1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá điều kiện đặt ống nội khí quản và mức độ thuận lợi của phẫu thuật khi gây mê bằng propofol - sufentanil TCI không sử dụng thuốc giãn cơ trên bệnh nhân nhược cơ

6 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 321,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá điều kiện đặt ống nội khí quản và mức độ thuận lợi của phẫu thuật khi gây mê không sử dụng thuốc giãn cơ ở bệnh nhân nhược cơ. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của tài liệu.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN ĐẶT ỐNG NỘI KHÍ QUẢN VÀ MỨC ĐỘ

THUẬN LỢI CỦA PHẪU THUẬT KHI GÂY MÊ BẰNG PROPOFOL -

SUFENTANIL TCI KHÔNG SỬ DỤNG THUỐC GIÃN CƠ

TRÊN BỆNH NHÂN NHƢỢC CƠ

Võ Văn Hiển*; Mai VănViện*; Nguyễn Hữu Tú**

TÓM TẮT

Nghiên cứu 26 bệnh nhân (BN) nhược cơ (NC) có chỉ định phẫu thuật cắt tuyến ức nội soi, được

gây mê bằng propofol- sufentanil TCI không sử dụng thuèc giãn cơ

Kết quả: 100% BN có điều kiện đặt ống nội khí quản (NKQ) được chấp nhận (rất tốt 76,92%, tốt

23,08%) Huyết động trước và sau khi đặt ống NKQ không khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Mức độ hài lòng của phẫu thuật viên: rất hài lòng: 30,77%; hài lòng nhiều: 69,23% Tỷ lệ BN cử

động tại các thời điểm đặt trocar vào khoang màng phổi: 4/26 BN (15,38%); bóc tách tuyến ức 3/26

BN (11,53%)

Gây mê bằng propofol - sufentanil TCI không sử dụng thuốc giãn cơ trên BN NC cho điều kiện

đặt ống NKQ rất tốt, tốt, đảm bảo mức độ thuận lợi cho phẫu thuật cắt tuyến ức nội soi

* Từ khóa: Bệnh nhược cơ; Gây mê TCI; Propofol; Sufentanil; Thuốc giãn cơ; Nội khí quản

EVALUATION OF ENDOTRACHEAL INTUBATION CONDITIONS

AND CONVENIENCE LEVEL OF SURGERY WHEN ANESTHETIZING

BY PROPOFOL - SUFENTANIL TCI AND WITHOUT MUSCLE

RELAXANTS IN MYASTHENIA GRAVIS PATIENTS

Summary

26 myasthenia gravis patients underwent thoracoscopic thymectomy who were anesthetizied by

propofol-sufentanil TCI and without muscle relaxants

Results: 100% of patients had acceptable endotracheal intubation conditions (excellent: 76.92%,

good: 23.08%) There were no significant differences in hemodynamic before and after intubation

(p > 0.05) Surgeons’ satisfaction: totaly satisfied at 30.77%; quite satisfied at 69.23% Number of

moved patients during surgery: when inserting the trocar through the pleura 4/26 patients (15.38%);

and when dissecting the thymus 3/26 patients (11.53%)

Anesthetize by propofol-sufentanil TCI without muscle relaxants in myasthenia gravis patients gives

excellent and good endotracheal intubation conditions and convenience level for thoracoscopic thymectomy

* Key words: Myasthenia gravis; TCI; Propofol; Sufentanil: Muscle relaxant; Endotracheal intubation

* Bệnh viện 103

**Trường Đại học Y Hà Nội

Chịu trách nhiệm nội dung khoa học: GS TS Phạm Gia Khánh

GS TS Lê Trung Hải

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh nhược cơ (Myasthenia gravis) hay

còn gọi là bệnh NC nặng, là một bệnh tự

miễn mắc phải liên quan đến hoạt động và

bệnh lý của tuyến ức Cơ thể người bệnh

có tự kháng thể chống l¹i thụ cảm thể của

acetylcholin ở màng sau các khớp thần kinh

- cơ, làm cho các thụ thể này bị giảm sút cả

về số lượng và chất lượng, dẫn tới tình trạng

giảm hoặc mất dẫn truyền thần kinh - cơ,

làm cơ bị mất trương lực, không co được và

gây ra các biểu hiện lâm sàng đặc biệt Vô

cảm cho phẫu thuật trên BN NC nói chung

và phẫu thuật cắt tuyến ức ở BN NC nói

riêng luôn là một thách thức lớn đối với các

nhà gây mê hồi sức v× nó đóng một vai trò

hết sức quan trọng trong thành công của

phẫu thuật BN NC thường nhạy cảm với

các loại thuốc sử dụng trong gây mê như

thuốc ngủ, thuốc giảm đau và thuốc giãn cơ

ở những mức độ khác nhau Nhiều tác giả

trên thế giới nghiên cứu các phương pháp

vô cảm cho BN NC bao gồm có và không sử

dụng thuốc giãn cơ Trong đó, nếu sử dụng

thuốc giãn cơ sẽ có nguy cơ cao về hô hấp

như không thể rút được ống NKQ ngay sau

mổ, phải thông khí nhân tạo kéo dài, dẫn

đến nhiều nguy cơ khác như viêm phổi, phế

quản, suy hô hấp, cơn NC…, làm ảnh hưởng

đến hiệu quả điều trị Chính vì vậy, nhiều tác

giả cho rằng nên sử dụng phương pháp không

dùng thuốc giãn cơ nhằm tránh các tác dụng

phụ của thuốc này gây ra trên BN NC

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm:

Đánh giá điều kiện đặt ống NKQ và mức độ

thuận lợi của phẫu thuật khi gây mê không

sử dụng thuốc giãn cơ ở BN NC

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

26 BN được chẩn đoán xác định bệnh

NC do u tuyến ức hoặc tăng sản tuyến ức,

có chỉ định phẫu thuật cắt tuyến ức nội soi tại Khoa Gây mê, Bệnh viện 103 từ tháng

01 - 2011 đến 10 - 2012

2 Phương pháp nghiên cứu

IIa, IIb theo tiêu chuẩn phân loại của Osserman, không mắc các bệnh tim mạch, hô hấp kèm theo

- Phương pháp nghiên cứu: thử nghiệm

lâm sàng, tiến cứu

* Các bước tiến hành:

BN khi vào phòng mổ được thiết lập hai đường truyền tĩnh mạch ngoại vi bằng catheter 18G (một đường để sử dụng thuốc

mê và một đường để sử dụng các thuốc khác), truyền dung dịch natriclorua 0,9% và đường động mạch quay để theo dõi huyết

áp xâm nhập

Lắp đặt hệ thống theo dõi bằng monitor Datex Omeda (GE) với các chỉ số: điện tim

ở đạo trình DII, nhịp tim, độ bão hòa oxy

huyết áp xâm nhập Theo dõi độ sâu gây mê qua hệ thống Datex-Ohmeda S/5TM Entropy Module với hai chỉ số SE và RE, theo dõi độ giãn cơ bằng máy kích thích thần kinh với TOF mode

BN được thở oxy 100% qua mask trong thời gian 5 phút, sau đó được khởi mê bằng

hệ thống TCI của hãng Fressenius Kabi bằng hai thuốc propofol và sufentanil với nồng độ tại vị trí tác dụng ở não (Ce) tương ứng 5 mcg/ml và 0,3 ng/ml Sau khi đạt được nồng độ đích như đã cài đặt và BN mất tri giác hoàn toàn, tiến hành đặt ống NKQ Kiểm tra xác định ống NKQ đã chắc chắn nằm trong khí đạo bằng cách nghe phổi, duy trì thông khí nhân tạo với mode A/C bằng máy thở Datex-Omeda advance

Vt = 10 mg/kg cân nặng và được điều chỉnh

Trang 3

sao cho giá trị của PetCO2 trong khoảng

28 - 32 mmHg

* Các tiêu chí đánh giá sử dụng trong

nghiên cứu:

Thang điểm đánh giá điều kiện đặt ống

NKQ (theo Viby - Mogensen J và CS [4])

* Thông khí b ng m sk dễ dàng thông

khí bằng mask: 3 điểm; thông khí bằng mask

khó khăn: 2 điểm; không thể thông khí bằng

mask: 1 điểm

* Độ di động củ hàm hàm di động 3 điểm;

hàm di động 1 phần: 2 điểm; hàm không di

động: 1 điểm

* Mức độ nh n th y khe th nh âm và n p

th nh môn

Nhìn rõ khe thanh âm và nắp thanh môn:

3 điểm; nhìn thấy một phần khe thanh âm

và nắp thanh môn: 2 điểm; không nhìn thấy

khe thanh âm và nắp thanh môn: 1 điểm

* T nh trạng khe th nh âm khe thanh âm

mở: 3 điểm; khe thanh âm ở vị trí trung gian:

2 điểm; khe thanh âm đóng: 1 điểm

* Mức độ d ch chuy n và ho khi đặt ống

NKQ: không nhúc nhích: 4 điểm; ho 1 - 2

tiếng: 3 điểm; ho liên tục: 2 điểm; dịch chuyển

cơ thể: 1 điểm

* Được ch p nhận: rất tốt: 14 - 16 điÓm;

tốt: 10 - 13 điểm

* Không ch p nhận: kém: 9 điểm

* Đánh giá biến đ i mạch huyết áp động

mạch tại các thời đi m trước và s u đặt ống

NKQ:

* Đánh giá mức độ thuận lợi của phẫu thuật:

- Mức độ hài lòng của phẫu thuật viên đối với phẫu thuật: theo thang điểm VAS [2]:

rất hài lòng: 8 - 10 điểm; hài lòng nhiều:

6 - 8 điểm; hài lòng vừa: 4 - 6 điểm; hài lòng ít: 2 - 4 điểm; không hài lòng: 0 - 2 điểm

* Xử lý số liệu nghiên cứu:

Phân tích và xử lý số liệu theo phần mềm thống kê y học SPSS 11.5 Các biến định lượng được mô tả dưới dạng giá trị

định tính được mô tả dưới dạng tỷ lệ phần trăm (%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

1 Đặc điểm về tuổi, giới và phân loại

độ NC

Bảng 1: Đặc điểm chung của nhóm BN

nghiên cứu

Tuổi

Phân

độ NC

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi,

đa số BN ở lứa tuổi 20 - 40 (92,32%), BN nhiều tuổi nhất 66, ít nhất 18 tuổi Trong đó,

nữ 73,08% cao hơn so với nam (26,92%)

Kết quả của chúng tôi tương tự nghiên cứu cña Nguyễn Đức Thiềng [3], Lê Việt Anh, Mai Văn Viện [1]

Trang 4

BN NC trong nghiên cứu được lựa chọn

có phân độ NC thuộc nhóm I, IIa, IIb theo

phân độ Osserman, chưa có biểu hiện NC

ở các cơ hô hấp Vì vậy, không có rối loạn

chức năng hô hấp BN đã được điều trị nội

khoa bằng các thuốc ức chế cholinesterase

để ổn định tình trạng NC trước mổ

2 Điều kiện đặt ống NKQ

Ưu điểm của việc không sử dụng thuốc

giãn cơ khi gây mê trên BN NC sẽ không bị

tác động của thuốc ảnh hưởng đến dẫn

truyền thần kinh cơ, làm nặng thêm tình

trạng NC, đặc biệt là các cơ hô hấp Sau

mổ có thể rút ống NKQ sớm, làm giảm biến

chứng hậu phẫu Tuy nhiên, nếu không

sử dụng thuốc giãn cơ, BN có thể bị ảnh

hưởng bởi những kích thích gây ra khi đặt

ống NKQ hoặc khi phẫu thuật viên thao tác

trong trường mổ Để hạn chế tác dụng không

mong muốn này đòi hỏi bác sỹ gây mê phải

tăng liều thuốc mê và thuốc giảm đau Một

vấn đề đặt ra là, sử dụng các thuốc đó ở

liều lượng như thế nào để đảm bảo hạn chế

tối đa ảnh hưởng trªn BN, đồng thời không

gây quá liều thuốc Trong nghiên cứu này,

chúng tôi sử dụng thuốc mê propofol là loại

thuốc sử dụng rộng rãi nhất hiện nay với ưu

điểm khởi mê nhanh, duy trì mê êm dịu và

chất lượng tỉnh khá tốt Kết hợp với thuốc

giảm đau sufentanil có tác dụng giảm đau

mạnh gấp 1.000 lần morphin và gấp 10 - 15

lần so với fentanyl Các thuốc này không

ảnh hưởng đến dẫn truyền thần kinh cơ

nên sẽ không làm nặng thêm tình trạng NC

trên BN Ngoài ra, chúng tôi sử dụng hệ

thống gây mê có kiểm soát nồng độ đích

TCI (Target controlled infusion) cho phép

bác sỹ gây mê điều chỉnh được nồng độ

đích tại vị trí tác dụng của thuốc tùy theo

yêu cầu của phẫu thuật

Bảng 2: Điều kiện đặt ống NKQ

Chấp nhận

Rất tốt

Tốt

Không chấp nhận

Kém

Với nồng độ đích khi khởi mê của propofol

là 5 mcg/ml và của sufentanil là 0,3 ng/ml,

BN đi vào giấc ngủ một cách êm dịu Việc đặt ống NKQ thực hiện nhanh chóng sau

và khe thanh âm rõ ràng 100% BN có điều kiện đặt ống NKQ được chấp nhận trên lâm sàng Trong đó, điều kiện đặt ống NKQ rất tốt: 76,92%, tốt 23,08% và không có trường hợp nào kÐm Nghiên cứu của Vlajkovic G

và CS (2009) [5] trên BN NC được khởi mê bằng propofol liều 2 mg/kg và fentanyl liều 2

thấy điều kiện đặt ống NKQ rất tốt 67% Điều này chứng tỏ, khi sử dụng hệ thống TCI với propofol và sufentanil, nồng độ thuốc

ở vị trí tác dụng hợp lý thì tỷ lệ BN có điều kiện đặt ống NKQ rất tốt, cao hơn so với biện pháp khởi mê thông thường Vấn đề này còn được chứng minh bởi tình trạng ổn định của huyết động trước và sau khi đặt ống NKQ

Bảng 3: Biến đổi mạch, huyết áp trung

bình trước và sau khi đặt ống NKQ

THỜI ĐIỂM

MẠCH (Chu kỳ/phút)

HUYẾT ÁP TRUNG BÌNH (mmHg)

Trang 5

Ngay sau đặt ống NKQ (thời điểm T2),

mạch và huyết áp động mạch tăng cao hơn,

tuy nhiên vẫn nằm trong giới hạn bình thường

và không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) so

3 Mức độ thuận lợi của phẫu thuật

Rất hài lòng: 8 BN (30,77%); hài lòng

nhiều: 18 BN (69,23%); hài lòng vừa: 0 BN

(0%); hài lòng ít: 0 BN (0%); không hài lòng:

0 BN (0%)

Mặc dù không sử dụng thuốc giãn cơ,

nhưng BN đều có mức độ thuận lợi cho phẫu

thuật khá tốt Điều này thể hiện qua mức độ

hài lòng của phẫu thuật viên và số lần cử

động của BN qua các thì phẫu thuật Với mức

độ rất hài lòng: 30,77%; hài lòng nhiều 69,23%;

không có trường hợp nào có mức độ hài lòng

vừa và không hài lòng

Bảng 4: Số BN cử động làm ảnh hưởng

phẫu thuật đến PT

BN

(%)

Số BN cử động làm ảnh hưởng đến

phẫu thuật tại các thời điểm trong mổ không

đáng kể Trong nghiên cứu của chúng tôi,

số lần cử động của BN được ghi lại tại thời

điểm hoặc các thì mổ khi phẫu thuật gây ra

ở mức độ cao nhất như: rạch da, đưa trocar

vào khoang phế mạc… Kết quả cho thấy,

BN cử động nhiều nhất khi đặt trocar vào

khoang phế mạc do kích thích lá thành

màng phổi (4/26 BN = 15,38%); tiếp theo là

khi bóc tách tuyến ức (3/26 BN = 11,53%)

Khi xuất hiện tình trạng như vậy, nên tăng

nồng độ đích của propofol và sufentanil để

làm tăng độ mê cho BN Sau khi điều chỉnh, các cử động bất thường trên BN không còn xuất hiện và cuộc phẫu thuật diễn ra khá thuận lợi

KẾT LUẬN

Gây mê bằng propofol và sufentanil, không

sử dụng thuốc giãn cơ cho điều kiện đặt ống NKQ được chấp nhận trên lâm sàng rất tốt, tốt và đảm bảo mức độ thuận lợi cho phẫu thuật cắt tuyến ức nội soi điều trị bệnh NC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Việt Anh M i Văn Viện Đánh giá kết

quả cắt tuyến ức điều trị bệnh NC bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực Tạp chí Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam 2012, số 2, tháng

8, tr.46-50

2 Nguyễn Qu ng B nh Đánh giá mức độ

thuận lợi của phương pháp PCS bằng propofol trong phẫu thuật nhổ răng khôn Tạp chí Y học thực hành 2010, số 6, 723, tr.26-28

3 Nguyễn Đức Thiềng Châm tê kết hợp

thuốc hỗ trợ trong phẫu thuật cắt bỏ tuyến ức để điều trị bệnh NC Luận án Phó Tiến sỹ Khoa học

Y Dược Học viện Quân y 2010

4 Viby - Mogensen J, et al Good clinical

research practice (GCRP) in pharmacodynamic studies of neuromuscular blocking agents Acta Anaesthesiol Scand 1996 40, pp.59-74

5 Vlajkovic G, Isar Endotracheal intubation

without the use of muscle relaxants in patients with myasthenia gravis Med Pregl 2009, LXII (9 - 10), pp.412-416

Ngày nhận bài: 3/12/2012 Ngày giao phản biện: 6/1/2013 Ngày giao bản thảo in: 6/2/2013

Ngày đăng: 20/01/2020, 07:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm