1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Suy gan trong sốt xuất huyết trẻ em

6 110 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 240,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng của virút Dengue trên chức năng gan của 231trường hợp sốt xuất huyết (SXH) đã được xác định bằng xét nghiêm MAC-ELISA và HI từ tháng 6/2000 đến tháng 6/2002. Chúng tôi nhân thấy có sự gia tăng bất thường các chỉ số về chức năng gan như SGOT, SGPT, phosphatase alkaline, NH3. SGOT: 168U/l, SGPT: 77 U/l,phosphatase alkaline: 258U/l, NH3:1. 8ìg/ml. SGOT tăng cao hơn so với SGPT.

Trang 1

SUY GAN TRONG SỐT XUẤT HUYẾT TRẺ EM

Phan Hữu Nguyệt Diễm *

TÓM TẮT

Chúng tôi nghiên cứu ảnh hưởng của virút Dengue trên chức năng gan của 231trường hợp sốt xuất huyết (SXH) đã được xác định bằng xét nghiêm MAC-ELISA và HI từ tháng 6/2000 đến tháng 6/2002 Chúng tôi nhân thấy có sự gia tăng bất thường các chỉ số về chức năng gan như SGOT, SGPT, phosphatase alkaline, NH 3 SGOT: 168U/l, SGPT: 77 U/l,phosphatase alkaline: 258U/l, NH 3 :1 8μg/ml SGOT tăng cao hơn

so với SGPT Mức độ tăng SGOT, SGPT đa số từ 5-10 lần.,tỷ lệ tăng trên 10 lần của SGOT là 19,3%,SGPT:10,5% Sự tăng men gan không khác biệt giữa bệnh nhân có hoặc không có viêm gan siêu vi B,C đi kèm Có sự liên quan giữa mức độ tăng men gan với độ SXH,độ nặng của sốc,tình trạng xuất huyết tiêu hóa và tử vong Những yếu tố liên quan đến suy gan cấp bao gồm: độ SXH (III-IV), tình trạng sốc nặng,rối loạn tri giác, TQ, TCK kéo dài, giảm tỹ lệ Prothrombin, giảm fibrinogen Các yếu tố không liên quan: tuổi, giới,ngày vào sốc,tiểu cầu giảm, tăng creatinine Tử thiết gan 15 trường hợp tử vong cho thấy tổn thương mô học từ dạng xung huyết, xuất huyết, đến hoại sinh(apoptosis) chiếm100%,hoại tử chiếm 86% Chứng tỏ tế bào gan người là tế bào đích của virút, và việc nhân lên của virus gây hiện tượng hoại sinh trong tế bào gan

SUMMARY

LIVER FAILURE AND DENGUE HEMORRHAGIC FEVER IN CHILDREN

Phan Huu Nguyet Diem * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol.7 * Supplement of No 1: 132 - 137

We studied the impact of dengue on liver function of 231 cases of DHF, which are confirmed by MAC-ELISA or HI extended from June 2000 to June 2002 Abnormal level of aspartae aminotransferase (AST), alanine aminotransferase (ALT), alkaline phosphatase, NH 3 were observed: AST: 168U/l, ALT: 77 U/l,phosphatase alkaline: 258U/l, NH 3 :1 8μg/ml The evelation of transaminases was mild to moderate, but was 10-fold greater than the normal upper limit for AST and ALT in 19,3% and 10,5% of the patients, respectively The level of AST was greater than that of ALT Results of the biochemical tests did not differ significantly between the cases with and without hepatitis B or C virus infection.,but significantly higher elevations of AST, ALT were observed in patients with DHF grade III, IV; severe shock,digestive bleeding,and died The factors had the relations with acute liver failure are: DHF grade III,IV; prolonged shock,encephalopathy,prolonged TQ,TCK, decreased fraction of prothrombine,decreased fibrinogen Liver biopsies of 15 patients died showed features of congestive, hemorrhagive, apoptosis(100%),and necrosis It is concluded that hepatic cells are the target cells of denge,and the replication of virus in hepatic cells cause the apoptosis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ nhiều năm nay sốt xuất huyết (SXH) Dengue

luôn là vấn đề sức khỏe quan trọng,đe dọa tính

mạng trẻ em Cơ chế bệnh sinh còn nhiều bàn cải,

có nhiều hướng nghiên cứu như sau: hướng cổ điển bao gồm: thuyết " Tái nhiễm " hay nhiễm nhiều lần (sequence infection) của Halstead S B.; -Thuyết

"Độc lực " của Gubler D J.; hướng mới bao gồm: -Đo lường các chất Cytokines:TNF, IL1, IL6 và

* Thạc sĩ, Bác sĩ, Gỉang viên bô môn Nhi –ĐHYD TPHCM

Trang 2

sự liên hệ giửa các chất trên với giai đoạn sốc,các

dạng nặng; Nghiên cứu sốc ở trẻ dưới 1 tuổi; Tìm

hiểu chức năng gan

Gan to là triệu chứng thường gặp và được coi là

một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh SXHD

Nhiều nghiên cứu cho thấy ở bệnh nhân SXHD chức

năng gan ít nhiều bị rối loạn, tế bào gan người là tế

bào đích của vi rút Dengue và việc nhân lên của

virút cũng gây ra tiến trình hoại sinh trong tế bào

này(8) Những biểu hiện viêm gan trong quá trình

bệnh có thể do phản ứng trực tiếp của vi rút trên tế

bào gan và có thể tham gia gây ra dạng bêïnh nặng

Trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi chọn

hướng nghiên cứu tìm hiểu chức năng gan với mục

đích:

1 Xác định sốc SXHD có liên quan đến suy gan

2 Đánh giá tổn thương gan về phương diện mô

học trong SXHD ở trẻ em

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

So sánh tỷ lệ tổn thương gan ở nhóm có sốc và

nhóm không sốc

Xác định tỷ lệ những biến đổi lâm sàng của

SXHD: vàng da, tổn thương não…trong trường hợp

có suy gan

Xác định sự kết hợp giữa xuất huyết phủ tạng và

chức năng gan

Xác định sự kết hợp giữa độ nặng của sốc và suy

chức năng gan

Xác định tỷ lệ những biểu hiện đặc hiệu của sốt

xuất huyết trong tế bào gan ở những ca tử vong

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang - mô tả - phân tích

Mô tả hàng loạt ca ở những trường hợp tử vong

có làm tử thiết gan

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các trẻ đủ tiêu chuẩn chẩn đoán SXH lâm

sàng có huyết thanh chẩn đoán SXHD dương tính

bằng MAC-ELISA và hoặc HI, nhập khoa Hồi sức và

khoa Sốt xuất huyết Bệnh viên Nhi Đồng I từ tháng 6/2000 đến 6/2002 Tất cà những trường hợp tử vong, nếu có sự đồng ý của thân nhân sẽ được làm tử thiết gan, mẫu bệnh phẩm được cố định trong dung dịch Formol 10%, và được chia làm hai, một mẫu được gởi tới khoa giải phẫu bệnh Bệnh viện Nhi Đồng Ivà đồng thời một mẫu gởi sang viện Pasteur Paris

Xử lý số liệu

Dữ liệu được nhập và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 9 0 và phần mềm Epi-info 6 04, các số liệu nghiên cứu được xử lý bằng phép kiểm α 2, trong trường hợp phép kiểm này không đủ giá trị sẽ xử dụng Fisher test

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm chung dân số nghiên cứu

Lứa tuổi thường gặp trên 5 tuổi chiếm 82,6%, dưới 1 tuổi chỉ gặp 3,5% Tỷ lệ nam nữ bằng nhau Ngày vào sốc đa số là ngày 4-5 chiếm tỷ lệ 61,5%, vào sốc sớm ngày 3 là 6,1%, vào sốc muộn, ngày 6-7 là 12,1% Phân bô độ SXH như sau: độ I có 2 ca chiếm tỷ lệ 0,9%, độ II 50 ca chiếm tỷ lệ 21,6%; độ III 148ca chiếm 64,1%; độ IV 31 ca chiếm 13,4%

Đặc điểm về tổn thương gan

Đặc điểm lâm sàng

Có 191 trường hợp có gan to chiếm tỷ lệ 82,7%, gan to trung bình tưÛ 3-4cm, có 16 trường hợp gan to trên 5 cm chiếm 6,9% Có 98 trường hợp đau vùng gan chiếm tỷlệ 42,4%, có 6 trường hợp vàng da chiếm 2,6%

Bảng 1: Triệu chứng lâm sàng về gan theo độ

SXH:

Đặc điểm Độ I

(2 ca)

Độ II (50ca)

Độ III (148 ca)

Độ IV (31 cca)

p

(0%)

23 (46%)

138 (93 2%)

30/

(96 6%)

<0 001 Đau vùng

gan

0 (0%)

8 (16%)

66 (44 6%)

24 (77 4%)

<0 001

(0%)

1 (2%)

4 (2 7%)

1 (3 2%)

0 9

Trang 3

Gan to và đau vùng gan có liên quan đế n độ

SXH, độ III-IV gặp gan to và đau vùng gan nhiều

hơn (p< 0 001)

Bảng 2 Liên quan giữa chiều cao gan và độ SXH

Chiềucao

gandướisườn

Độ I (2 ca)

Độ II (50ca)

Độ III (148 ca)

Độ IV (31 cca)

2%)

Độ SXH càng nặng chiều cao gan càng to

(p=0.00001)

Đặc điểm cận lâm sàng:

Biến đổi sinh hóa liên quan đến chức năng gan:

các chỉ số trung bình về chức năng gan đều tăng

trên mức bình thường Mức độ SGOT tăng cao hơn

so với SGPT

Bảng 3 Biến đổi sinh hóa liên quan đến chức

năng gan

Chức năng gan Trung bình Tối thiểu Tối đa

Phoaphatase

alkaline(U/l)

258 55 850

Bảng 4 Phân bố mức độ tăng SGOT, SGPT

Men gan Bỉnh

thưởng

Tăng < 5lần Tăng5-10

lần Tăng >10lần

SGOT 26(11 4%) 106(46 5%) 52(22 8%) 44(19 3%)

Mức độ tăng SGOT, SGPT từ nhẹ đến trung

bình: tăng dưới 5 lần vàtừ 5-10 lần chiếm đa số (p <

0 001)

So sánh mức độ tăng SGOT, SGPT và độ SXH

Bảng 5 So sánh mức độ tăng SGOT, SGPT và độ

SXH

SGOT SGPT

Độ

SXH Bỉnh

thưởng

Tăng <

5lần

Tăng 5-10

lần

Tăng

> 10

lần

Bỉnh

thưởng

Tăng

<

5lần

Tăng 5-10

lần

Tăng

> 10

lần

Tổng cộng

I 0

(0%)

2

(100%)

0 (0%)

0 (0%)

1 (50%)

1 (50%)

0 (0%)

0 (0%)

2

II 15

(30%)

26

(52%)

8 (16%) (2%)

(44%)

24 (48%)

3 (6%)

1 (2%)

50

SGOT SGPT Độ

SXH Bỉnh thưởng

Tăng <

5lần

Tăng 5-10

lần

Tăng

> 10 lần

Bỉnh

thưởng

Tăng

<

5lần

Tăng 5-10

lần

Tăng

> 10

lần

Tổng cộng

(6

2%)

75 (51

4%)

29 (19

9%)

33 (22

6%)

54 (37%)

60 (41

1%)

13 (8

9%)

19 (13%) 146

(6

7%)

3 (10%)

15 (50%)

10 (33

3%)

3 (10%)

14 (46

7%)

9 (30%)

4 (13

3%)

30

Độ sốt xuất huyết càng nặng mức độ tăng SGOT (p value< 0 001), SGPT (p value=0 001) càng nhiều

So sánh mức độ tăng SGOT, SGPT và độ nặng của sốc:

Bảng 6 So sánh mức độ tăng SGOT, SGPT và độ

nặng của sốc

SGOT SGPT Độ

nặng của sốc

B.th Tăng

<

5lần

Tăng 5-10

lần

Tăng

> 10

lần

B.th Tăng

<

5lần

Tăng 5-10

lần

Tăng

> 10

lần

TC

(6.3

%)

56 (50%

)

30 (26.8

%)

19 (17%)

42 (37.5

%)

52 (46.4

%)

7 (6.3%)

11 (9.8%

) 112

(7.1

%)

24 (34.3

%)

18 (25.7

%)

23 (32.9

%)

15 (21.4

%)

28 (40%

)

14 (20%)

13 (18.6

%) 70

B.th: bình thường; TC: tổng cộng

Có sự liên quan giữa sốc nặng và mức độ tăng SGPT với p=0 003, SGOT tăng ở mức độ trên 10 lần có mối liên quan đến độ nặng của sốc

So sánh mức độ tăng SGOT, SGPT và tình trạng xuất huyết tiêu hóa (XHTH)

Bảng 7 So sánh mức độ tăng SGOT, SGPT và

XHTH

SGOT SGPT XHTH

B.th Tăng <

5lần

Tăng 5-10

lần

Tăng

> 10

lần

B.th Tăng

<

5lần

Tăng 5-10

lần

Tăng

> 10

lần

TC

Có 7 (9

3%)

30 (40%)

17 (22

7%)

21 (28%) (28%)

21 28 (37

3%)

10 (13

3%)

16 (21

3%

75

(12

4%)

76 (49

7%)

35 (22,9

%)

23 (15%)

59 (38

6%)

71 (46

4%)

15 (9

8%)

8 (5

2%) 153

B.th: bình thường; TC: tổng cộng

Trang 4

Có sự liên hệ giữa tăng SGPT và tình trạng

XHTH với p = 0 0014, SGOT tăng trên 10 lần có

mối liên quan đến tình trạng XHTH

So sánh mức độ tăng SGOT, SGPT và tình

trạng tử vong:

Bảng 8 So sánh mức độ tăng SGOT, SGPT và tình

trạng tử vong

SGOT SGPT

Tử

vong B.th Tăng

<

5lần

Tăng 5-10

lần

Tăng >

10 lần

B.th Tăng

<

5lần

Tăng 5-10

lần

Tăng >

10 lần TC

Có 1

(4

5%)

6

(27

3%)

4 (18

2%)

11 (50%)

2 (9

1%)

5 (22

7%)

4 (18

2%)

11 (50%) 22

Không 25

(12

1%)

100

(48

5%)

48 (23

3%)

33 (16%)

78 (37

9%)

94 (45

6%)

21 (10

2%)

13 (6

3%) 206

B.th: bình thường, TC: tổng cộng

Những trưởng hợp tử vong có mức độ tăng

SGOT, SGPT đáng kể với p value theo thứ tự p =0

0014; p <0,001

Những yếu tố liên quan đến suy gan:

Bảng 9 Những yếu tố liên quan đến suy gan:

Trong nhóm nghiên cứu có 25 trường hợp suy

gan, chiếm tỷ lệ 10 8%

OR Khoảng tin cậy

(95%)

p

Rối loạn tri giác 5 99 2 27-10 75 <0 001

D-dimere

Tiểu cầu <

50000/mm 3

0 09

1 03

0 03-0 25

0 41-2 59 <0 001 0 8

Những yếu tố liên quan đến suy gan: độ nặng

SXH (III IV), tình trạng sốc nặng,rối loạn tri giác,

TQ, TCK kéo dài, giảm tỹ lệ Prothrombin, giảm

fibrinogen Các yếu tố không liên quan: tuổi, giới,ngày vào sốc,tiểu cầu giảm, tăng creatinine Có 3 trường hợp có viêm gan siêu vi đi kèm: 1

ca VGSV C và 2 ca có VGSV B, mức độ tăng SGOT trung bỉnh là 702, SGPT trung bình laØ 1429,tình trạng SXH trên nền VGSV không có sự khác biệt về mức độ tăng men gan với những trường hợp SXH đơn thuần

Đặc điểm về tổn thương mô học trong những trường hợp tử vong

Bảng 10 Đặc điểm tổn thương mô học

Loại tổn thương Độ III (12 ca) Độ IV (3 ca)

Tổn thương mô học chủ yếu trong những trường hợp tử vong ở cả độ III-IV là hiện tương hoại sinh học (apoptosis) với thể Coulcilman chiếm tỷ lệ 100% Dạng xuất huyết thường gặp hơn xung huyết,tỷ lệ có hình ảnh hoại tử ở cả độ III-IV khác nhau không có ý nghĩa thống kê

BÀN LUẬN Đặc điểm lâm sàng

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi gan to chiếm tỷ lệ 82,7%, đau vùng gan laØ42,4% và vàng da là 2,6% Năm 1980 hướng dẫn của TCYTTG về SXHD có nêu gan to là một tịêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng trong bệnh SXHD, gan to được ghi nhận ở 90-96% bệnh nhi Thái Lan và 60% nguời lớn Kèm theo gan to thường có đau bụng vùng gan Vàng da và niêm mạc ít gặp, ngay cả khi bệnh nhân có gan

to và chắc cũng không thấy vàng da và niêm mạc Theo Gubler D Jmặc dù gan to là dấu hiệu thường gặp trong SXHD, nhưng kích thước gan không lên quan đến độ nặng Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi chiều cao gan càng to càng liên quan đến độ nặng của SXH (p=0,00001) Nguyễn Trọng Lân

1981 tại BVNĐ1 thấy tỷ lệ gan to là 86%(2)

Trang 5

Đặc điểm cận lâm sàng

Các biến đổi sinh hóa:

Các chỉ số trung bình về chức năng gan như

SGOT, SGPT, phosphatase alkaline, NH3 đều tăng

trên mức bình thường SGOT trung bình là

168UI/l,SGPT: 77 UI/l, phosphatase alkaline:258 UI/l,

NH3:1 8μg/ml Mức độ SGOT tăng cao hơn so với

SGPT Độ sốt xuất huyết càng nặng mức độ tăng

SGOT (p value< 0 001), SGPT (p value=0 001)

càng nhiều Ở những trường hợp có sốc,tỷ lệ tăng

SGOT là 93 5%, SGPT là 67% Có sự liên quan giửa

sốc nặngvà mức độ tăng SGPT (p=0 003),sự gia

tăng SGPT nhạy hơn nhiều so với SGOT, SGOT tăng

ở mức độ trên 10 lần có mối liên quan rõ đến độ

nặng của sốc p=0 008 Có sự liên quan giửa tăng

SGPT và tình trạng XHTH với p = 0 0014, SGOT

tăng trên 10 lần có mối liên quan đến tình trạng

XHTH Những trưởng hợp tử vong có mức độ tăng

SGOT, SGPT đáng kể so với những trường hợp

không tử vong(p value theo thứ tự p =0 0014; p

<0,001)

Có 25 trường hợp có biểu hiện suy gan cấp,

những yếu tố liên quan đến suy gan như sau: độ

SXH (III IV), tình trạng sốc nặng kéo dài,rối loạn tri

giác, rối loạn các yếu tố đông máu, sau khi đã loại

trừ các trường hợp có viêm gan siêu vi đi kèm

Tác giả Balankura M.(6) nghiên cứu những biến

đổi sinh hóa ở 117 bệnh nhân SXHD, trong đó có 21

bệnh nhân có sốc gặp SGOT,SGPT tăng ờ cả 3

trường hợp tử vong và thường gặp ở nhóm có sốc

Sumarmo và cs 1981(13) đã nghiên cứu so sánh

những biến đổi sinh hóa liên quan đến rối loạn chức

năng gan ở 30 bệnh nhân SXHD độ III-IV và 30

bệnh nhân không phải sốt Dengue tác giả có nhận

xét:men SGOT vaØ SGPT tăng ở nhóm bệnh nhân

SXHD độ III-IV,ở những bệnh nhân tử vong men

gan SGPT cao gấp 5 lần bình thường

Wahid SF, Sanusi S Wahid SF, Sanusi S(14)

2000,nghiên cứu so sánh tổn thương gan giữa hai

nhóm bệnh nhân SXHD và sốt Dengue(SD) cổ điển

nhận thấy gan to và rối loạn chức năng gan thường

gặp trong nhóm SXHD hơn trong SD Mức độ tổn

thương gan liên quan đến độ nặng của SXHD SGPT va SGOTØ tăng đáng kể ở bệnh nhân có xuất huyết tự nhiên

Mohan B, Patwari AK, Anand VK 2000(11)

Nghiên cứu 61 trẻ từ 2th-5 tuổi,trong đó 37 ca là SD,16 ca SXHD, 8 ca sốc SXH Thấy tỷ lệ gan to là 74%, SGOT,SGPT, tăng 80-87% nhóm trẻ co gan to 81% nhóm trẻ không có gan to Mức độ tăng này cao ở nhóm trẻ SXHD và sốc SXHD hơn SD

Nguyễn Trọng Lân, Nguyễn Thanh Hùng, Tiêu Ngọc Trân(12) 1995,tại bệnh viện Nhi đồng I,đã nghiên cứu 45 bệnh nhi SXHD nhận thấy: SGOT tăng trong 97,7% va øSGPT tăng trong 37,3% bệnh nhi SGOT tăng cao hơn SGPT và hầu hết các trường hợp tăng ít hơn 5 lần giá trị bình thường Transaminase không khác nhau có ý nghĩa giữa các

ca có viêm gan siêu vi B, và không có viêm gan B hoặc C,giữa SXHD sơ nhiễm và tái nhiễm, nhưng transaminase tăng cao đáng kể trong các ca có xuất huyết tiêu hóa

Nguyễn Bạch Huệ 2001(1) nghiên cứu trên 208 trường hợp SXHD, trong đó có 52 ca SXHD dạng não nhận thấy suy gan thật sự ở trẻ SXHD dạng não cao gấp 30 lần so với nhóm chứng

Biến đổi mô học:

Các mức độ tổn thương mô học gan đều xuất hiên trên vi thể tử mức độ nhẹ nhất là xung huyết, đến xuất huyết, hoại sinh và nặng nhất là hoại tử Trong 15 trường hợp sinh thiết gan của chúng tôi, có 15/15 trường hợp có hiện tượng hoại sinh (apoptosis),có 13/15 ca có hiện tượng hoại tử

Bhamarapravati N 1993(5), nghiên cứu giải phẫu bệnh những trường hợp tử vong nhận thấy tại gan có hoại tử vùng và liên quan đến đông máu tại tế bào gan Những ổ hoại tử thấy ở trung tâm tiểu thùy Tế bào Kupffer phồng to kèm hoại tử hyaline, hình thành tế bào ưa acid chứa không bào mỡ,còn được gọi là thể Coucilman Tế bào gan thoái hóa mức độ nhẹ Thâm nhiễm bạch cầu đơn nhân trong các xoang và tại khoảng cửa

Couvelard A, Marianneau P, Bedel C, Drouet MT, Vachon F, Henin D, Deubel V 1999(4) báo cáo một

Trang 6

trường hợp tử vong do SXHD được làm giải phẫu

bệnh thấy có ổ hoại tử trong mô gan, hóa mô miễn

dịch thấy kháng nguyên Dengue trong hầu hết mô

gan quanh ổ hoại tử, tổn thương gan kiểu hoại sinh

Tác giả nhận thấy tế bào gan là vị trí chủ yếu để

virút nhân lên nhiều lần trong gan

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 231 trường hợp SXHD về biến

đổi lâm sàng và cận lâm sàng về gan chúng tôi có

những nhận xét như sau:

- Bệnh nhân SXHD có những biểu hiện lâm

sàng về gan như sau: gan to chiếm tỷ lệ 82,7%, đau

vùng gan laØ42,4% và vàng da là 2,6%

- Những biến đổi sinh hóa liên quan đến chức

năng gan thể hiện như sau: Các chỉ số về chức năng

gan như SGOT, SGPT, phosphatase alkaline, NH3

đều tăng trên mức bình thường SGOT trung bình là

168U/l,SGPT: 77 U/l SGOT tăng cao hơn so với

SGPT Mức độ tăng SGOT, SGPT trung bình từ 5-10

lần

- Những biểu hiện về lâm sàng và sinh hóa về

tổn thương gan có liên quan đến mức độ nặng của

bệnh:SGOT, SGPT tăng cao hơn ở nhóm bệnh nhân

SXH độ III, IV; ở bệnh nhân sốc nặng kéo dài, ở

những trường hợp có xuất huyết tiêu hóa và ở

những trường hợp tử vong

- Những yếu tố liên quan đến suy gan cấp: độ

nặng SXH (III, IV), tình trạng sốc nặng, rối loạn tri

giác, rối loạn các yếu tố đông máu

- Tổn thương giải phẩu bệnh những trừông hợp

tử vong: có các biểu hiện xung huyết, xuất huyết,

hoại sinh, hoại tử Trong đó 100% trường hợp có hình ảnh hoại sinh và 86% có hình ảnh hoại tử

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Bạch Huệ Các yếu tố nguy cơ sốt xuất huyết dạng não ở trẻ em Luận án bác sĩ chuyên khoa cấp II,

2002

2 Nguyễn Trọng Lân Một số kinh nghiệm thực tế trong điều trị sốc sốt xuất huyết Dengue tại bệnh viện Nhi Đồng I TP HCM, Luận án phó tiến sĩ khoa học y dược

1995

3 Nguyễn Trọng Lân cà CS Viêm gan tối cấp trong Sốt xuất Dengue Tài liệu Y Dược học thành phố HCM, tr

24-26

4 Couvelard A, Marianneau P, Bedel C, Drouet MT, Vachon F, Henin D, Deubel V Report of a fatal case of dengue infection with hepatitis: demonstration of dengue antigens in hepatocytes and liver apoptosis Hum Pathol 1999 Sep;30(9):1106-10

5 Bhamarapravati N Monograph on Dengue / Dengue haemorrhagic fever-WHO 1993

6 Golsmith R S et al Heamorrhagic fever in Singapore

Bull, WHO,1965, 35:39

7 Lam S K Epidemiology of dengue in Malaysia

1992-1993 Dengue Newsletter 1995,19-26

8 Lam S K., Fong M Y., Doraisingham S.,Igarashi A.,Khin M A., Kyaw Z T.,Nisalak A., Roche C.,

Vaughn D W., Varidan V (1996) Multicentre evaluation of dengue IgM dot enzyme immunoassay

Clin Diagn Virol.,7(2) pp 93-8

10 Marianneau P.,Méret F.,Olivier R., Morens D., Deubel V.,(1996): Dengue virus replication in human hepatoma cell activates NF-kappa B wich in turn induces apototic cell death Journal of Virology, 71, pp 3244-3249

11 Mohan B, Patwari AK, Anand VK: Hepatic dysfunction

in childhood dengue infection J Trop Pediatr 2000 Feb;46(1):40-3

12 Nguyen TL, Nguyen TH, Tieu NT The impact of dengue haemorrhagic fever on liver function Research

in virology, 111418, pp273-7

13 Sumarmo et al: Studies of the liver function in DHF

Dengue Newsletter 1981,7, 491

14 Wahid SF,Sanusi S, Zawawi MM, Ali RA: A comparison of the pattern of liver involvement in dengue hemorrhagic fever with classic dengue fever Southeast Asian J Trop Med Public Health 2000 Jun; 31(2): 259-63

Ngày đăng: 20/01/2020, 08:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w