Bài viết có nội dung nhằm so sánh hiệu quả của amoxixilline khi dùng theo phương thức phòng ngừa hoặc điều trị trên các triệu chứng lâm sàng sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới. Nghiên cứu tiến hành trên 30 bệnh nhân uống amoxicilline 500mg x 3lần/ngày x 5 ngày sau phẩu thuật, 30 bệnh nhân uống amoxicilline 2g một giờ trước phẫu thuật. Cùng tham khảo bài viết để biết quy trình cũng như kết quả của nghiên cứu.
Trang 1SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA AMOXICILLINE THEO HAI PHÁC ĐỒ PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ TRONG PHẪU THUẬT RĂNG KHÔN HÀM DƯỚI
Lê Thị Thu Trang*, Tạ Tố Trân**, Nguyễn Thị Bích Lý**
TÓM TẮT:
Đặt vấn đề: Phẫu thuật răng khôn là can thiệp thường gặp trong nha khoa, thường gây đau, sưng, khít hàm
và nhiễm trùng sau phẫu thuật Kháng sinh được kê toa theo dạng phòng ngừa hoặc điều trị làm giảm các khó chịu này
Mục tiêu: so sánh hiệu quả của Amoxixilline khi dùng theo phương thức phòng ngừa hoặc điều trị trên các
triệu chứng lâm sàng sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới
Phương pháp nghiên cứu: 30 bệnh nhân uống Amoxicilline 500mg x 3lần/ngày x 5 ngày sau phẩu thuật,
30 bệnh nhân uống Amoxicilline 2g một giờ trước phẫu thuật Các triệu chứng lâm sàng được đánh giá trước và sau phẫu thuật 2, 3, và 7 ngày
Kết quả: không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm nghiên cứu
Kết luận: Amoxicilline khi dùng theo phương thức phòng ngừa có hiệu quả tương tự khi dùng theo phương
thức điều trị trong điều trị phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới
Từ khóa: kháng sinh, phòng ngừa, điều trị, phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới
ABSTRACT
COMPATATIVE STUDY OF ANTIBIOTIC PROPHYLATIC OR THERAPEUTIC IN MANDIBULAR
THIRD MOLAR REMOVAL
Le Thi Thu Trang, Ta To Tran, Nguyen Thi Bich Ly
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 249 - 253
Background: Lower third molar removal is a common surgical procedure performed in dentistry that often
results in pain, swelling, trismus and post-operation infection Prophylatic or therapheutic antibiotic was prescribed to release these uncomfortable
Objective: To compare the effectiveness of Amoxicilline used by prophylactic or therapeutic protocols on
clinical features after a surgical removal of a mandibular third molar
Methods: 30 patients in group A received Amoxicilline 500mg for three times a day for five days
post-operatively, and 30 patients in Group B received 2g Amoxicilline one hour pre-operatively Pain, swelling, trismus, state of the wounds and the incidence of infection were recorded before and on the 2 th , 3 th , and 7 th after operation
Results: There was no statistically significant difference regarding the evaluated parameters between the two
groups
Conclusion: Amoxicilline used in prophylactic protocol is as effective as therapeutic protocol on clinical
features after lower third molar removal
Key words: Antibiotic, prophylactic, therapeutic, mandibular third molar removal
* BS RHM khóa 2008-2014- Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM
** Bộ môn Phẫu thuật miệng- Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM
Trang 2MỞ ĐẦU
Răng khôn là răng có tỷ lệ mọc kẹt nhiều
nhất trên cung hàm, có thể gây ra nhiều biến
chứng Phẫu thuật nhổ răng khôn là can thiệp
có tính xâm lấn đáng kể vào mô xương và mô
mềm xung quanh, có thể gây nhiều biến
chứng và khó chịu cho bệnh nhân sau phẫu
thuật, đáng kể nhất là nhiễm trùng, đau, sưng
mặt và khít hàm(6)
Việc sử dụng kháng sinh để điều trị các
biến chứng viêm, nhiễm trùng sau phẫu thuật
nhổ răng khôn hàm dướiđã được nghiên cứu
vàcho thấy có hiệu quả(2,3,4,11) Kháng sinh dự
phòng trong nha khoa thường được sử dụng
trước can thiệp xâm lấn ở những bệnh nhân có
nguy cơ nhiễm trùng cao Điều này có vai trò
trong việc làm giảm tình trạng nhiễm trùng
sau can thiệp Lợi dụng đặc tính này của
kháng sinh, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã
được thực hiện nhằm đánh giá khả năng ngăn
ngừa nhiễm trùng hậu phẫu của kháng sinh
dự phòng trên bệnh nhân khỏe mạnh trong
các can thiệp nha khoa để giảm liều lượng và
thời gian sử dụng thuốc Các nghiên cứu
thường được thực hiện trên tiểu phẫu thuật
răng khôn hàm dưới(5,8,9,10) tuy nhiên kết quả
còn nhiều vấn đề cần thảo luận
Vậy để trả lời có hay không có tác dụng của
kháng sinh dự phòng trong tiểu phẫu thuật răng
khôn hàm dưới, chúng tôi thực hiện nghiên cứu
này nhằm: So sánh hiệu quả của Amoxicilline
trong tiểu phẫu thuật răng khôn hàm dưới theo
2 phác đồ kháng sinh phòng ngừa và điều trị đối
với các biến chứng sau phẫu thuật như nhiễm
trùng, đau, sưng và khít hàm
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Chọn mẫu thuận tiện gồm các bệnh nhân ở
cả hai giới có nhu cầu và chỉ định nhổ răng khôn
hàm dưới mọc lệch đến khám và điều trị tại bộ
môn Phẫu thuật miệng-Khoa Răng Hàm
Mặt-Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh từ
tháng 1/2014 đến tháng 5/2014, với cỡ mẫu là 60 bệnh nhân Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu thỏa mãn điều kiện bệnh nhân trong độ tuổi
18-30 tuổi, sức khỏe toàn thân tốt, có răng khôn hàm dưới lệch mức độ khó thuộc loại II, III và vị trí độ sâu B, C dựa theo phân loại của Pell và Gregory(6), được xác định trên phim toàn cảnh
và bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi nghe giải thích rõ về mục đích và yêu cầu của nghiên cứu Đồng thời loại ra khỏi nghiên cứu những bệnh nhân bị dị ứng với các loại thuốc có trong nghiên cứu, đang sử dụng bất kì một loại thuốc nào, phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú, những người đang có tình trạng nhiễm trùng
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp thử nghiệm lâm sàng thiết kế theo kỹ thuật
mù đơn Vật liệu nghiên cứu là Amoxicilline 500mg viên nén
60 bệnh nhân được chia thành 2 nhóm theo
kĩ thuật ngẫu nhiên: Nhóm A - sử dụng Amoxicilline 500mg mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 viên trong 5 ngày liên tiếp sau phẫu thuật, bắt đầu uống sau phẫu thuật 3 giờ, Nhóm B - sử dụng Amoxicilline 2g trước phẫu thuật 1 giờ(1) Tất cả các bệnh nhân đều được thực hiện phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới theo quy trình chuẩn của bộ môn Phẫu thuật miệng - khoa Răng Hàm Mặt đại học Y Dược tp.HCM Tất cả các bệnh nhân được đánh giá tình trạng nhiễm trùng trước phẫu thuật và được tái khám vào ngày thứ 2, 3 và 7 sau phẫu thuật để đánh giá các tình trạng nhiễm trùng, đau, sưng và khít hàm
KẾT QUẢ- BÀN LUẬN
Mẫu nghiên cứu gồm 39 nam và 21 nữ, tuy nhiên tỉ lệ nam nữ giữa nhóm chứng và nhóm thử nghiệm khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu 20 – 24,
sự phân bố tuổi ở hai nhóm trong nghiên cứu không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Trang 3Trong 60 răng nghiên cứu có 25 răng 38 và 35
răng 48, tuy nhiên sự phân bố của hai răng này
trong hai nhóm A và B không khác biệt có ý
nghĩa thống kê Đa số răng trong nghiên cứu này
thuộc phân loại IIB (96,7% ở nhóm A và 93,3% ở
nhóm B), các phân loại khác chiếm tỷ lệ không
đáng kể Độ khó của các răng trong hai nhóm A
và B không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Các biến như lượng thuốc tê sử dụng và thời
gian phẫu thuật cũng được ghi nhận, và cũng
không có sự khác biệt giữa 2 nhóm ở các ghi
nhận này
Đau
Tình trạng đau được đánh giá thông qua
cảm nhận chủ quan của bệnh nhân bằng thang
đo Likert 7 điểm.Tình trạng đau được đánh giá
trong ngày sau phẫu thuật và các ngày tái khám
sau đó Tại thời điểm 2, 4, 6 giờ sau khi hết tê
môi, đa số bệnh nhân có cảm giác đau nhẹ đến
trung bình (lần lượt là 70%, 60%, 60% ở nhóm A
và 46,7%, 56,7%, 40% ở nhóm B) Số bệnh nhân
có cảm giác không đau hoặc đau rất nhẹ tăng
dần theo thời gian và số bệnh nhân có cảm giác
đau nhiều thì giảm dần (từ 20% đến 6,7% ở
nhóm A và từ 16,6% đến 6,7% ở nhóm B) Vào
ngày thứ 2 sau phẫu thuật ở nhóm A số bệnh
nhân không đau hoặc đau rất nhẹ tăng ( 26 bệnh
nhân, chiếm 86,7%) và 4 bệnh nhân (13,3%) đau
nhẹ đến trung bình Tương tự, nhóm B số bệnh
nhân không đau hoặc đau rất nhẹ tăng (21 bệnh
nhân, chiếm 70%), 8 bệnh nhân (26,7%) đau nhẹ
đến trung bình, 1 bệnh nhân (3,3%) đau nhiều
Vào ngày thứ ba sau phẫu thuật ở nhóm A có 27
bệnh nhân (90%) không đau hoặc đau rất nhẹ, 3
bệnh nhân (10%) đau nhẹ đến trung bình
Nhóm B có 25 bệnh nhân (83,3%) không đau
hoặc đau rất nhẹ, 4 bệnh nhân (13,3%) đau nhẹ, 1
bệnh nhân (3,3%) đau nhiều
Nhìn chung, trong ngày phẫu thuật và trong
hai ngày sau phẫu thuật, số bệnh nhân ở hai
nhóm A và B trong từng phân loại đau không có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Kiểm định 2)
Cường độ đau sau phẫu thuật trong cả 2 nghiên cứu ở 2 nhóm bệnh nhân sử dụng kháng sinh theo phác đồ phòng ngừa hay điều trị là như nhau Vậy
việc sử dụng Amoxicilline theo phác đồ phòng ngừa hay điều trị không làm thay đổi cường độ đau của bệnh nhân sau phẫu thuật nhổ răng khôn lệch
Sưng
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp khách quan để đo mức độ sưng mặt: đo kích thước theo chiều ngang (đo khoảng cách từ khóe miệng đến chân dái tai) và đo kích thích theo chiều dọc (đo khoảng cách từ góc mắt ngoài đến góc hàm dưới) Việc đo được thực hiện theo độ lồi của má bằng cách dùng thước dây (mm)
Mức độ sưng mặt được ghi nhận là hiệu số của các khoảng cách đo được vào ngày thứ 2, 3, 7
so với ngày thứ 1 ngay trước phẫu thuật
Bảng 1: Sự thay đổi mức độ sưng mặt theo chiều
ngang và chiều dọc ở hai nhóm
Thời điểm
T 2 2,67±0,296 2,97±0.337 2,5±0,37 2,97±0,350 0,727 1,000
T 3 2,93±0,275 3,20±0,416 2,97±0,42 3,17±0,384 0,948 0,953
T 7 0,23±0,10 0,27±0,106 0,20±0,09 0,30±0,085 0,808 0,808
Ở cả hai nhóm A và B, mức độ sưng mặt của bệnh nhân khác biệt có ý nghĩa thống kê tại thời điểm 2 và 3 ngày sau phẫu thuật so với trước phẫu thuật Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê vào thời điểm 7 ngày sau phẫu thuật Mức độ sưng mặt của bệnh nhân theo chiều ngang và chiều dọc giữa nhóm A và nhóm B không có sự khác biệt có ý nghĩa tại các thời điểm Kết quả tương tự với nghiên cứu của López-Cedrún JL(7)
Vậy việc sử dụng phác đồ kháng sinh phòng ngừa hay phác đồ kháng sinh điều trị không làm thay đổi mức độ sưng mặt của bệnh nhân sau phẫu thuật nhổ răng khôn lệch
Trang 4Đánh giá độ há miệng
Độ há miệng tối đa của bệnh nhân được đo
bằng thước kẹp với điểm tham chiếu là cạnh cắn
răng cửa giữa hàm trên và cạnh cắn răng cửa
giữa hàm dưới
Bệnh nhân được gọi là có khít hàm khi độ há
miệng tối đa < 40mm
Mức độ khít hàm được ghi nhận là hiệu số
giữa độ há miệng đo được vào ngày thứ 1 ngay
trước khi phẫu thuật so với các giá trị đo được
vào các lần tái khám vào ngày thứ 2, 3 và 7 sau
phẫu thuật
Ở nhóm A và nhóm B, có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê độ há miệng giữa các thời điểm
trước và sau phẫu thuật (p<0,0083) Tuy nhiên
giá trị đo độ há miệng của bệnh nhân ở cả hai
nhóm A và nhóm B vào thời điểm 2, 3 ngày sau
phẫu thuật khác biệt có ý nghĩa thống kê so với
giá trị này trước phẫu thuật Và sự khác biệt này
không có ý nghĩa thống kê vào thời điểm 7 ngày
sau phẫu thuật
Bảng 2: Sự thay đổi độ há miệng của 2 nhóm A và B
tại các thời điểm
Sự thay đổi độ há miệng ở từng thời điểm
giữa 2 nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p>0,05)
Mức độ khít hàm của bệnh nhân ở nhóm A
và nhóm B không có sự khác biệt tại các thời
điểm Do đó ta có thể suy ra rằng việc sử dụng
phác đồ kháng sinh phòng ngừa hay phác đồ
điều trị không ảnh hưởng đến độ há miệng của
bệnh nhân sau phẫu thuật răng khôn Kết quả
của nghiên cứu này tương tự với nghiên cứu của
López-Cedrún JL(7)
Đánh giá nhiễm trùng:
Trong nghiên cứu này, các dấu hiệu nhiễm
trùng được đánh giá thông qua biến số sốt ≥
38°C kéo dài hơn 2 ngày sau phẫu thuật, có mủ
răng, chảy mủ và viêm ổ răng khô Bệnh nhân được theo dõi trong vòng 7 ngày sau phẫu thuật Kết quả cho thấy ở cả 2 nhóm A và nhóm B, không có bệnh nhân nào có các dấu chứng
nhiễm trùng được phát hiện
Điều này cho thấy Amoxicilline dùng theo
phác đồ phòng ngừa trước phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới đem lại hiệu quả ngăn ngừa nhiễm trùng hậu phẫu tương tự như phác đồ kháng sinh điều trị sau phẫu thuật
Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy việc bệnh nhân sử dụng Amoxicilline theo phác đồ phòng ngừa không làm thay đổi cảm nhận đau, mức độ sưng, sự khít hàm hay tình trạng nhiễm trùng hậu phẫu so với sử dụng kháng sinh theo phác đồ điều trị trong phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới Tuy nhiên việc sử dụng kháng sinh theo phác đồ phòng ngừa có ưu điểm là giảm số lượng thuốc và giảm thời gian sử dụng thuốc, bệnh nhân khó quên và ít xảy ra trường hợp không uống thuốc đủ theo toa, giúp làm giảm khả năng kháng thuốc Nhưng việc sử dụng một lúc liều thuốc mạnh, nhiều viên cùng loại (4 viên 500mg 1 giờ trước phẫu thuật) cũng làm cho bệnh nhân lo lắng
KẾT LUẬN
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng mù đơn so sánh hiệu quả của Amoxicilline trong phẫu thuật răng khôn hàm dưới theo hai phác đồ kháng sinh phòng ngừa và điều trị trên 60 bệnh nhân Chúng tôi rút ra được một số kết luận như sau:
- Cường độ đau sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới của bệnh nhân ở hai nhóm sử dụng Amoxicilline theo phác đồ phòng ngừa và điều trị không có sự khác biệt
- Mức độ sưng sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới của bệnh nhân ở hai nhóm sử dụng Amoxicilline theo phác đồ phòng ngừa và điều trị không có sự khác biệt
- Tình trạng khít hàm sau phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới của bệnh nhân ở hai nhóm
sử dụng Amoxicilline theo phác đồ phòng ngừa
Trang 5- Tình trạng nhiễm trùng hậu phẫu sau phẫu
thuật nhổ răng khôn hàm dưới của bệnh nhân ở
hai nhóm sử dụng Amoxicilline theo phác đồ
phòng ngừa và điều trị không có sự khác biệt
Nghiên cứu này cho thấy việc sử dụng
Amoxicilline theo phác đồ phòng ngừa trước phẫu
thuật có hiệu quả tương tự như phác đồ điều trị sau
phẫu thuật răng khôn hàm dưới về tình trạng lâm
sàng của bệnh nhân sau phẫu thuật
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 American Heart Association (2007) Antibiotic Prophylaxis
Guidelines
Amoxicilline/clavulanic acid in preventing infectious and
inflammatory complications following impacted mandibular
third molar extraction”, Oral Surg Oral Med Oral Pathol Oral
Radiol Endod, 100(1), pp.11-18
3 Dimova và cộng sự (2012), “Evaluation of antibiotic prophylaxis
and postoperative complications after impacted third molar surgery”,
In: Macedonian Orthodontic Society, Second International
Congress, pp.17-20
4 Hill M (2005), “No benefit from prophylactic antibiotics in
third molar surgery”, Evid Based Dent, 6(1), pp.10
5 Lê Đức Lánh (2011), Phẫu Thuật Miệng Tập 1, Nhà xuất bản Y
học, tr.168-191
6 Lê Đức Lánh (2012), Phẫu Thuật Miệng Tập 2, Nhà xuất bản Y
học, tr.117-124
7 López-Cedrún JL và cộng sự (2011), “Efficacy of Amoxicilline treatment in preventing postoperative complications in patients undergoing third molar surgery: a prospective,
randomized, double-blind controlled study”, J Oral Maxillofac Surg , 69(6), pp.5-14
8 Luaces-Rey R và cộng sự (2010), “Efficacy and safety comparison of two Amoxicilline administration schedules after third molar removal A randomized, double-blind and
controlled clinical trial”, Med Oral Patol Oral Cir Bucal, , 15(4),
pp.633-638
9 Marcelo Carlos Bortoluzzi và cộng sự (2013), “A Single Dose
of Amoxicilline and Dexamethasone for Prevention of Postoperative Complications in Third Molar Surgery: A Randomized, Double-Blind, Placebo Controlled Clinical
Trial”, J Clin Med Res, 5(1), pp.26-33
10 Olusanya AA và cộng sự (2011), “Prophylaxis versus pre-emptive antibiotics in third molar surgery: a randomised
control study”, Niger Postgrad Med J, 18(2), pp.105-10
11 Siddiqi A và cộng sự (2010), “Antibiotic prophylaxis in third molar surgery: A randomized double-blind placebo-controlled clinical trial using split-mouth technique”,
International Journal of Oral and Maxillofacial Surgery, 39(2),
pp.107–114
Ngày nhận bài báo: 31/01/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 02/03/2015 Người phản biện: TS Trần Hùng Lâm Ngày bài báo được đăng: 10/04/2015