Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá lại khả năng phẫu thuật lồng ngực - tim mạch tại Bệnh viện Thống Nhất trong 10 năm ở tất cả những bệnh nhân được điều trị phẫu thuật các bệnh của lồng ngực và tim mạch tại khoa ngoại tổng quát tại Bệnh viện Thống Nhất trong thời gian từ 06/2002 đến 10/2011.
Trang 1TÌNH HÌNH PHẪU THUẬT LỒNG NGỰC – TIM MẠCH
TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT TỪ 06/2002 – 10/2011
Lê Sỹ Sâm*, Đỗ Kim Quế*
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá lại khả năng phẫu thuật Lồng ngực – Tim mạch tại bệnh viện Thống Nhất
trong 10 năm
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang Bao gồm tất cả những bệnh nhân được
điều trị phẫu thuật các bệnh của lồng ngực và tim mạch tại khoa Ngoại Tổng quát, bệnh viện Thống Nhất trong thời gian từ 06/2002 đến 10/2011
Kết quả: Có tất cả 2.662 bệnh nhân được điều trị phẫu thuật các bệnh về lồng ngực và tim mạch Phẫu
thuật các bệnh tim có 291 TH (10,9%), các bệnh lồng ngực có 725 TH (27,2%), các bệnh về mạch máu 505 TH (19%)và các phương pháp phẫu thuật khác có 1141 TH (42,8%) Chỉ định điều trị thường gặp là khối u phổi 266
TH, tràn khí màng phổi 214 TH, Bóc lớp trong động mạch cảnh là phương pháp điều trị phẫu thuật ngăn ngừa đột quị 174 TH, lấy huyết khối động mạch 124 TH, Phẫu thuật bệnh van tim bao gồm sửa van và thay van tim
124 TH Bệnh hẹp động mạch vành có 88 TH Phẫu thuật nội soi lồng ngực 53 TH Kết quả điều trị ngoại khoa là tốt Có 16 TH tử vong có liên quan đến phẫu thuật chiếm tỷ lệ 0,6%
Kết luận: Điều trị phẫu thuật các bệnh lồng ngực – tim mạch cho kết quả tốt Các chỉ định điều trị ngoại
khoa thường gặp là u phổi và mạch máu Các phương pháp phẫu thuật mới như phẫu thuật nội soi lồng ngực được thực hiện với kết quả rất tốt
Từ khóa: phẫu thuật lồng ngực – tim mạch, bệnh van tim, bệnh mạch vành
ABSTRACT
CARDIOVASCULAR – THORACIC SURGERY REVIEW AT THONG NHAT HOSPITAL IN 10 YEAR
(06/2002 – 10/2011)
Le Sy Sam, Do Kim Que* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 36 - 41
Objective: Cardiovascular – Thoracic surgery review at Thong Nhat Hospital in 10 year
Material and method: Retrospective and cross-sectional study Inclusion total patients have been treated
for Cardiovascular – Thoracic deseases at Thong Nhat hospital during 10 years from 06/2002 to 10/2011
Results: 2662 patients were treated by surgery for Cardiovascular – Thoracic deseases Cardiac surgery 291
cases (10.9%), thoracic surgery 725 cases (27.2%), vasculary surgery 505 case (19%), and other surgical procedures 1141 cases (42.8%) The common indications: lung tumor 266 cases, pneumothorax 214 cases Carotid endarterectomy (CEA) is a surgical procedure used to prevent stroke 174 cases (34.5%) Surgical embolectomy procedure 124 case (24.6%) Heart valve surgery or other procedures are performed to repair or replace a valve in the heart 124 (42.6%) Coronary heart disease 88 cases (30.2%) Video-assisted thoracoscopic surgery (VATS) 53 cases The results of the operative treatment were very good There were 16 cases death to have connection with surgery (0.6%)
Conclusions: The surgical treatment of Cardiovascular and Thoracic deseases are very good The common
* Bệnh viện Thống Nhất – TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: TS BS Lê Sỹ Sâm ĐT: 0913601375 Email: lesysam375@gmail.com
Trang 2indications are surgical treatment for lung tumor and vasculary The new operative procedures (as VATS) were performed with results very good
Keysword: Cardiovascula, Thoracic surgery, Heart valve, Coronary disease
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phẫu thuật lồng ngực - tim mạch là những
bệnh lý đa dạng, phức tạp không những do đặc
điểm của bệnh mà còn do khả năng điều trị
phẫu thuật Bệnh lý lồng ngực và tim mạch
ngày càng gia tăng trên thế giới cũng như ở Việt
Nam(1,4,5) Bệnh viện Thống Nhất đã triển khai và
phát triển các phẫu thuật về tim từ tháng
10/2003 cho đến nay Các bệnh lý trong lồng
ngực ngoại trừ tim cũng được phẫu thuật nhiều
với đủ các loại bệnh, đặc biệt là ung thư phổi
Các bệnh lý về mạch máu ngoại vi cũng như nội
tạng được phẫu thuật ngày càng nhiều
Bệnh viện Thống Nhất có nhiệm vụ chính là
bảo vệ sức khỏe cho cán bộ nhà nước, các cán bộ
đã về hưu, tuy nhiên trong những năm qua
bệnh viện cũng rất cố gắng mở rộng thu dung
điều trị, chăm sóc và khám chữa bệnh cho nhân
dân với tất cả các loại hình bệnh tật Bệnh viện
cũng có những đặc thù riêng từ nhiệm vụ bảo
vệ sức khỏe cán bộ vì vậy các lớp tuổi vào điều
trị và loại hình bệnh tật cũng khác các bệnh viện
tại thành phố Hồ Chí Minh(2)
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá lại khả năng phẫu thuật các bệnh
Lồng ngực – Tim mạch được điều trị tại bệnh
viện Thống Nhất
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu, mô tả, cắt ngang
Đối tượng nghiên cứu
Bao gồm tất cả những bệnh nhân được điều
trị phẫu thuật các bệnh của lồng ngực và tim
mạch tại khoa Ngoại Tổng hợp, bệnh viện
Thống Nhất trong thời gian từ 06/2002 đến
10/2011
Phương pháp và kỹ thuật tiến hành
Hồi cứu lại các dữ liệu thống kê của những
năm trước 2005 và hồ sơ bệnh án tại kho lưu trữ trong thời gian 10 năm Xử lý số liệu thống kê bằng các phần mềm thông thường
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Thu dung điều trị
Bảng 1: Tình hình bệnh nhân nhập viện điều trị có
phẫu thuật
Trong 10 năm từ 2002 – 2011 có 2662 trường hợp nhập viện có điều trị phẫu thuật các bệnh
về Lồng ngực – Tim mạch tại Khoa Ngoại tổng quát, bệnh viện Thống Nhất
Số bệnh nhân nhập viện được phẫu thuật trong từng năm gần tương đương nhau kể từ
2003, xấp xỉ khoảng 10%/năm Năm 2002 chỉ thống kê sáu tháng cuối năm, có tỷ lệ 3,2% Với 2.662 TH được điều trị trong 10 năm, trung bình chỉ khoảng 266 trường hợp được phẫu thuật hàng năm, tương đương 20 trường hợp trong một tháng Con số thống kê tuy không lớn nhưng cũng nói lên nỗ lực phấn đấu
để phát triển chuyên khoa ngoại Lồng ngực – Tim mạch trong những năm qua(2)
Đặc điểm chung về tuổi và giới tính
Bảng 2: Phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới
Trang 3Lớp tuổi Nam Nữ Cộng Tỷ lệ
Chiếm cao nhất là bệnh nhân trong lớp tuổi
từ 60 đến 75 tuổi với 37,3% Số bệnh nhân dưới
40 tuổi chiếm chưa đến 1/5 trường hợp (18,1%)
Bệnh nhân trên 60 tuổi: 54,6% Lớp tuổi vào điều
trị cũng mang đặc thù chung của bệnh viện
Thống Nhất, chủ yếu là bệnh nhân người lớn
tuổi, cán bộ đã về hưu
Số bệnh nhân nam chiếm 61,3%, nữ chiếm
38,7% Tỷ lệ nam/nữ là 3/2 Tỷ lệ nam/nữ cũng
tương đương thu dung điều trị của toàn bệnh
viện trong năm 2010
Cơ cấu các bệnh Lồng ngực – Tim mạch
Bảng 3: Phân bố các loại bệnh Lồng ngực – Tim
mạch theo từng năm
Tỷ lệ các loại bệnh tim nhập viện được phẫu
thuật 291 trường hợp chiếm 10,9% Phẫu thuật
tim cũng bắt đầu thực hiện từ tháng 10/2003 với
nhiều khó khăn phải vượt qua để có như ngày
hôm nay
Các bệnh của lồng ngực có 725 trường hợp
chiếm gần 1/3 số trường hợp (27,2%) Phẫu
thuật các bệnh trong lồng ngực là mũi nhọn
trong những ngày đầu mới hình thành tổ lồng
ngực – tim mạch trong khoa ngoại Tổng hợp
với nguồn bệnh từ các bệnh viện mà chủ yếu
từ bệnh viện Phạm Ngọc Thạch (trước 2005
bệnh viện Phạm Ngọc Thạch chưa có khoa
phẫu thuật Lồng ngực)(2,3)
Các bệnh về mạch máu có 505 trường hợp
chiếm 19% Điều trị phẫu thuật các bệnh khác có
tỷ lệ cao nhất (39%) được thống kê và xếp vào
nhóm này chủ yếu là phẫu thuật tạo dò động – tĩnh mạch hoặc làm ống ghép tăng cường lưu lượng tĩnh mạch trong bệnh suy thận mạn cần lọc thận nhân tạo
Điều trị các bệnh tim
Bảng 4: Chẩn đoán và phương pháp phẫu thuật các
bệnh tim
Bảng 4 sắp xếp các chẩn đoán bệnh theo từng nhóm bệnh tim trong khi phương pháp mổ được sắp xếp theo thứ tự tỷ lệ giảm dần
Phẫu thuật thay van tim và sửa lại van tim
có 124 TH, chiếm tỷ lệ 42,6% các bệnh tim được mổ Phẫu thuật bệnh hẹp động mạch vành với 88 trường hợp chiếm tỷ lệ 30,2%
Trang 4Phẫu thuật đóng lỗ thông liên nhĩ chiếm
12,4% Chỉ có một bệnh nhân u nhầy nhĩ
được mổ
Điều trị các bệnh lồng ngực
Bảng 5: Chẩn đoán các bệnh lồng ngực
Các u trong ngực
Các bệnh trong lồng ngực được hiểu là các
bệnh của các cơ quan trong lồng ngực ngoại trừ
tim vá mạch máu lớn thuộc về nhóm tim mạch
Viêm nhiễm ở màng phổi bao gồm mủ MP,
ổ cặn MP Máu đông MP, Viêm dính MP và dò
từ khí phế quản hoặc thực quản vào MP
Bệnh khác ở thực quản bao gồm hẹp TQ, dò
TQ-KQ, dò TQ-MP, dò TQ-MP
Bệnh khác ở trung thất là áp xe trung thất
Phẫu thuật nhiều nhất trong các bệnh của
phổi là u ở phổi với 266 trường hợp chiếm hơn
1/3 trường hợp bệnh lồng ngực được mổ
Tràn khí màng phổi chiếm 29,5%, tràn dịch
màng phổi chiếm 9,8% và kén khí phổi cũng
được phẫu thuật nhiều (5,7%)
Bảng 6: Các phương pháp phẫu thuật bệnh trong
lồng ngực
Các phẫu thuật khác chủ yếu là bệnh ung thư thực quản quá chỉ định cắt u, tạo hình thực quản phải mở thông dạ dày nuôi ăn
Điều trị các bệnh về mạch máu
Bảng 7: Chẩn đoán và các phương pháp phẫu thuật
bệnh mạch máu
Trang 5Điều trị chấn thương, vết thương Lồng
ngực – Tim mạch
Bảng 8: Chẩn đoán và phẫu thuật các chấn thương
và vết thương lồng ngực – tim mạch
Vết thương động mạch bao gồm vết thương
động mạch cảnh, vết thương động mạch cánh
tay (13 TH), vết thương động mạch đùi (3 TH)
Vết thương tĩnh mạch: vết thương tĩnh mạch
cảnh (2 TH), vết thương tĩnh mạch chủ (2 TH)
Điều trị một số bệnh khác
Bảng 9: Chẩn đoán và phương pháp phẫu thuật các
bệnh khác
Phẫu thuật một số bệnh lý khác là bao gồm
các bệnh nằm ngoài lồng ngực nhưng được tạm thời xếp vào các bệnh thuộc khoa Lồng ngực – Tim mạch như: Bướu tuyến giáp, u tuyến vú, hạch thượng đòn v.v … Ngoài ra, bệnh suy thận mạn cũng được tính vào đây vì được phẫu thuật tạo dò từ động mạch sang tĩnh mạch vùng cổ tay hoặc làm ống ghép tăng cường lưu lượng máu tĩnh mạch đổ về tim cải thiện dòng chảy trong chạy thận nhân tạo
K tuyến giáp15 TH, K tuyến vú 8 TH, các u phần mềm vùng cổ 8 TH và thành ngực 32 TH
Tình hình tử vong
Bảng 10: So sánh tỷ lệ tử vong của bệnh Ngoại Lồng
ngực – Tim mạch so với tử vong của các khoa ngoại
và tử vong chung của bệnh viện
Số lượng bệnh tử vong
Tình hình tỷ lệ tử vong do các bệnh ngoại khoa so với tử vong chung của bệnh viện qua từng năm dao động trong khoảng từ 4,1% đến 13,2% Tử vong cao nhất trong 3 năm 2005 –
2007 với thứ tự 13,2%, 11,3% và 11,3% Trong đó chiếm từ 50% đến 66% là tử vong do ung thư phổi giai đoạn cuối Tử vong do ung thư giai đoạn cuối của khối ngoại chiếm tỷ lệ cao vì tại thời điểm đó chưa thành lập đơn vị ung bướu đặt tại khoa Tiêu hóa – Ung bướu, vì vậy các bệnh ung thư giai đoạn cuối vẫn còn nằm điều thị tại khoa Ngoại Tổng quát Các trường hợp này tử vong nhưng không phải có nguyên nhân
Trang 6trực tiếp hoặc có liên quan đến phẫu thuật
Tử vong các bệnh Lồng ngực – Tim mạch so
với tử vong trong khối ngoại khoa chiếm từ 25%
đến 40% Tử vong cao nhất là năm 2003 với tỷ lệ
lên đến 40% so với các bệnh tử vong trong ngoại
khoa So với toàn bộ bệnh tử vong trong năm
2003 của bệnh viện thì tỷ lệ là 3,4%
Tình hình tỷ lệ tử vong trung bình trong 10
năm của bệnh Lồng ngực – Tim mạch chiếm
khoảng 30% các tử vong ngoại khoa, và chiếm
khoảng 2,5% các loại tử vong trong toàn viện
KẾT LUẬN
Điều trị phẫu thuật các bệnh lồng ngực – tim
mạch cho kết quả tốt Các chỉ định điều trị ngoại
khoa thường gặp là u phổi, thay van tim, bóc
lớp trong động mạch cảnh Các phương pháp
phẫu thuật mới như phẫu thuật nội soi lồng ngực được thực hiện với kết quả rất tốt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Pháp – Việt lần 3 về bệnh phổi & phẫu thuật lồng ngực; tr
122-126
trong hai năm (10/2001 – 10/2003) tại Bệnh Viện Thống Nhất
Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học BVTN năm 2003 tr.429 – 440
viện Phạm Ngọc Thạch trong 3 năm (2005 – 2007) Tr 80-84
Minh, Nguyễn Thế Vũ, Vũ Đỗ, Phạm Huy Minh (1999) Tình hình phẫu thuật phổi tại khoa Ngoại Viện Lao và Bệnh phổi trong 5 năm (1994-1998) Toàn văn báo cáo khoa học Đại hội toàn quốc 1999; tr 183-186
bệnh phổi & phẫu thuật lồng ngực; tr 116-120