  được  nơi  tổn  thương,  tính  chất 

của thiếu máu não trong não, nắm rõ cơ chế và 

sinh  lý  bệnh,  biết  được  các  bệnh  lý  tim  mạch 

kèm  theo  như  cao  huyết  áp;  nhồi  máu  cơ  tim; 

cơn  đau  thắt  ngực;  nắm  bắt  được  tiểu  sử  bệnh 

nhân  đã  sử  dụng  các  loại  thuốc  để  điều  trị  về 

bệnh lý tim mạch trước đó hoặc các can thiệp đã 

trải qua, tất cả để dự phòng cho sự can thiệp an 

toàn về bệnh lý động mạch cảnh ngoài sọ.  

Trong thập niên trở lại đây với sự phát triển 

của  kỹ  thuật  công  nghệ  y  khoa  như:  thiết  bị;  y 

dụng cụ; mảnh ghép nhân tạo; cùng với sự tiến 

bộ  của  ngành  công  nghiệp  dược;  và  sự  tiến  bộ 

của ngành gây mê hồi sức cũng như ngành phẫu 

thuật  mạch  máu  đã  giúp  cho  chỉ  định  điều  trị 

ngoại khoa bệnh lý động mạch cảnh an toàn và 

triệt để hơn.  

Trong  điều  trị  bằng  bóc  vỏ  nội  mạc  hành 

cảnh  hoặc  bắc  cầu  động  mạch  cảnh,  với  chẩn 

đoán đúng vị trí, chỉ định hợp lý, đánh giá đúng 

diễn tiến bệnh và mổ ở giai đoạn sớm sẽ mang 

lại  kết  quả  tốt.  Theo  tác  giả  Cormier  JM (1) thì  trong  số  88  trường  hợp  đạt  kết  quả  khỏi  bệnh  xuất viện 100%. Còn theo tác giả Thompson JE(6) 

tỉ lệ tử vong sẽ từ 20‐60% giai đoạn tiến triển của  bệnh  khi  can  thiệp  và  tùy  vào  sự  suy  yếu  tuần  hoàn não nặng hay nhẹ và ngược lại.  

Tác  giả  Kieffer.K(2)  và  Cormier  JM(1)  nhận  thấy rằng sự cung cấp máu nuôi vào trong hộp 

sọ  chủ  yếu  là  động  mạch  cảnh  hai  bên.  Tuy  nhiên vẫn còn có sự cung cấp từ động mạch cột  sống hai bên. Nhưng khi bệnh lý xơ vữa xảy ra  thì không chỉ ở hệ động mạch cảnh một hoặc cả  hai  bên,  mà  còn  xảy  ra  ở  động  mạch  cột  sống  một hoặc hai bên và nơi lỗ xuất phát thân cánh  tay  đầu  từ  cung  động  mạch  chủ  ngực.  Vì  vậy  Kieffer K(2) và Cormier JM(1) có thể xử lý mảng xơ  vữa động mạch, kẹp cột và cắm lại hoặc bắc cầu  thân cánh tay đầu vào cung động mạch chủ, kẹp  cột và cắm lại hoặc bắc cầu động mạch cột sống  vào động mạch cảnh chung… 

Tác  giả  Cormier  JM(1)  có  31  trường  hợp  bắc  cầu  từ  động  mạch  dưới  đòn  phải  vào  động  mạch cảnh trong trái thì đoạn ghép phải đủ dài  nhằm  tránh  chèn  ép  các  cơ  quan  trước  khí  quả 

và khí quản. Và khi cắm lại động mạch cảnh gốc  vào  động  mạch  dưới  đòn  thì  động  mạch  cảnh  gốc bao giờ cũng phải để sau tĩnh mạch cổ trong 

để tránh ứ trệ tuần hoàn.  

Các vấn đề như: đường mổ, đặt dẫn lưu và  đóng  vết  mổ,  kỹ  thuật  bắc  cầu,  kỹ  thuật  lấy  mảng xơ vữa, sử dụng Héparine, thời gian kẹp  mạch  máu,  và  thời  gian  chung  cho  phẫu  thuật,  thuốc kết hợp điều trị và săn sóc sau mổ, các tác  giả đã nêu đều tương tự nhau.  

KẾT LUẬN 

Phẫu thuật động mạch cảnh đạt kết quả tốt  khi:  Có  phương  tiện  chẩn  đoán  tốt,  thực  hiện  phẫu thuật ở nơi có chuyên khoa mạch máu và 

có trình độ tay nghề đảm bảo và đặc biệt là phải  phối hợp thật ăn ý của toàn kíp mổ và gây mê.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Rendu  Opératoire  des  88  cas  des  chirurgies  carotidiennes  opérées, Paris. 

Trang 6

2 Kieffer.  K  (1995)  Endartérectomie  carotidienne  par  éversion, 

Chirurgie  des  carotides,  Tome  II.  Chirurgie  vasculaire.  E. 

M.C.1  –  3/43142.  Moor.WS:  Reoperations  for  Early  and  Late 

occlusive complicaions of  asterial  surgery.  Vascular  surgery. 

Principles and Techniques. Second Edition, pp 591‐594. 

Chirurugie  des  carotides,  Tome  II,  Chirurugie  vasculaire. 

E.M.C., 1 – 3/43141. 

Chirurgie des carotides, Tome II, chirurgie vasculaire. E.M.C. 

1 ‐3/43145. 

chirurgie des carotides, Tome II, Chirurgie vasculaire. E.M.C,  1‐3/43146. 

surgery. Principles and techniques. Second Edition, pp 797 – 

811.  

 

Ngày nhận bài báo: 18/04/2013  Ngày phản biện đánh giá bài báo: 8/05/2013  Ngày bài báo được đăng: 27/05/2013  

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 08:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w