1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm bệnh lý nhiễm ký sinh trùng-vi nấm đường ruột trên bệnh nhân HIV/AIDS tại bệnh viện bệnh Nhiệt Đới TP. HCM

4 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 200,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát 310 bệnh nhân HIV/AIDS tại Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới Tp.HCM từ tháng 10 năm 2002 đến tháng 10 năm 2003, kết quả cho thấy tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng-vi nấm đường ruột là 22,58%, trong đó tỉ lệ nhiễm vi nấm đường ruột 16,13%, và nhiễm ký sinh trùng đường ruột 7,4%. Tỉ lệ nhiễm vi nấm hạt men là 9,68%, Candida sp. 6,54%, giun móc 2,9%, Strongyloides stercoralis 1,61%, Giardia lamblia 1,29%, Blastocystis hominis 0,97%, Cryptosporidium sp. 0,32%, và Entamoeba coli 0,32%.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ NHIỄM KÝ SINH TRÙNG-VI NẤM ĐƯỜNG RUỘT TRÊN BỆNH NHÂN HIV/AIDS TẠI BỆNH VIỆN BỆNH NHIỆT ĐỚI TP HCM

Nguyễn Thanh Liêm*, Nguyễn Hữu Chí**, Trần Xuân Mai*, Lê Đức Vinh***

TÓM TẮT

Khảo sát 310 bệnh nhân HIV/AIDS tại Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới Tp.HCM từ tháng 10 năm 2002 đến tháng 10 năm 2003, kết quả cho thấy tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng-vi nấm đường ruột là 22,58%, trong đó tỉ lệ nhiễm vi nấm đường ruột 16,13%, và nhiễm ký sinh trùng đường ruột 7,4% Tỉ lệ nhiễm vi nấm hạt men là 9,68%, Candida sp 6,54%, giun móc 2,9%, Strongyloides stercoralis 1,61%, Giardia lamblia 1,29%, Blastocystis hominis 0,97%, Cryptosporidium sp 0,32%, và Entamoeba coli 0,32% Nhiễm vi nấm đường ruột nói chung (Candida sp và những vi nấm hạt men khác) có khả năng là 1 tác nhân gây tiêu chảy ở bệnh nhân HIV/AIDS

SUMMARY

INTESTINAL FUNGAL AND PARASITIC INFECTIONS IN HIV/AIDS PATIENTS

IN HOSPITAL FOR TROPICAL DISEASES IN HCM CITY

Nguyen Thi Thanh Liem, Nguyen Huu Chi, Tran Xuan Mai, Le Duc Vinh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 106 – 109

The result of researching on 310 HIV/AIDS patients in Hospital for Tropical Diseases in HCM City, from October 2002 to October 2003, has showed that the prevalence of intestinal fungi and parasites was 22.58% The prevalence of intestinal fungi was 16.13%, and the prevalence of intestinal parasites was 7.4% The infected rate of yeasts was 9,68%, followed by Candida sp 6,54%, hookworm 2,9%, Strongyloides stercoralis 1,61%, Giardia lamblia 1,29%, Blastocystis hominis 0,97%, Cryptosporidium sp 0,32%, and Entamoeba coli 0,32% Intestinal fungi is likely to cause diarrhea in HIV/AIDS patients

ĐẶT VẤN ĐỀ

HIV/AIDS đã thực sự trở thành đại dịch toàn cầu,

khi số lượng bệnh nhân bị nhiễm không ngừng gia

tăng qua các năm HIV tấn công hệ thống miễn dịch

của cơ thể, làm sức đề kháng giảm dần rồi kiệt quệ

hoàn toàn Khi đó, người bệnh sẽ bị nhiễm các mầm

bệnh cơ hội, các mầm bệnh này có thể là ký sinh

trùng, vi nấm, vi trùng và siêu vi trùng

Theo y văn thế giới, những nghiên cứu cho thấy

tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột khá cao (30% -

40%) ở bệnh nhân AIDS(3,5), nhất là các ký sinh trùng

đơn bào như Cryptosporidium spp., Isospora spp.,

Cyclospora spp

Ngoài ra, tình trạng miễn dịch suy giảm còn

tạo thuận lợi cho vi nấm đường ruột phát triển ở

Senegal, tỉ lệ nhiễm Candida albicans đường

tiêu hoá ở bệnh nhân HIV/AIDS là 7,6 %(5) ỞÛ nước ta, cho đến nay chưa có một báo cáo nào tổng kết tình hình bệnh lý ký sinh trùng-vi nấm đường ruột trên bệnh nhân HIV/AIDS một cách toàn diện và có hệ thống Vì vậy, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu này với 2 mục tiêu:

-Xác định tỉ lệ nhiễm các loại ký sinh

trùng-vi nấm đường ruột trên bệnh nhân HIV/AIDS tại Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới Tp Hồ Chí Minh từ tháng 10 năm 2002 đến tháng 10 năm 2003

* Bộ môn Ký sinh trùng - Đại học Y Dược TP HCM

** Bộ môn Nhiễm - Đại học Y Dược TP HCM

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

-Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của

các loại bệnh ký sinh trùng-vi nấm đường ruột

mà chúng tôi phát hiện được trong nghiên cứu

này

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Những bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS đã chuyển

sang giai đoạn AIDS (theo CDC 1993), được điều trị

nội trú tại Bệnh Viện Bệnh Nhệt Đới, trong thời gian

từ tháng 10 năm 2002 đến tháng 10 năm 2003

Phương pháp nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Cỡ mẫu

2

/2 -1

Z

n

d

Với Z2(1 -α/2)=1,96

P = 0,04 (Trần Thị Kim Dung và cộng sự (1), tỉ lệ

nhiễm Cryptosporidium spp ở bệnh nhân HIV/AIDS

là 4,17%)

d = 0,05 (sai số cho phép)

Từ đó tính được n = 59

Như vậy, nếu tính thêm hiệu ứng thiết kế thì số

mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu này là: N = 118

bệnh nhân

Phương pháp thu thập mẫu và xét

nghiệm chẩn đoán ký sinh trùng-vi

nấm

Mẫu phân được cố định bằng F2AM, sau đó đem

soi trực tiếp và nhuộm theo phương pháp

Ziehl-Neelsen cải tiến để tìm ký sinh trùng, vi nấm Đối với

vi nấm, những trường hợp soi trực tiếp thấy nhiều tế

bào nấm hạt men có hay không kèm theo sợi nấm

giả được coi là dương tính

Thu thập số liệu bằng bảng thu thập số liệu

KẾT QUẢ

Tổng số mẫu thu thập được là 310, nữ giới chiếm

14,2%, nam giới 85,8% Tuổi trung bình là 27,19 ±

7,48 tuổi 82,90% bệnh nhân sinh sống ở Thành Phố

Hồ Chí Minh, và chủ yếu ở các quận nội thành

Tỉ lệ bệnh nhân được tìm thấy một hoặc nhiều tác nhân ký sinh trùng-vi nấm đường ruột là 22,58%

16,13% là tỉ lệ bệnh nhân được tìm thấy vi nấm phát triển rất nhiều trong phân, bao gồm cả những trường hợp chỉ thấy tế bào hạt men đơn thuần;

những trường hợp vừa thấy tế bào hạt men, vừa thấy

sợi tơ nấm giả (Candida sp.); và kể cả những trường

hợp vừa tìm thấy vi nấm, vừa tìm thấy ký sinh trùng

đường ruột khác

Chỉ có 7,40% bệnh nhân bị nhiễm ký sinh trùng

đường ruột

Bảng 1: tỉ lệ nhiễm các loại ký sinh trùng-vi nấm

đường ruột

Ký sinh trùng-vi nấm đường ruột Tần số Phần trăm

Candida sp 19 6,13%

Strongyloides stercoralis 4 1,29%

Entamoeba coli bào nang 1 0,32%

Cryptosporidium sp 1 0,32%

Blastocystis hominis 3 0,97%

Giardia lamblia bào nang 2 0,65%

Giardia lamblia hoạt động 1 0,32%

Vi nấm hạt men + giun móc 1 0,32%

Candida sp + Giardia lamblia bào nang 1 0,32%

Vi nấm hạt men + Strongyloides stercoralis 1 0,32%

Không tìm thấy ký sinh trùng hoặc vi nấm

Bảng 2: tỉ lệ nhiễm các ký sinh trùng-vi nấm đường

ruột riêng biệt

Tác giả khác Ký sinh trùng-vi nấm

đường ruột Tác giả Mỹ (4) Brazil (3) India (6)

Vi nấm hạt men 9,68%

Candida sp 6,45%

S stercoralis 1,61% 2,5%

Entamoeba coli 0,32% 10% 13%

Cryptosporidium sp. 0,32% 6% 7% 10,8%

Blastocystis hominis 0,97% 0,5% 3,3%

Giardia lamblia 1,29% 55% 16% 8,3%

Trang 3

Bảng 3: tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng-vi nấm đường ruột

ở bệnh nhân có biểu hiện tiêu chảy

Tác giả khác Ký sinh trùng-vi

nấm đường ruột Tác giả Thái Lan (7) Senegal (5) Italia (2)

Vi nấm hạt men 13,5%

Candida sp 9,5% 7,6%

S stercoralis 1,6% 8%

E.coli 0,8%

Cryptosporidium sp 0,8% 19,2% 8,2% 21,54%

Blastocystis hominis 0,8% 2,5% 10,77%

G lamblia 1,6% 3,8% 6,15%

Bảng 4: Liên quan giữa vi nấm đường ruột và tiêu

chảy

Tiêu chảy Không tiêu

chảy

Tổng

Tổng: 117 167 284

814

,

10

2

=

χ ; (p = 0,001 <0,01); PR = 1,70

Bảng 5: Liên quan giữa vi nấm hạt men và tiêu chảy

Tiêu chảy Không tiêu chảy Tổng

Tổng: 105 161 268

909

,

5

2

=

χ ; (p = 0,015 < 0,05); PR = 1,6

Bảng 6: Liên quan giữa nấm Candida sp và tiêu

chảy

Tiêu chảy Không tiêu chảy Tổng

Candida sp 12 6 18

Tổng: 100 156 256

198

,

6

2

=

χ ; (p = 0,013 < 0,05); PR = 1,80

BÀN LUẬN

Tình hình nhiễm ký sinh trùng-vi nấm

đường ruột

Tỉ lệ nhiễm các loài ký sinh trùng được xem là ký

sinh trùng cơ hội ở bệnh nhân HIV/AIDS chiếm tỉ lệ

rất khiêm tốn so với những báo cáo của nước ngoài;

còn những loại ký sinh trùng khác tỉ lệ nhiễm cũng

không đáng kể; tỉ lệ nhiễm vi nấm đường ruột tương

đối cao trong nhóm khảo sát (Bảng 2) Chúng tôi chỉ

dừng lại ở mức xác định có nhiễm vi nấm đường ruột hay không bằng phết phân soi trực tiếp thấy rất nhiều tế bào hạt men hoặc những trường hợp thấy sợi tơ nấm giả thì được xem là dương tính, chúng tôi không

đi sâu định danh từng loài

Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng-vi nấm đường ruột trên bệnh nhân HIV/AIDS giữa kết quả nghiên cứu của chúng tôi với kết quả của các nước khác cho thấy nhiễm vi nấm đường ruột chưa được

quan tâm ở các nước; tỉ lệ nhiễm các loại ký sinh

trùng đường ruột nói chung là thấp hơn nhiều so với các tác giả khác, có thể do đặc điểm bệnh HIV/AIDS ở Việt Nam khác so với các nước, bệnh nhân thường mắc những bệnh nhiễm trùng cơ hội khác rầm rộ hơn và đe doạ tính mạng bệnh nhân trước khi bệnh lý cơ hội đường ruột có điều kiện gây bệnh; đồng thời hầu hết bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi sinh sống tập trung ở nội thành Thành Phố Hồ Chí Minh, là nơi có điều kiện vệ sinh môi trường và ý thức vệ sinh cá nhân khá tốt, điều này có thể ảnh hưởng

đến kết quả tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng sẽ thấp

Ngược lại, tỉ lệ nhiễm vi nấm đường ruột lại cao, có thể do những bệnh nhân trong nhóm khảo sát thường nhập viện trong tình trạng nhiễm trùng đa cơ quan, kéo dài, đã được sử dụng kháng sinh phổ rộng lâu ngày trước đó, nên tạo cơ hội cho vi nấm đường ruột phát triển ngoài yếu tố suy giảm miễn dịch do HIV gây ra Ngoại trừ giun móc, tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng-vi nấm đường ruột khác đều cao ở nhóm bệnh nhân có biểu hiện tiêu chảy so với quần thể bệnh nhân HIV/AIDS nói chung, cho thấy khả năng gây bệnh của các loại ký sinh trùng-vi nấm này ở bệnh nhân HIV/AIDS

Đặc điểm của các bệnh ký sinh

trùng-vi nấm đường ruột

Triệu chứng tiêu chảy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân nhiễm vi nấm đường

Trang 4

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

ruột nói chung và nhóm bệnh nhân không tìm thấy

ký sinh trùng-vi nấm đường ruột (p < 0,01; PR =

1,7) (Bảng 4); giữa nhóm có sự hiện diện của vi nấm

hạt men trong phân và nhóm không tìm thấy ký sinh

trùng-vi nấm đường ruột (p < 0,05; PR = 1,6) (Bảng

5); và giữa nhóm có sự hiện diện của Candida sp

trong phân và nhóm không tìm thấy ký sinh trùng-vi

nấm đường ruột (p = < 0,05; PR = 1,8) (Bảng 6)

Vậy những bệnh nhân HIV/AIDS có vi nấm đường

ruột trong phân nói chung có khả năng bị tiêu chảy

với những mức nguy cơ khác nhau (từ 1,6 đến 1,8

lần)

Do đó, nhà lâm sàng cần đặc biệt quan tâm đến

tác nhân vi nấm đường ruột ở những bệnh nhân

HIV/AIDS có biểu hiện tiêu chảy

Vì số bệnh nhân nhiễm các loại ký sinh trùng

khác rất thấp, nên chưa thể thống kê được những

triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng khác đặc trưng

cho từng loài ở bệnh nhân HIV/AIDS

KẾT LUẬN

Qua khảo sát 310 trường hợp bệnh nhân

HIV/AIDS điều trị nội trú tại Bệnh Viện Bệnh Nhiệt

Đới Tp Hồ Chí Minh, trong thời gian từ tháng 10

năm 2002 đến tháng 10 năm 2003, chúng tôi rút ra

được một số kết luận sau:

-Tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng-vi nấm đường ruột là

22,58%, trong đó phần lớn là nhiễm vi nấm đường

ruột (16,13%), tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng đường ruột

chỉ chiếm 7,4% tổng số bệnh nhân

-Tỉ lệ nhiễm các loài ký sinh trùng được xem là

ký sinh trùng cơ hội ở bệnh nhân HIV/AIDS chiếm tỉ

lệ khá thấp, cụ thể: Cryptosporidium sp (0,32%),

Giardia lamblia (1,29%), Blastocystis hominis

(0,97%), Strongyloides stercoralis (1,61%)

-Tỉ lệ nhiễm của các loại ký sinh trùng khác tìm thấy trong nghiên cứu này bao gồm giun móc (2,9%),

Entamoeba coli (0,32%)

-Vi nấm đường ruột có thể là 1 tác nhân gây tiêu chảy ở bệnh nhân HIV/AIDS

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần thị Kim Dung, Lê Quang Đang, Trần Phủ Mạnh Siêu, Đinh Nguyễn Huy Mẫn, Trần Vinh Hiển (1997),

“Tình hình nhiễm trùng bào tử đường ruột

Cryptosporidium sp tại Trung Tâm Bệnh Nhiệt Đới

Thành Phố Hồ Chí Minh từ tháng 1/1996 đến tháng

7/1997”, Tạp chí Y học, 1(4), tr 41-45

2 Brandonisio O, Maggi P, Panaro MA, Lisi S, Andriola

A, Acquafredda A, Angarano G (1999), “Intestinal protozoa in HIV-infected patients in Apulia, South

Italy”, Epidemiol Infect, 123(3), pp 457-62

3 Cimerman S, Cimerman B, Lewi DS (1999),

“Prevalence of intestinal parasitic infections in patients with acquired immunodeficiency syndrome in

Brazil”, Int J Infect Dis, 3 (4), pp 203-6

4 Esfandiari A, Jordan WC, Brown CP (1995),

“Prevalence of enteric parasitic infection among

HIV-infected attendees of an inner city AIDS clinic”, Cell Mol Biol, (41)1, pp 19-23

5 Gassama A, Sow PS, et al (2001), “Ordinary and opportunistic enteropathogens associated with diarrhea in Senegalese adults in relation to human

immunodeficiency virus serostatus”, Int J Infect Dis,

5(4), pp 192-8

6 Mohandas, Sehgal R, Sud A, Malla N (2002),

“Prevalence of intestinal parasitic pathogens in

HIV-seropositive individuals in Northern India”, Jpn J Infect Dis, 55(3), pp 83-4

7 Waywa D, Kongkriengdaj S, Tiengrim S et al (2001),

“Protozoan enteric infection in AIDS related diarrhea

in Thailand”, Southeast Asian J Trop Med Public Health, 32(2), pp 151-5

Ngày đăng: 20/01/2020, 08:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w