1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tăng áp phổi cấp sau phẫu thuật tim hở 48 giờ đầu bệnh tim bẩm sinh có tăng áp phổi tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa

6 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 551 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và khởi phát cùng với những đặc điểm của cơn tăng áp phổi cấp nguy hiểm sau phẫu thuật tim hở bệnh tim bẩm sinh có tăng áp phổi từ đó đưa ra cách theo dõi và chăm sóc bệnh nhân tốt nhất.

Trang 1

SAU PHẪU THUẬT TIM HỞ 48 GIỜ ĐẦU BỆNH TIM BẨM SINH  

CÓ TĂNG ÁP PHỔI TẠI BỆNH VIỆN NHI THANH HÓA 

Hoàng Thị Phương* 

TÓM TẮT  

Mục tiêu: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng và khởi phát cùng với những đặc điểm của cơn tăng áp phổi cấp 

nguy hiểm sau phẫu thuật tim hở bệnh tim bẩm sinh có tăng áp phổi từ đó đưa ra cách theo dõi và chăm sóc bệnh  nhân tốt nhất.  

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả. 

Kết quả: Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy đối với nhóm có tăng áp phổi (TAP) trung bình thời gian 

rút nội khí quản sớm (trước 8 giờ). Có 8 bệnh nhân (chiếm 25%) xuất hiện cơn TAP cấp với với các triệu chứng  lâm sàng sau: mạch nhanh sau đó chậm dần, SPO 2  tụt, huyết áp hệ thống tụt, CVP tăng, tình trạng thiểu niệu  hoặc vô niệu xuất hiện sau cơn. Biến chứng thường gặp nhất là suy tim (15,6%) và tử vong (9,3%), đa số nằm  trong nhóm bệnh nhân có TAP nặng trước mổ. 

Kết luận: Những bệnh tim bẩm sinh (TBS) phức tạp như: AVSD, thân chung động mạch, TGA, DORV có 

nguy cơ cao xuất hiện cơn TAP sau mổ. Các yếu tố thuận lợi như hút nội khí quản và gắng sức sau khi rút nội  khí quản, tình trạng thiếu oxy, xẹp phổi, đau được cho là khởi phát cơn TAP cấp. Nên phẫu thuật sớm để làm  giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng do TAP. Để hồi sức tốt bệnh nhân TAP chúng ta cần phải theo dõi sát các chỉ 

số huyết động, tránh các yếu tố gây gắng sức, thiếu oxy, và giảm đau cho bệnh nhân. 

Từ khóa: Bệnh tim bẩm sinh, tăng áp phổi, cơn tăng áp phổi cấp, phẫu thuật tim. 

ABSTRACT 

PULMONARY HYPERTENSIVE CRISIS:  

EVALUATION RISK FACTORS POSTOPETRATIVE 48HRS FOR CONGENITAL HEART DISEASE  

WITH PULMONARY HYPERTENSION IN THANH HOA CHILDREN’S HOSPITAL 

Hoang Thi Phuong* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 47 ‐ 52 

Objective: Evaluate the factors that influence the onset and characteristics of the pulmonary hypertensive 

crisis after congenital heart surgery and then finding a way to follow up and best patient care. 

Methods: Retrospective descriptive study. 

Results:  Through  research  we  found  the  PH  medium  group  have  extubated  early  (before  8  hrs  post‐op). 

There were 8 patients (25%) appeared pulmonary hypertesion crisis with clinical signs: pulse rapidly and then  slowly, SPO 2  dropped, blood pressure system down, CVP increased, the status of oliguria or anuria after that. Is  the most common complication of right heart failure (15.6%) and mortality (9.3%), all patients in the group with  preoperative severe PH. 

Conclusions:  The  complex  congenital  heart  diseases  such  as:  AVSD,  truncus  arteriosus,  TGA,  high‐

risk  postoperative  appearance  Pulmonary  hypertension  crisis.  The  triggers  favorable  factors  such  as  endotracheal suction and stress after tracheal extubation, hypoxia, atelectasis, pain is believed to be the onset 

of  PH  crisis.  So  early  surgery  to  reduce  mortality  and  complications  of  CHD  with  PH.  For  Postoperative  CHD with PH nursing care we need to closely monitor the hemodynamic indexes, triggers, avoid exertion,  hypoxia, and pain relief for patients. 

* Bệnh viện Nhi Thanh Hóa. 

Trang 2

surgery. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Tăng áp phổi (TAP) là một trong những hậu 

quả  nghiêm  trọng  của  bệnh  tim  bẩm  sinh  có 

luồng shunt trái – phải; tăng áp phổi được định 

nghĩa  là  áp  lực  động  mạch  phổi  tâm  thu  >  35 

mmHg  hoặc  PAPm  >  25  mmHg  lúc  nghỉ  ngơi 

trưng bởi sự tăng tiến triển kháng trở mạch phổi 

dẫn  tới  suy  tim  phải  và  tử  vong  sớm.  Trong 

những  năm  gần  đây  y  học  đã  đạt  được  những 

thành  tựu  lớn  trong  hiểu  biết  về  cơ  chế  bệnh 

sinh, tiến triển bệnh, chẩn đoán và điều trị tăng 

áp  phổi  nói  chung  và  của  riêng  bệnh  lý  tim 

mạch bẩm sinh.  

Trong  suốt  quá  trình  phẫu  thuật  tim  có 

nhiều  yếu  tố  ảnh  hưởng  làm  nặng  thêm  TAP 

như  quá  trình  gây  mê,  phẫu  thuật,  chạy  máy 

tuần  hoàn  ngoài  cơ  thể  và  chiến  lược  bảo  vệ 

tim, sự giải phóng các chất trung gian hóa học. 

Hồi  sức  hậu  phẫu  đối  với  phẫu  thuật  tim  hở 

bệnh nhân có TAP thực sự là thử thách lớn đối 

với  Ekip  hồi  sức,  việc  chăm  sóc  và  theo  dõi 

chặt chẽ bệnh nhân không chỉ với đội ngũ bác 

sỹ  hồi  sức  mà  còn  phải  phối  hợp  với  điều 

dưỡng  SICU  (hồi  sức  phẫu  thuật)  là  hết  sức 

quan trọng trong việc phát hiện sớm các triệu 

chứng của TAP, đánh giá các yếu tố gây khởi 

phát tăng áp phổi sau phẫu thuật nhất là trong 

giai đoạn 48 giờ đầu.  

Mục tiêu nghiên cứu 

Mô  tả  các  yếu  tố  ảnh  hưởng  và  khởi  phát 

cùng với những đặc điểm của cơn tăng áp phổi 

cấp  sau  phẫu  thuật  bệnh  tim  bẩm  sinh  có  tăng 

áp phổi từ đó đưa ra cách theo dõi và chăm sóc 

bệnh nhân tốt nhất.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu  

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 32 BN 

được  điều  trị  phẫu  thuật  tại  bệnh  viện  Nhi 

Thanh Hóa (từ tháng 01 năm 2013 đến tháng 06 

năm 2013). 

Tiêu chuẩn lựa chọn 

Bệnh nhân tim bẩm sinh có kết quả siêu âm  chẩn đoán tăng áp phổi. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Các bệnh lý khác có tăng áp phổi. 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang. 

Xử lý số liệu 

Sử dụng phần mềm Epi Info 3.5.4. 

Qui trình làm nghiên cứu 

Mẫu nghiên cứu gồm các dữ kiện về: Họ tên  bệnh nhân, tuổi giới, địa chỉ, biểu hiện lâm sàng,  cận lâm sàng (siêu âm tim trước mổ và sau mổ)  X‐  quang  tim  phổi,  các  thay  đổi  về  huyết  động 

và hô hấp, các triệu chứng cơn tăng áp phổi cấp,  các  yếu  tố  khởi  phát  và  đặc  điểm  TAP,  các  tai  biến xảy ra. 

Siêu âm tim trước và sau phẫu thuật nhằm  đánh  giá  các  chỉ  số:  Chức  năng  tim,  tổn  thương,  kích  thước  thất  phải,  chênh  áp  và  áp  lực ĐM phổi.  

KẾT QUẢ   Phân bố chung 

Bảng 1. Phân bố về tuổi, giới, cân nặng 

Giới Tuổi (tháng) Cân nặng

Nam Nữ

27,84± 44,67 9,23± 7,01

22 (68,7%) 10 (32,3%)

* Nhận xét: Về giới: Tỉ lệ nam > nữ. Về tuổi:  Bệnh nhân nhỏ nhất là 1 tháng tuổi, Bệnh nhân  nhiều  tuổi  nhất  là  15  tuổi,độ  tuổi  trung  bình 

27,84±44,67  tháng.  Về  cân  nặng:  Bệnh  nhân 

trong  nhóm  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có  cân  nặng thấp hơn so với tuổi, trong đó bệnh nhân  thấp cân nhất là 3 kg trung bình là 9,23 ± 7,01 kg.   Bệnh cảnh TLT là chủ yếu (78%); nhóm bệnh  nhân  tim  bẩm  sinh  phức  tạp  như  AVSD  và  DORV  chiếm  tỉ  lệ  thấp  nhưng  mức  độ  TAP  thường nặng hơn. 

Trang 3

AVSD 19%

VSD+PD A 31%

VSD

47%

DORV 3%

Biểu đồ phân bố mặt bệnh

 

Hình 1. Phân bố theo mặt bệnh 

Đặc  điểm  lâm  sàng,  cận  lâm  sàng  và  điều 

trị tăng áp trước phẫu thuật. 

Đặc điểm lâm sàng 

Bệnh nhân có tiền sử viêm phổi tái phát nhiều 

lần,  hoặc  đã  được  chẩn  đoán  TBS.  Các  bệnh  lý 

luồng  shunt  trái‐  phải  lớn  gây  lượng  máu  lên 

phổi nhiều là điều kiện thuận lợi gây bội nhiễm 

phổi. Do đó trong nghiên cứu của chúng tôi tất cả 

bệnh  nhân  đều  được  điều  trị  kháng  sinh  và  các 

thuốc dãn mạch phổi trước mổ.  

Đặc điểm cận lâm sàng 

Siêu  âm  Dopler  Tim  là  phương  pháp  giúp 

chỉ định điều trị phẫu thuật và đánh giá mức độ 

TAP  trước,  sau  phẫu  thuật.  Theo  Roldan  thì 

ALĐMP  tâm  thu  qua  siêu  âm  tim  thực  hiện 

trước và sau mổ được phân chia như sau: 

+  TAP  nhẹ:  35≤  ALĐMP  tâm  thu  ≤  45  mmHg. 

+ TAP trung bình: 45< ALĐMP tâm thu < 60  mmHg. 

+ TAP nặng: ALĐMP tâm thu ≥ 60 mmHg.  

Dựa  trên  tiêu  chuẩn  này  trong  nghiên  cứu  của chúng tôi có 15 bệnh nhân TAP nặng, còn lại 

là TAP trung bình. 

Những biến đổi trong giai đoạn 48 giờ đầu hồi  sức sau mổ. 

Bảng 2. Thời gian thở máy. 

Stt Thời gian thở máy n %

*  Nhận  xét:  Những  bệnh  nhân  có  thời  gian  thở  máy  ≤  8  giờ  nằm  trong  nhóm  TAP  trung  bình. Áp lực mạch phổi còn cao sau phẫu thuật 

là  một  trong  những  yếu  tố  làm  tăng  thời  gian  thở máy.  

Bảng 3. Biến đổi về huyết áp. 

Stt Biến đổi về huyết áp n %

1 Trong giới hạn bình thường 24 75

2 Hội chứng giảm cung lượng tim 8 25

* Nhận xét: Trong giai đoạn 48 giờ đầu sau 

mổ  huyết  áp  biến  đổi  trong  giới  hạn  bình  thường  24/32  bệnh  nhân  chiếm  75%,  8  bệnh  nhân có hội chứng giảm cung lượng tim, không 

có bệnh nhân nào tăng huyết áp.  

0%

20%

40%

60%

80%

100%

Vận mạch An thần và giảm

đau Giảm đau đơn thuần Điều trị tăng áp Kháng sinh Dịch nuôi dưỡng

Hình 2. Đặc điểm về thuốc vận mạch, an thần, điều trị tăng áp và kháng sinh của BN. 

Trang 4

y  lệnh  dùng  vận  mạch,  kháng  sinh,  dịch  nuôi 

dưỡng. Trong số này có 15 bệnh nhân dùng tối 

thiểu  1  loại  vận  mạch  Dopamin.  An  thần  phối 

hợp  với  giảm  đau  sau  mổ  được  ưu  tiên  dùng 

(60%). Có 16 bệnh nhân được điều trị TAP trong 

đó có 2 bệnh nhân dùng phối hợp Milrinone và 

Ilomedin.  

Thay đổi về áp lực ĐMP sau phẫu thuật 

Siêu âm đánh giá trong 24 giờ đầu sau phẫu 

thuật có 12/32 (chiếm 37,5%) bệnh nhân ALĐM 

còn cao, trong số đó có 8 bệnh nhân (chiếm 25%) 

xuất hiện cơn TAP cấp. 

Bảng 4. Yếu tố khởi phát cơn TAP cấp. 

Gắng sức khi cai máy 1 12,5

* Nhận xét: Có nhiều yếu tố khởi phát TAP 

cấp,  tuy  nhiên  yếu  tố  gắng  sức  và  thiếu  oxy 

chiếm tỉ lệ cao hơn. 

Đặc điểm lâm sàng những bệnh nhân TAP 

cấp 

Trên lâm sàng chúng tôi nhận thấy những 

bệnh  nhân  có  cơn  TAP  cấp  thường  có  mạch 

đường  thở  tăng  cao,  huyết  áp  hệ  thống  tụt, 

CVP  tăng,  tình  trạng  thiểu  niệu  hoặc  vô  niệu 

xuất hiện sau cơn.  

Biến chứng do TAP cấp. 

Bảng 5. Biến chứng sau TAP cấp sau mổ. 

32

*  Nhận  xét:  Trong  số  8  bệnh  nhân  có  cơn 

TAP  cấp  sau  mổ,  có  5  bệnh  nhân  suy  tim 

(15,6%  trong  tổng  số  bệnh  nhân),  có  3  bệnh 

nhân tử vong do suy tim nặng không đáp ứng 

với điều trị. 

BÀN LUẬN 

Bệnh tim bẩm sinh có luồng shunt T‐P như  VSD đơn thuần lớn, hoặc kết hợp với ASD, PDA  hoặc  các  BTBS  phức  tạp  như  AVSD,  TGA,  dẫn  đến sự quá tải về thể tích và áp lực lên hệ thống  mạch  máu  phổi,  là  yếu  tố  chính  gây  nên  tình 

thường đến viện trong bệnh cảnh viêm phổi tái  phát nhiều lần (27/32 bệnh nhân). Chính nguyên  nhân này gây trì hoãn thời gian phẫu thuật, dẫn  đến nguy cơ tổn thương phổi, kéo dài quá trình  hậu phẫu. Có 28/32 bệnh nhân thở máy kéo dài  trên 8 giờ. Đồng thời chúng tôi cũng nhận thấy  cân  nặng  trước  mổ  của  trẻ  thấp  cũng  là  một  trong  các  yếu  tố  thuận  lợi  làm  cho  TAP  nặng  hơn (8/15 bệnh nhân TAP nặng trước mổ và 6/8  bệnh nhân TAP cấp sau mổ có cân nặng < 5 kg).  Đối  với  nhóm  bệnh  nhân  TBS  có  TAP  nếu  không  được  điều  trị  có  thể  dẫn  tới  hội  chứng  Eisenmenger và suy tim phải. Trong những thập 

kỷ gần đây, những tiến bộ về điều trị bệnh TBS 

có TAP giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống sót cho  bệnh  nhân.  Bởi  vậy  những  bệnh  nhân  này  cần  được  chỉ  định  phẫu  thuật  càng  sớm  càng  tốt.  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  đa  số  bệnh  nhân  được  chỉ  định  phẫu  thuật  sớm,  duy  chỉ  có  một  bệnh  nhân  15  tuổi  do  gia  đình  không  có  điều  kiện nên đến khám và phẫu thuật muộn hơn. 

Về bệnh cảnh 

VSD  chiếm  78%  nhưng  tỷ  lệ  xuất  hiện  cơn  TAP  chỉ  có  5  bệnh  nhân  chỉ  chiếm  20%.  Trong  khi đó nhóm TBS phức tạp như AVSD thấp hơn  nhưng  tần  xuất  xuất  hiện  TAP  cấp  sau  mổ  cao  chiếm 50%. 

TAP  tồn  tại  sau  phẫu  thuật  được  định  nghĩa  là  Áp  lực  động  mạch  phổi  tâm  thu  lớn  hơn  50%  huyết  áp  tâm  thu  và  kéo  dài  trên  6  giờ  sau  phẫu  thuật.  Siêu  âm  đánh  giá  bệnh  nhân trước phẫu thuật chúng tôi nhận thấy có 

15  trường  hợp  có  ALĐMP  TT  ≥  60  mmHg  và 

17  trường  hợp  có  ALĐMP  TT  trong  giới  hạn  trung  bình.  Trong  nhóm  TAP  nặng  trước  mổ,  sau phẫu thuật chúng tôi kiểm tra qua siêu âm 

Trang 5

trong  số  đó  có  8  bệnh  nhân(  chiếm  25%)  xuất 

hiện cơn TAP cấp sau mổ. Theo một số khuyến 

cáo  mới  nhất  khi  áp  lực  động  mạch  phổi  tâm 

thu  >  70  mmHg  vói  nhóm  bệnh  tim  bẩm  sinh 

có  luồng  shunt  trái  –  phải  cần  phải  được  tiến 

hành phẫu thuật cấp cứu (2). 

Thời gian xuất hiện cơn TAP cấp, chúng tôi 

thấy đa số xuất hiện trong 24 giờ đầu sau phẫu 

thuật (6/8 bệnh nhân) trên nền những bệnh nhân 

ALĐMP còn cao sau phẫu thuật và thường vào 

các thời điểm như: Cai máy thở, sau khi rút ống 

nội khí quản, trong quá trình hút đờm dãi. Kết 

quả này tương tự như các nghiên cứu của Bando 

hay  các  tác  giả  khác (4).  Trong  nghiên  cứu  của 

chúng tôi cá biệt có 1 trường hợp xuất hiện TAP 

cấp sau khi dùng thuốc và 1 bệnh nhân tự phát. 

Như vậy có rất nhiều các yếu tố gây  khởi  phát 

cơn TAP cấp, tuy nhiên gắng sức và thiếu oxy là 

một trong hai yếu tố quan trọng nhất. Vì vậy, để 

hạn  chế  tối  đa  các  yếu  tố  này,  đối  với  những 

bệnh nhân trong nhóm nguy cơ cao có TAP cấp 

sau  mổ,  phẫu  thuật  viên  cần  đặt  Catheter  theo 

dõi  ALĐMP  trong  và  sau  mổ;  nếu  cần  thiết  ta 

nên duy trì an thần sâu, dãn cơ, thở máy lâu hơn 

24 giờ, cân nhắc thời điểm rút nội khí quản phù 

hợp  tránh  hiện  tượng  TAP  sau  rút  ống.  Một 

trong  các  điểm  quan  trọng  trong  quá  trình  hồi 

sức  là  quy  trình  chăm  sóc  hút  nội  khí  quản, 

chúng ta luôn luôn đảm bảo đủ oxy và an thần, 

thử  nghiệm  lâm  sàng  trong  và  ngoài  nước  về 

hiệu quả của hút nội khí quản kín và hở; các tác 

giả đều đưa ra kết luận phương pháp hút NKQ 

kín góp phần hạn chế giảm oxy máu và thay đổi 

nhịp  tim  trong  khi  hút(1,6).  Bởi  vậy,  chúng  tôi 

thiết  nghĩ  rằng  có  nên  áp  dụng  phương  pháp 

này vào nhóm bệnh nhân TAP sau phẫu thuật. 

Đồng  thời,  vì  chưa  có  nghiên  cứu  về  kỹ  thuật 

hút nội khí quản khi chăm sóc bệnh nhân TAP 

và  hạn  chế  về  mẫu  nghiên  cứu,  chưa  có  nhóm 

đối chứng nên  chúng  tôi  chưa  đưa  ra  được  kết 

luận về phương pháp hút tốt nhất.  

Dấu  hiệu  lâm  sàng  cơn  TAP  cấp,  chúng  tôi 

cũng  nhận  thấy  các  dấu  hiệu  như  sau:  mạch 

nhanh  trong  thời  gian  ngắn  sau  đó  chậm  dần,  SPO2 tụt,  áp  lực  đường  thở  tăng  cao,  bóp  bóng  nặng tay, trong khi đó phổi 2 bên thông khí tốt,  nội khí quản không có hoặc rất ít đờm, huyết áp 

hệ  thống  tụt,  CVP  tăng,  tình  trạng  thiểu  niệu  hoặc vô niệu xuất hiện sau cơn. Trong rất nhiều  trường  hợp  chúng  ta  có  thể  bị  nhầm  cơn  TAP  cấp với tràn khí màng phổi áp lực, tắc đờm hay  tụt nội khí quản (3). Vì vậy, khi cơn TAP cấp xẩy 

ra  xử  trí  trước  tiên  là  bóp  bóng  với  oxy  100%,  nếu nhịp chậm làm PCR kịp thời. Ngoài ra chăm  sóc  hồi  sức  sau  mổ  như:  Theo  dõi  sát  các  dấu  hiệu  lâm  sàng,  thở  máy  với  áp  lực  đường  thở  thấp, chống tắc và tụt NKQ, chúng ta nên giảm  tối  đa  các  yếu  tố  kích  thích  gây  khởi  phát  cơn  TAP cấp.  

Hậu  quả  của  cơn  TAP  cấp  sau  mổ  thường  dẫn đến nhiều biến chứng khác nhau và đây là  một  trong  những  nguyên  nhân  gây  hội  chứng  giảm  cung  lượng  tim,  theo  Matthias  (2010)  có  khoảng 5% xảy ra biến chứng này ở bệnh nhân  sau  phẫu  thuật  tim. (3).  Trong  tổng  số  32  bệnh  nhân  chúng  tôi  nghiên  cứu  có  8/32  bệnh  nhân  (25%)  có  cơn  TAP  cấp,  trong  đó  suy  tim  cấp  (15,6%) và tử vong (9,3%). 3 trường hợp tử vong  trong nghiên cứu này bao gồm 2 ca AVSD và 1 

ca VSD, nguyên nhân tử vong đều do TAP cấp  nặng, suy tim cấp và suy đa phủ tạng. 

KẾT LUẬN 

Qua  nghiên  cứu  32  bệnh  nhân  TBS  tăng  áp  phổi được phẫu thuật tại bệnh viện Nhi Thanh  Hóa chúng tôi có một số nhận xét sau: 

Cơn  tăng  áp  phổi  cấp  sau  phẫu  thuật  có  nguyên nhân  chưa  rõ  ràng,  thường  xảy  ra  sớm  trong  48  giờ  sau  phẫu  thuật  với  các  diễn  biến  lâm  sàng  đặc  trưng  ALĐMP  cao,  SpO2  tụt,  áp  lực  đường  thở  cao,  tụt  huyết  áp  hệ  thống,  cuối  cùng là mạch chậm và shock tim. 

Qua  quá  trình  chăm  sóc  và  hồi  sức  chúng  tôi  nhận  thấy  một  số  yếu  tố  có  liên  quan  đến  khởi phát cơn TAP cấp như: Hút nội khí quản,  gắng sức khi cai máy hoặc sau khi rút ống, xẹp  phổi, đau. 

Trang 6

dõi bệnh nhân sau mổ cần phải theo dõi sát các 

chỉ  số  huyết  động,  tránh  các  yếu  tố  kích  thích, 

gây gắng sức, thiếu oxy, đồng thời giảm đau an 

thần tốt nhất cho bệnh nhân. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 de  Paula  LCS,  Ceccon  MEJ  (2010).  Rsdomized  comparative 

analysis between two tracheal suction systems in neonates. Rev 

Assoc Med Bras; 56 (4): pp. 434‐9. 

2 Hill NS, Roberts KR, Preston IR (2009). Postopertive Pulmonary 

hypertension:  Etiology  and  treatment  of  Dangerous 

Coplication. Respiratory care. July Vol 54, pp. 7. 

3 Mathias  G,  Hong  G,  et  al  (2010).  Peri‐Operative  pulmonary 

hypertension in pediatric patients: Current strategies in children 

with congenital heart disease Cadiology; 116, pp. 10‐17. 

4 Ngọ Văn Thanh, Nguyễn Lân Hiếu, Nguyễn Văn Mão, Hà Mai 

Hương, Ngô Chí Hiếu, Nguyễn Xuân Tuấn, Vũ Thục Phương  (2010). Tăng áp phổi trong bệnh lý tim bẩm sinh trẻ em. Chuyên 

đề tim mạch học. NXB y học, tr. 8‐14. 

5 Tanmoy  D,  Rahul  B,  Kanchi  M  (1996).  Pulmonary  hypertentisive crisis following pediatric cardiac surgery” Asian  Cardiovasc Thorac Ann; 4: pp. 226‐229. 

6 Vũ Mai Hương, Nguyễn Thúy Hà, Dương Thị Ngôn, Nguyễn  Mai Hương, Nguyễn Thị Sang, Hoàng Thị Oanh, Đào Thị Vân,  Phạm  Thị  Tú  (2013).  Đánh  giá  hiệu  quả  sử  dụng  và  hiệu  quả  kinh  tế  của  phương  pháp  hút  nội  khí  quản  sử  dụng  Catheter  hút kín. Tạp chí Điều dưỡng, tr. 3‐8. 

 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 07:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w