1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giá trị của siêu âm doppler mạch máu trong tiên đoán khả năng thành công mổ tạo dò động tĩnh mạch cổ tay để chạy thận định kỳ

6 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 421,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết Giá trị của siêu âm doppler mạch máu trong tiên đoán khả năng thành công mổ tạo dò động tĩnh mạch cổ tay để chạy thận định kỳ với mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định mối liên quan giữa đường kính và lưu lượng mạch máu ở cổ tay (qua doppler) với kết quả phẫu thuật tạo dò động tĩnh mạch để chạy thận định kỳ.

Trang 1

GIÁ TRỊ CỦA SIÊU ÂM DOPPLER MẠCH MÁU TRONG TIÊN ĐOÁN KHẢ NĂNG THÀNH CÔNG MỔ TẠO DÒ ĐỘNG TĨNH MẠCH CỔ TAY

ĐỂ CHẠY THẬN ĐỊNH KỲ

Nguyễn Ngọc Vàng*, Nguyễn Văn Trí**

TÓM TẮT

Mở đầu: Lọc máu là một trong những phương pháp thay thế thận ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn

cuối, để thực hiện điều này cần có đường máu lâu dài Vị trí mổ ở cổ tay hiện nay theo phương pháp Cimino và Brescia được ưa chuộng và siêu âm Doppler hiện nay phổ biến, không xâm lấn, rẻ tiền dùng để siêu âm mạch

máu cổ tay trước mổ

Mục tiêu: Xác định mối liên quan giữa đường kính và lưu lượng mạch máu ở cổ tay (qua Doppler) với kết quả phẫu thuật tạo dò động tĩnh mạch để chạy thận định kỳ

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca

Kết qủa: Trong 70 bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi được mổ tạo dò động tĩnh mạch từ 6/2009 đến

2/2010, có 14 bệnh nhân bị tắc lỗ dò (20%) sau mổ đến 4 tuần, 56 bệnh nhân còn lại được siêu âm lỗ dò có đường kính trung bình 3,07 mm, lưu lượng 508,7 ml/phút Đường kính trung bình động mạch quay đo được 2,46 mm, nhóm thành công có đường kính (2,5 ± 0,33 mm), nhóm thất bại (2,3 ± 0,38 mm) (p = 0,1), lưu lượng trung bình động mạch quay đo được 92,73 ml/phút, nhóm thành công (94,59 ± 25,5 ml/phút), nhóm thất bại (85,28 ± 29,6 ml/phút) (p = 0,28) Đường kính trung bình tĩnh mạch đầu đo được 2,35 mm, nhóm thành công có đường kính (2,4 ± 0,42 mm), nhóm thất bại (2,13 ± 0,46 mm) (p = 0,03) Diện tích dưới đường cong ROC là 0,69 với điểm

cắt 2,3m có độ nhạy 64,29%, độ chuyên 65,71%

Kết luận: Siêu âm Doppler rất hữu ích trong việc đánh giá đường kính cũng như lưu lượng mạch máu

trước và sau mổ tạo lỗ dò trước chạy thận

Từ khóa: Động mạch quay (ĐMQ), Tĩnh Mạch đầu (TMĐ)

ABSTRACT

THE ROLE OF VASCULAR DOPPLER ULTRASOUND IN PREDICTING THE OUTCOME OF SURGICAL CREATION OF WRIST ARTERIOVENOUS FISTULAES FOR CHRONIC

HAEMODIALYSIS

Nguyen Ngoc Vang, Nguyen Van Tri

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 4 - 2011: 264 - 269

Background: Patients with end-stage renal failure require permanent vascular access for haemodialysis

treatment The arteriovenous fistulae (AVF) surgically created at the wrist according to Cimino and Brescia technique is still preferred The Doppler ultrasound is a common, non-invasive and inexpensive tool used for the preoperative evaluation of wrist vessels

Objective: To determine to association between the diameters and the blood flow of wrist vessels and the outcomes of surgically created AVFs

Patients and method: Case series

* Khoa Thận, BV Chợ Rẫy, ** Bộ môn Lão Khoa, Đại Học Y Dược TP HCM

Tác giả liên lạc: Nguyễn Ngọc Vàng ĐT: 0913692572 email: ngocvang72@yahoo.com

Trang 2

Results: Seventy patients with planed AVFs were recruited in our study from 6/2009 to 2/2004 Primary

AVFs failure was noted in 14 patients (20%) within 4 weeks after the procedure In remaining 56 patients, ultrasound measurements revealed a mean AVF diameter of 3.07 mm, and a mean blood flow of 508.7 ml/min The mean radial artery diameter was 2.46 mm for the whole population, 2.5 ± 0.33 mm for patients with AVF success, and 2.3 ± 0.38 mm for patients with AVF failure (p=0.1) The mean blood flow of radial artery was 92.73 ml/min for the whole population, 94.59 ± 25 ml/min for patients with AVF success, and 85.28 ± 29.6 ml/min for patients with AVF failure (p=0.28) The mean cephalic vein diameter was 2.35 mm for the whole population, 2.41

± 0.42 mm for patients with AVF success, and 2.13 ± 0.46 mm for patients with AVF failure (p=0.03) The chosen cut-off point for the cephalic vein diameter was 2.3 mm, giving an area under the curve of 0.69, a sensitivity of 64.29% and a specificity of 65.71%

Conclusion: Doppler ultrasound is a very useful tool for the evaluation of vessel diameters and blood flow

before and after the surgical creation of AVF

Key words: radial artery, cephalic vein, arteriovenous fistulae (AVF)

MỞ ĐẦU

Hiện nay trên thế giới có trên 1,5 triệu người

suy thận mạn giai đoạn cuối cần được điều trị

thay thế thận và ước đoán sẽ tăng gấp đôi vào

2020(19) Số lượng ngày càng tăng do xuất độ

bệnh tăng và bệnh nhân sống sót nhờ các

phương pháp thay thế thận Cho đến nay lọc

máu đã trở thành kỹ thuật phổ biến trên thế giới

để điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối mặc dù

còn nhiều phương pháp thay thế thận khác như

thẩm phân phúc mạc, ghép thận Bệnh nhân suy

thận mạn giai đoạn cuối cần lọc máu suốt đời

nên cần có đường máu có thể dùng để chọc kim

nhiều lần nhưng ít biến chứng Có nhiều kỹ

thuật đã được nghiên cứu nhưng phẫu thuật tạo

dò động tĩnh mạch tự thân là kỹ thuật ưu tiên

được lựa chọn nhờ có ưu thế hơn các kỹ thuật

khác Vị trí mổ tạo lỗ dò cổ tay ưu tiên trước sau

đó mới đến các vị trí khác và mổ theo phương

pháp Cimino và Brescia.Việc đánh giá tình trạng

mạch máu trước mổ bằng thăm khám lâm sàng

mang tính chủ quan và hạn chế, nhất là mạch

máu nhỏ ở cổ tay và có bệnh kèm theo như đái

tháo đường, béo phì, phù nề cẳng tay, mạch

máu ở sâu, huyết khối…Siêu âm Doppler hiện

nay được sử dụng phổ biến là phương pháp

không xâm lấn, an toàn, rẻ tiền dùng để đánh

giá hình thái và chức năng mạch máu(9,12) Điểm

cắt lý tưởng cho đường kính động mạch quay và

tĩnh mạch đầu đến kết quả thành công của lỗ dò

của nhiều tác giả trên thế giới còn khác nhau(10,16,17,20) và ở Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm(13,5) Do đó chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm góp phần thuận lợi cho tạo lỗ dò mới

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định mối liên quan giữa đường kính và lưu lượng mạch máu ở cổ tay (qua Doppler) với kết quả phẫu thuật tạo dò động tĩnh mạch để chạy thận định kỳ

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chúng tôi chọn vào nghiên cứu những bệnh nhân có chỉ định lọc máu định kỳ lần đầu, có lâm sàng và cận lâm sàng ổn định cho phép phẩu thuật

Loại trừ những bệnh nhân đã được mổ tạo

dò động - tĩnh mạch trước đây, hẹp tĩnh mạch dưới đòn, huyết khối, xơ vữa nặng, đường đi tĩnh mạch đầu không qua vị trí cổ tay Cổ tay nơi mổ có sẹo, vết chích, nghiệm pháp Allen(6) thấy có sự thiếu máu bàn tay, có bệnh mạch máu ngoại biên và suy tim nặng

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca

Các số liệu được nhập bằng phần mềm SPSS 11.5 và xử lí stata 10.0, các phép kiểm có ý nghĩa thống kê khi p<0,05

Trang 3

Phương pháp tiến hành

Dùng máy siêu âm Aloka 4000, xử lý công

thức bằng phần mềm của máy

Tĩnh mạch đầu được băng ép ở cánh tay

bằng máy đo huyết áp bơm hơi ở mức 60mmHg

và đợi khoảng hai phút chờ cho tĩnh mạch

dãn(15) Đường kính động mạch quay và tĩnh

mạch đầu được đo từ lớp nội mạc đến lớp nội

mạc, đo 2 lần ở vị trí khác nhau sau đó lấy trị số

trung bình

Lưu lượng động mạch quay (ml / phút) =

Đường kính(mm) x Vận tốc (cm/s)

Vị trí được chọn để mổ tạo dò động tĩnh

mạch ưu tiên tay không thuận vùng cổ tay nếu

thất bại mới di chuyển lên vùng khuỷu tay cùng

bên hoặc sang bên tay thuận, phương pháp gây

tê tại chỗ và được nối tận tĩnh mạch đầu vào bên

động mạch quay ở cổ tay theo phương pháp

Cimino và Brescia Giữ liên lạc với bệnh nhân

đến 4 tuần sau mổ, hẹn bệnh nhân đến để siêu

âm lỗ dò đo đường kính lỗ dò và lưu lượng máu

qua lỗ dò trước khi đâm kim để lọc máu lần đầu

Thất bại là tắc ngay sau mổ thường do lỗi kỹ

thuật hoặc mạch máu không đầy đủ hoặc từ lúc

mổ xong đến 4 tuần không nghe âm thổi Một ca

gọi là thành công khi sau mổ 4 tuần bệnh nhân

chạy thận được tại lỗ dò (thông thường lưu

lượng ≥ 250ml)

KẾT QUẢ

Có 70 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn

cuối nhập khoa thận và có nhu cầu lọc máu định

kỳ từ tháng 6/2009 đến tháng 2/2010

Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu và

kết quả tạo lỗ dò

Bảng 1 Đặc điểm chung giữa các nhóm

Thành

công

Thất bại Giá trị p

Nam 38 (84,4%) 7 (15,6%)

Giới

Nữ 18 (72%) 7 (28%)

p=0,21

< 65 49 (80,3%) 12 (19,7%)

Tuổi

≥ 65 7 (77,8%) 2 (22,2%)

p=0,85 Không béo phì 54 (96,4%) 13 (92,8%)

Dinh

dưỡng

(BMI) Béo phì 2 (3,57%) 1 (7,2%)

p=0,55

Thành

công

Thất bại Giá trị p

Không 42 (75%) 8 (57,1%) ĐTĐ

Có 14 (25%) 6 (42,9%)

p=0,18 Hb(g/l) Trung bình 79,3 87,5 p=0,08

Bảng 1 cho thấy không có liên quan giữa nhóm tuổi, giới, dinh dưỡng, đái tháo đường và nồng độ Hemoglobin đến kết quả tạo lỗ dò Trong 70 bệnh nhân chọn nghiên cứu có 16 bệnh nhân bị tắc sau mổ đến 4 tuần nên còn lại

56 bệnh nhân được siêu âm Đường kính trung bình đo được 3,07 mm, thấp nhất 1,6 mm, cao nhất 5 mm Lưu lượng trung bình của lỗ dò 508,73 ml/p, cao nhất là 1422 ml/p và thấp nhất

là 250 ml/p Đường kính trung bình động mạch quay đo được 2,46mm, thấp nhất 1,6mm, cao nhất 3,1mm.Tỉ lệ thành công của lỗ dò theo đường kính động mạch quay: Dùng phép kiểm t

so sánh cho thấy nhóm thành công có đường kính trung bình là 2,5 mm và nhóm thất bại là 2,3 mm, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,102

Bảng 2: Tỉ lệ thành công của lỗ dò theo đường kính

động mạch quay:

Bệnh nhân

Đk trung bình

Độ lệch chuẩn

KTC 95%

p

Thành công

56 2,5 mm 0,33 [2,4 -

2,59]

0,102 Thất bại 14 2,3 mm 0,38 [2,1 -

2,5]

Tổng cộng

70 2,46 mm 0,35 [2,4 -

2,5]

Tỉ lệ thành công đường kính động mạch quay theo giới

Dùng phép kiểm t so sánh động mạch quay cho thành công nam có đường kính trung bình 2,56 mm và nữ là 2,29 mm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,0013

Bảng 3: Tỉ lệ thành công đường kính động mạch

quay theo giới

Nhóm Bệnh nhân Trung bình Độ lệch chuẩn KTC 95% p

Nam 45 2,56 mm 0,33 [2,46 - 2,66] 0,28

Nữ 25 2,29 mm 0,32 [2,15 - 2,42] Tổng cộng 70 2,46 mm 0,35 [2,38 - 2,54]

Trang 4

Lưu lượng trung bình động mạch quay đo

được là 92,73 ml/phút, cao nhất 148 ml/p và thấp

nhất 31 ml/p Tỉ lệ thành công của lỗ dò theo lưu

lượng: Dùng phép kiểm t so sánh, lưu lượng

trung bình của nhóm thành công là 94,59 ml/p

và nhóm thất bại là 85,28 ml/p, sự khác biệt này

không có ý nghĩa thống kê với p = 0,28

Bảng 4: Tỉ lệ thành công của lỗ dò theo lưu lượng:

Bệnh

nhân

Lưu lượng trung bình

Độ lệch chuẩn

KTC 95%

p

Thành

công

56 94,59 ml/p 25,5 [87,8 -

101,4]

0,28 Thất bại 14 85,28 ml/p 29,6 [68,2 -

102,3]

Tổng

cộng

70 92,7 ml/p 26,4 [86,4 –

99]

Tỉ lệ thành công lưu lượng động mạch

quay theo giới

Dùng phép kiểm tra so sánh, lưu lượng

thành công của nam là 97,8 ml/p cao hơn nữ là

83,6 ml/p và sự khác biệt này có ý nghĩa thống

kê với p = 0,03

Bảng 5 Tỉ lệ thành công lưu lượng động mạch quay

theo giới

Bệnh

nhân

Lưu lượng trung bình

Độ lệch chuẩn

KTC 95%

p

Nam 45 97,6 ml/p 25,5 [90,1 -

105,4] 0,03

Nữ 25 83,6 ml/p 26,02 [72,9 -

94,4]

Tổng

cộng 70 92,7 ml/p 26,4 [86,4 – 99]

Đường kính trung bình tĩnh mạch đầu đo

được là 2,35 mm và thấp nhất 1,4 mm, cao nhất

3,5 mm Tỉ lệ thành công của lỗ dò theo đường

kính tĩnh mạch đầu: Dùng phép kiểm t để so

sánh cho thấy nhóm thành công có đường kính

trung bình 2,41 mm nhóm thất bại có đường

kính 2,13 mm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống

kê p = 0,03

Bảng 6: Tỉ lệ thành công của của lỗ dò theo đường

kính tĩnh mạch đầu

Nhóm Bệnh nhân Trung bình Độ lệch chuẩn KTC 95% p

Thành

công 56 2,41 mm 0,42 [3,29 - 2,52] 0,03

Thất bại 14 2,13 mm 0,46 [1,86 - 2,39]

Tổng 70 2,35 mm 0,44 [2,25 - 2,46]

Tỉ lệ thành công đường kính tĩnh mạch đầu theo giới

Dùng phép kiểm t để so sánh cho thấy giới nam thành công khi có đường kính tĩnh mạch đầu trung bình là 2,42 mm và nữ là 2,24 mm

sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,09

Bảng 7: Tỉ lệ thành công đường kính tĩnh mạch đầu

theo giới

Nhóm Bệnh nhân Trung bình Độ lệch chuẩn KTC 95%

Nam 45 2,42 mm 0,42 [2,29 - 2,55]

Nữ 25 2,24 mm 0,45 [2,04 - 2,42] Tổng cộng 70 2,35 mm 0,44 [2,25 - 2,46]

Xác định giá trị ngưỡng của tĩnh mạch đầu

Do tỉ lệ thành công của tĩnh mạch đầu có ý nghĩa thống kê (p = 0,03), nên chúng tôi khảo sát giá trị ngưỡng đường kính của tĩnh mạch đầu bằng cách vẽ đường cong ROC với diện tích dưới đường cong ROC là 0,69 Tại điểm cắt 2,3

mm với độ nhạy 64,29% và độ chuyên 65,71%

BÀN LUẬN

Trong 70 bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi được mổ tạo dò động tĩnh mạch để lọc máu định kỳ từ 6/2009 đến 2/2010, có 14 bệnh nhân bị tắc lỗ dò sau mổ chiếm tỉ lệ 20% và được mổ lại lần 2, so với các nghiên cứu trong nước như Nguyễn Anh Dũng (13) và Đặng Văn Duyên (5) thì chúng tôi cao hơn Lưu lượng lỗ dò 56 bệnh nhân còn thông nối trung bình đo được 508,73 ml/phút trong đó thấp nhất 250 ml/phút và những bệnh nhân này đều chạy thận được lần đầu qua lỗ dò

Các yếu tố huyết động có ảnh hưởng đến sự thành công của lỗ dò như huyết áp, lưu lượng máu động mạch quay, cung lượng tim và lưu lượng máu của tĩnh mạch đầu cũng như tĩnh mạch dưới đòn nhưng trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi chỉ đo lưu lượng máu của động mạch quay trước phẫu thuật Để tạo thành công lỗ dò một trong những yếu tố quang trọng

là sự giãn nở của động mạch quay để tăng lưu lượng máu cũng như tái cấu trúc mạch máu sau

Trang 5

và hẹp lòng mạch máu như xơ vữa, huyết khối,

bệnh mạch máu ngoại biên do đái tháo đường,

lớn tuổi, hút thuốc lá cũng có thể ảnh hưởng đến

lưu lượng máu qua lỗ dò(11) Khi siêu âm động

mạch quay là động mạch nhỏ nên khi đo lưu

lượng thường không chính xácdo dòng chảy là

dòng chảy rối, ngoài ra các yếu tố khác như

phương pháp phẫu thuật và sự giãn nở tĩnh

mạch đầu

Trong nghiên cứu của chúng tôi không có sự

khác biệt giữa lưu lượng động mạch quay ở

nhóm thành công (94,59 ± 25,5 ml/phút) và

nhóm thất bại (85,2 ± 29,6 ml/phút) (p = 0,1)

Như vậy lưu lượng động mạch quay cao hơn ở

nhóm thành công so với nhóm thất bại nhưng

không có liên quan đến kết quả tạo lỗ dò

Trong các nghiên cứu trước đây cho rằng đo

kích thước động mạch quay trước mổ là yếu tố

quan trọng dự đoán kết quả thành công của lỗ

dò(8), nhưng cho đến nay các nhà phẫu thuật

chưa thống nhất điểm cắt đường kính động

mạch quay bao nhiêu là tối ưu cho bệnh nhân

mà điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào các

yếu tố khác liên quan đến động mạch, ngoài ra

còn phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của

phẫu thuật viên Trong nghiên cứu của chúng

tôi không thấy có liên quan giữa nhóm thành

công (2,5 ± 0,33 mm) và nhóm thất bại (2,3 ± 0,38

mm) cũng giống như các tác giả Tordoir J (2,5

mm so với 2,3 mm)(18) và Lockhart ME (cùng 2,7

mm)(8) Nhưng khi so sánh giữa giới nam (2,56 ±

0,33 mm) và nữ (2,29 ± 0,32 mm) thì có ý nghĩa

(p=0,0013), cũng tương tự như Lockhart ME ở

giới nam (2,8 ± 0,04 mm) và nữ (2,5 ± 0,04 mm)

(p=0,0 3)

Cho đến nay để xác định ngưỡng tối ưu

đường kính cho tĩnh mạch đầu là bao nhiêu

giữa các tác giả trên thế giới còn khác nhau

Một số tác giả Châu Âu phẫu thuật mổ tạo dò

mà không quan tâm đến đường kính tĩnh

mạch là bao nhiêu, có những tác giả khác thì

quan tâm đến sự giãn nở mạch máu trước và

sau băng ép để tiên lượng kết quả Trong

nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt có ý

nghĩa (p = 0,03) đường kính tĩnh mạch đầu giữa 2 nhóm thành công (2,41 ± 0,42 mm) và thất bại (2,13 ± 0,46 mm)

Bảng 8: So sánh với các tác giả khác

Số bệnh nhân

Thành công

Thất bại p

Brimble KS và

CS

106 2,51 mm 2,23 mm 0,04 Tordoir J và CS 43 2, 2 mm 1, 8 mm 0,04 Chúng tôi 70 2,41 mm 2,13 mm 0,03

Thông thường khám lâm sàng tĩnh mạch ở

nữ giới khó hơn nam giới do lớp mỡ dày hơn, mạch máu ở sâu hơn thậm chí khi đã siêu âm mạch máu thì nữ giới tiến hành phẫu thuật ở cổ tay vẫn thấp hơn ở nam(18)

Kết quả của chúng tôi sự khác biệt giữa nam (2,4 ± 0,42 mm) và nữ (2,2 ± 0,45 mm) đến kết quả tạo lỗ dò không có sự khác biệt (p =0,09)

Bảng 9: So sánh tĩnh mạch đầu trung bình nam và

nữ với các tác giả khác

Brimble KS và CS 2,3 ± 0,08

mm

2,3 ± 0,1 mm

E Korten và CS 2,4 ± 1 mm 2,2 ± 0,7 mm 0,24 Lockhart M.E và

CS 3,0 ± 0,04 mm 2,9 ± 0,03 mm 0,41 Chúng tôi 2,4 ± 0,42

mm 2,2 ± 0,45 mm 0,09

Diện tích dưới đường cong ROC đo được 0,69 là chấp nhận được nhưng chọn điểm cắt 2,3

mm với độ nhạy 64,29% và độ chuyên 65,71% còn hơi yếu có thể do mẫu nghiên cứu của chúng tôi còn ít và phân bố không đều

Điểm cắt đường kính tĩnh mạch đầu của chúng tôi (2,3 mm) so với các tác giả khác như Wong (1,6 mm)(20), Lawrence J (2,5 mm)(16), Lockhart ME (2,5 mm)(7), Brener (the kidney) (2,5 mm)(2), Brimble KS (2,6 mm)(3) Như vậy, nhận thấy điểm cắt tối ưu cho tĩnh mạch đầu hiện nay cho phẫu thuật thành công tạo lỗ dò động tĩnh mạch ở cổ tay hiện cũng chưa thống nhất giữa các tác giả vì còn tùy thuộc vào thể trạng bệnh nhân, sự giãn nở mạch máu và nhất là kinh nghiệm của phẫu thuật viên

Hạn chế đề tài của chúng tôi là: (1) Do bệnh nhân nhập viện suy thận mạn giai đoạn cuối

Trang 6

nên sau mổ khoảng 4 tuần là sử dụng lỗ dò nên

chúng tôi không theo dõi được lâu hơn; (2) Đề

tài của chúng tôi liên quan đến nhiều chuyên

khoa như siêu âm, phẫu thuật và lọc máu nên

chúng tôi không trực tiếp thực hiện mà nhờ đến

sự giúp đỡ của các khoa liên quan; (3) Thời gian

thực hiện đề tài ngắn, số lượng bệnh nhân còn ít

và thời gian theo dõi chưa đủ dài để có kết luận

khách quan hơn

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 70 bệnh nhân suy thận mạn

giai đoạn cuối được siêu âm Dopler mạch máu

cổ tay trước khi tạo lỗ dò chúng tôi nhận thấy,

đường kính và lưu lượng động mạch quay

không liên quan đến kết quả tạo lỗ dò Tĩnh

mạch đầu được băng ép mức 60 mmHg có sự

khác biệt đường kính trung bình giữa nhóm

thành công (2,41 mm) và nhóm thất bại (2,13

mm) với p = 0,03, chọn điểm cắt 2,3 mm với độ

nhạy 64,29%, độ chuyên 65,71%

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Anton 10N., Sidawy, MD., Richard Gray, MD., et al (2002),

Recommended standards for reports dealing with

arteriovenous hemodialysis accesses Volume 35, Issue 3,

Pages 603-610.

2 Brenner BM (2008)16, Hemodialysis, The kidney, Saunders, 8th

ed,Vol.2.Ch.58 pp.1957-1985

3 Brimble15 KS, Rabbat ChG, Treleaven DJ, Ingram AJ (2002),

Utility of ultrasonographic venous assessment prior to forearm

arteriovenous fistula creation Clin Nephrol; 58(2):122-7

4 Carlo Basile18, Giovanni Ruggieri, Luigi Vernaglione, Alessio

Montanaro and Rosa Giordano (2004),The natural history of

autogenous radio-cephalic wrist arteriovenous fistulas of

haemodialysis patients:a prospective observational

study.Nephrol Dial Transplant19:1231-1236

5 Đặng Văn Duyên, Dương Quang Trí, Phạm Văn Bùi (2003),

Siêu âm Doppler và phẫu thuật tạo dò động tĩnh mạch ở cổ tay

trong chạy thận nhân tạo định kỳ.Tạp chí Y học TP.HCM,Tập

7, phụ bản số 1

6 David G22 Cable, MD, Charles J Mullany, MB, MS, Hartzell

V Schaff, MD (1999), The Allen test Ann Thorac Surg;

67:876-877

7 Lockhart ME36, Robbin ML, Fineberg NS, Wells CG, Allon M

(2006), Cephalic vein measurement before forearm fistula

creation: does use of a tourniquet to meet the venous diameter

threshold increase the number of usable fistulas? Ultrasound

Med; 25(12):1541-1545

8 Lockhart ME38, MD, MPH, Michelle L Robbin, MD and Michael Allon, MD (2004), Preoperative Sonographic Radial Artery Evaluation and Correlation With Subsequent

Radiocephalic Fistula Outcome J Ultrasound Med 23:161-168 •

0278-4297

9 Malovrh M.MD44 (2009), The Role of Sonography in the

Planning of Arteriovenous Fistulas for Hemodialysis Seminars

in Dialysis Volume 16 Issue 4, Pages 229-303

10 Malovrh M43 MD (1998), Non-invasive evaluation of vessels

by duplex sonography prior to construction of arteriovenous

fistulas for haemodialysis Nephrol Dial Transplant; 13:125–129

11 Malovrh M MD45: Native arteiovenous fistula (2002),

Preoperative evaluation American Journal of Kidney Diseases

Volume 39, Issue 6, Pages 1218-1225

12 Martin Ferring46, John Henderson, Antonius Wilmink and Steve Smith (2008), Vascular ultrasound for the pre-operative evaluation prior to arteriovenous fistula formation for

haemodialysis: review of the evidence Nephrol Dial Transplant

23: 1809–1815

13 Nguyễn Anh Dũng (2001), Nhận xét kết quả phẫu thuật tạo dò động tĩnh mạch để lọc máu tại bệnh viện Thống Nhất Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Y học, ĐHYD TPHCM

14 Nguyễn Văn Trí (2007), Đánh giá mạch máu bằng siêu âm màu Duplux: Bài giảng lớp siêu âm tim và mạch máu ĐHYD TPHCM

15 Nils Planken R52, Xavier H A Keuter, Arnold P G Hoeks, et

al (2006), Diameter measurements of the forearm cephalic vein prior to vascular access creation in end-stage renal disease patients: graduated pressure cuff versus tourniquet vessel

dilatation Nephrology Dialysis Transplantation 21(3): 802-806

16 Parmar J, M Aslam, N Standfield: Pre-operative Radial Arterial Diameter Predicts Early Failure of Arteriovenous

Fistula (AVF) for Haemodialysis European Journal of Vascular

and Endovascular Surgery, Volume 33, Issue 1, Pages 113 - 115

(2007

17 Silva MB Jr70, Hobson RW 2nd, Pappas PJ, et al (1998), A strategy for increasing use of autogenous hemodialysis access procedures: impact of preoperative noninvasive evaluation

Vasc Surg; 27(2):302-7; discussion 307-8

18 Tordoir J72, Rooyens P, Dammers R, Van der Sande F, De Haan M, Ien Yo T (2003), Prospective evaluation of failure modes in autogenous radiocephalic wrist access for

haemodialysis Nephrol Dial transplant ; 18: 378–383

19 Trần Thị Bích Hương (2001),Các phương pháp thay thế thận Bài giảng sau đại học

20 Wong V79, Ward R, Taylor J, Selvakumar S, How TV, Bakran

A (1996), Factors associated with early failure of arteriovenous

fistulae for haemodialysis access Eur J Vasc Endovasc Surg;

12(2):207-13

Ngày đăng: 20/01/2020, 08:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w