1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả lâu dài của điều trị bệnh hở van ba lá ở bệnh nhân phẫu thuật hai lá tại Viện tim TP.HCM từ năm 2000-2012

9 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 592,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả lâu dài của điều trị bệnh hở van ba lá ở những bệnh nhân phẫu thuật van hai lá tại Viện Tim Tp.HCM. Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu kết hợp tiến cứu với 652 bệnh nhân nhập viện đã được điều trị phẫu thuật bệnh van hai lá có kèm theo thương tổn hở van ba lá trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2012.

Trang 1

Ở BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT HAI LÁ TẠI VIỆN TIM TP.HCM  

TỪ NĂM 2000 – 2012 

Trương Nguyễn Hoài Linh*, Nguyễn Văn Phan*, Phạm Thọ Tuấn Anh** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Đánh giá kết quả lâu dài của điều trị bệnh hở van ba lá ở những bệnh nhân phẫu thuật van hai lá 

tại Viện Tim Tp.HCM 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu kết hợp tiến cứu với 652 bệnh nhân nhập viện đã 

được điều trị phẫu thuật bệnh van hai lá có kèm theo thương tổn hở van ba lá trong khoảng thời gian từ năm 

2000 đến năm 2012. 

Kết quả: 652 bệnh nhân được tuyển chọn, trong đó có 581 được can thiệp điều trị van ba lá đồng thời với 

phẫu thuật van hai lá (89.11%), còn nhóm bệnh nhân không được can thiệp điều trị van ba lá có số lượng là 71  bệnh nhân (10.89%). 38 ca tử vong (5.82%) với các nguyên nhân gây tử vong như suy tim nặng (13/38), sốc  nhiễm trùng (7/38) và những nguyên nhân khác như : block nhĩ thất độ 3; vỡ thất trái, suy thận nặng. Thời gian  theo dõi là 6,16 ± 3,59 năm. Cả 2 nhóm bệnh nhân đều cải thiện tình trạng bệnh van 3 lá về mức độ hở van ba lá,  mức độ NYHA và áp lực ĐMP tâm thu khi đánh giá vào thời điểm xuất viện. Kết quả đánh giá lâu dài sau phẫu  thuật, nhóm được can thiệp có nguy cơ giảm so với nhóm không can thiệp về mức độ hở van ba lá (>2+) với  HR=0.62  (95%CI,  0.48  –  0.81  và  p=0.001),  sự  gia  NYHA  thêm  1  độ  với  HR=0.68  (95%CI,  0.48  –  0.92  và  p=0.01) và sự tăng áp lực động mạch phổi tâm thu (>50 mmHg) với HR=0.72 (95%CI, 0.54 – 0.97 và p=0.03). 

Kết luận: Đánh giá kết quả can thiệp van ba lá ngay sau phẫu thuật giữa 2 nhóm bệnh nhân không phản 

ánh được chính xác so với việc đánh giá kết quả theo thời gian dài sau phẫu thuật. Nhóm bệnh nhân được can  thiệp van ba lá giảm được nguy cơ tái hở van ba lá vừa‐nặng (>2+), giảm được nguy cơ tăng NYHA 1 độ và  giảm được nguy cơ tăng áp lực ĐMP tâm thu trên 50mmHg khi so với nhóm bệnh nhân không can thiệp, sự  khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05). Các yếu tố liên quan đến kết quả ở nhóm can thiệp tốt hơn ở nhóm không  can thiệp về lâu dài đó là loại hở van ba lá cơ năng, đường kính thất trái tâm thu (sVG) bình thường và đường  kính thất phải bình thường (VD). 

Từ khóa: kết quả lâu dài, bệnh hở van ba lá, bệnh van hai lá, Viện Tim Tp.HCM 

ABSTRACT 

LONGTERM OUTCOMES OF THE TRICUSPID VALVE TREATMENT IN PATIENTS WITH MITRAL  VALVE SURGERY AT HEART INSTITUTE HO CHI MINH CITY FROM YEAR 2000 TO 2012 

Truong Nguyen Hoai Linh, Nguyen Van Phan, Pham Tho Tuan Anh 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ No 4 ‐ 2014: 85 ‐ 93 

Objective:  To  evaluate  the  long‐term  outcome  of  the  tricuspid  regurgitation  treatment  in  patients  with 

mitral valve surgery at Heart Institute HCMC. 

Method:  Combined  retrospective  and  prospective  cohort  study  with  652  patients  hospitalized  for  mitral 

valve surgery with TR symptoms in the period from 2000 to 2012. 

Results:  652  patients  were  recruited,  of  which  581  repaired  tricuspid  valve  during  mitral  valve  surgery 

(89.11 %), 71 unrepaired tricuspid valve (10.89 %). 38 died in/after surgery (5.82 %) due to severe heart failure  (13/ 38), septic shock (7/38) and other reasons. Follow‐up time is 6.16 ± 3.59 years. Both groups had the same 

* Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh  ** Đại học Y Dược TP.HCM 

Tác giả liên lạc: ThS.Bs. Trương Nguyễn Hoài Linh,   ĐT: 0903997330,   Email: tn_hl2002@yahoo.com  

Trang 2

improvement  in  the  TR  grade  (>2+),  NYHA  and  PAPS  when  assessing  at  dis‐charged  time.  For  long‐term  outcomes,  tricuspid  valve  repaired  patients  had  lower  risk  comparing  to  unrepaired  ones  in  TR  grade  >2+,   with HR = 0.62 (95 % CI, 0:48 ‐ 0.81 and p = 0.001), NYHA increasing 1 grade with HR = 0.68 (95 % CI, 0.48 ‐  0.92 and p = 0.01) and PAPS increasing > 50 mmHg with HR = 0.72 (95 % CI, 0.54 ‐ 0.97 and p = 0.03). 

Conclusion: Assessing tricuspid valve treatment efficacy at dis‐charge time did not showed the difference 

between  2  groups  (repaired  vs.  unrepaired),  but  long‐term  outcomes  show  the  significant  difference.  Tricuspid  repaired patients had the lower risk of TR severe grade (>2+), NYHA increasing 1 grade and PAPS increasing > 

50 mmHg compared to un‐repaired ones with statistically significant (p <0.05). Predicted factors for better long‐ term outcomes in repaired valve patients to unrepaired ones are functional TR, normal left ventricular systolic  diameter (SVG) and normal right ventricular diameter (VD). 

Keywords: long‐term outcomes, tricuspid regurgitation, mitral valve disease, Heart Institute HCMC 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bệnh  lý  hở  van  ba  lá  thường  đi  kèm  với 

thương tổn van tim bên trái (van hai lá hoặc van 

động  mạch  chủ),  theo  kết  quả  khảo  sát  của  tác 

giả Sagie A. hơn 1/3 bệnh nhân bệnh van tim hai 

lá có kèm theo theo tổn thương hở van ba lá với 

mức độ hở van ba lá > 2+ (độ 2 trở lên)(2,11). Do đó 

bệnh hở van ba lá thường được khuyến cáo can 

thiệp  sớm  và  đồng  thời  trong  quá  trình  phẫu 

thuật van hai lá nếu như đường kính vòng van 

ba lá >35‐40 mm (đo bằng siêu âm tim) trước mổ 

bất chấp có hoặc không có mức độ hở van ba lá 

(>2+)(5)  để  tránh  nguy  cơ  tái  hở  van  ba  lá  sau 

phẫu  thuật  sửa  chữa  van  hai  lá  (sửa  hoặc  thay 

van)  và  làm  giảm  đi  tỷ  lệ  tử  vong  cao  (khoảng 

11%) do phẫu thuật lại van ba lá (mổ lại) để điều 

trị bệnh hở van ba lá tiến triển nặng(6).  

Khi  bệnh  nhân  không  được  can  thiệp  sớm 

bệnh hở van ba lá, thì về lâu dài dẫn đến nhiều 

biến  chứng  như  hở  van  ba  lá  sẽ  nặng  dần  theo 

thời  gian,  dẫn  đến  dãn  vòng  van  ba  lá  và  dãn 

thất phải, tăng áp động mạch phổi dẫn đến suy 

tim và tử vong(9). Kết quả nghiên cứu của tác giá 

Matsugana A, những bệnh nhân phẫu thuật van 

hai lá mà không được can thiệp van ba lá đồng 

thời thì có đến 74% bệnh nhân sẽ bị hở van ba lá 

với  độ  2+  sau  thời  gian  theo  dõi  trên  3  năm(7). 

Điều đó cho thấy bệnh hở van ba lá không mất 

đi  mặc  dù  đã  điều  trị  phẫu  thuật  thành  công 

bệnh van hai lá(2,13). 

Khi bệnh nhân được can thiệp sớm bệnh hở 

van ba lá đồng thời với phẫu thuật van hai lá thì 

kết quả điều trị theo dõi sau 5 năm trong nghiên  cứu của tác giả Calafiore AM ghi nhận ở nhóm  được can thiệp thì tỷ lệ hở van ba lá (2+) là 45% 

và ở nhóm không được can thiệp thì tỷ lệ hở van 

ba lá (2+) là 74,5%(3).  Việc  chẩn  đoán  và  can  thiệp  bệnh  hở  van 

ba  lá  ở  bệnh  nhân  bị  thương  tổn  van  tim  bên  trái  (van  2  lá)  đã  được  chúng  tôi  thực  hiện  nghiên cứu tại Viện Tim Tp.HCM từ năm 2000  đến nay. Nhằm đánh giá kết quả điều trị bệnh 

lý  hở  van  ba  lá  sau  1  thời  gian  dài  (trên  10  năm), chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá  kết quả lâu dài của điều trị bệnh lý hở van ba 

lá ở những bệnh nhân đã được phẫu thuật van  hai lá tại Viện Tim Tp.HCM. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu: Những bệnh nhân đã  được phẫu thuật van 2 lá tại Viện Tim TP.HCM 

từ năm 2000 – 2012 và có kèm theo hở van ba lá.  Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn 

hệ  hồi  cứu  kết  hợp  tiến  cứu,  thu  thập  những  thông  tin  ban  đầu  qua  hồ  sơ  bệnh  án  và  tiến  hành theo dõi bệnh nhân theo thời gian. 

Cỡ mẫu nghiên cứu: lựa chọn công thức tính 

cỡ mẫu nghiên cứu xác định hiệu quả can thiệp 

2 1

2 2 2 1 1 1 2

/ 1

_

) 2

p p

q p q p Z pq Z

 

Theo nghiên cứu của tác giả Calafiore AM về  kết quả sửa van ba lá sau 5 năm, ở nhóm được  can thiệp thì tỷ lệ hở van ba lá (2+) là 45% và ở  nhóm không được can thiệp thì tỷ lệ hở van ba lá  (2+)  là  74,5%  với  lực  mẫu  bằng  90%  và  mức  ý 

Trang 3

nghĩa  thống  kê  bằng  5%,  cỡ  mẫu  cần  thiết  cho 

mỗi nhóm tối thiểu là 63 bệnh nhân. Ước lượng 

10% tử vong sớm. Do đó số lượng mẫu của mỗi 

nhóm cần thu thập là 70 bệnh nhân. Tuy nhiên 

để kết quả phân tích có ý nghĩa thống kê, chúng 

tôi đã tiến hành thu thập toàn bộ số hồ sơ bệnh 

án có thể tiếp cận được. 

Thu  thập  và  xử  lý  số  liệu:  Số  liệu  của  bệnh 

nhân thì được thu thập bằng phiếu thu thập và 

được nhập vào phần mềm EpiData 3.1 và được 

phân tích bằng phần mềm Stata 12.1. Các số liệu 

định lượng được biểu diễn giá trị trung bình và 

độ  lệch  chuẩn  hoặc  trung  vị  và  khoảng.  Các  số 

liệu  định  tính  được  biểu  diễn  bằng  tỷ  lệ  phần 

trăm.  Sử  dụng  các  phép  kiểm  định:  chi  bình 

phương  với  biến  định  tính  và  danh  định;  t‐test 

với biến định lượng có phân phối chuẩn; Mann‐

Whitney  với  biến  định  lượng  không  có  phân 

phối chuẩn; Hồi quy Logistic (đơn/đa biến); Hồi 

quy Cox và kiểm định log‐rank. 

KẾT QUẢ 

652 hồ sơ đã được chọn (trước mổ), trong đó 

có  581  bệnh  nhân  thuộc  nhóm  được  can  thiệp 

điều trị van ba lá chiếm tỷ lệ 89,11%, còn nhóm 

bệnh nhân không được can thiệp điều trị van ba 

lá  có  số  lượng  là  71  bệnh  nhân,  chỉ  chiếm  tỷ  lệ 

10,89%.  Sau  phẫu  thuật  số  lượng  bệnh  nhân  tử 

vong là 38 ca (5,82%) với các nguyên nhân gây tử 

vong như suy tim nặng (13/38), sốc nhiễm trùng 

(7/38),  suy  đa  cơ  quan  (3/38),  các  nguyên  nhân 

khác đơn lẻ: block nhĩ thất độ 3; vỡ thất trái; suy  thận  nặng.  Hầu  hết  ở  các  đối  tượng  bị  tử  vong  đều có ít nhất 2 triệu chứng đồng thời như suy  tim kèm sốc nhiễm trùng.  

Số bệnh nhân còn lại là 614 ca được dùng để  phân tích kết quả điều trị theo thời gian, với thời  gian trung bình theo dõi là 6,16 ± 3,59 năm 

Tỷ  lệ  %  phân  bố  các  đặc  điểm  lâm  sàng  theo  ngưỡng giá trị bình thường 

Tình trạng bệnh hở van ba lá của bệnh nhân  được dựa vào các đặc điểm lâm sàng và cận lâm  sàng  so  với  giá  trị  ngưỡng  bình  thường.  Để  có  thể hiểu rõ và so sánh được tình trạng bệnh hở  van ba lá giữa 2 nhóm có can thiệp sửa van ba lá 

so  với  nhóm  không  có  can  thiệp  sửa  van  ba  lá  trong quá trình phẫu thuật van hai lá, chúng tôi  khảo sát tỷ lệ (%) phân bố các đặc điểm lâm sàng  theo  ngưỡng  giá  trị  bình  thường,  kết  quả  được  trình bày trong bảng 1.  

Chúng  tôi  ghi  nhận  một  số  đặc  điểm  có  sự  phân bố khác biệt giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống 

kê (p<0,05) bao gồm: giới tính, nhịp tim, loại hở  van  ba  lá,  độ  hở  van  ba  lá,  độ  NYHA,  đường  kính vòng van ba lá, đường kính thất phải và áp  lực ĐMP tâm thu. Tuy nhiên, tất cả các đặc điểm  lâm sàng và cận lâm sàng này đều sẽ được khảo  sát tiếp về khả năng có liên quan hay không đến  kết  quả  lâu  dài  về  tiến  triển  bệnh  hở  van  ba  lá  theo thời gian dài với mô hình Cox. 

Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu theo ngưỡng giá trị bình thường 

Dân số nghiên cứu (n=652) Nhóm không can thiệp (n=71) Nhóm có can thiệp (n=581) Giá trị p

Nhịp tim Nhịp xoang 44 (61,97%) 218 (37,52%) <0,001

Rung nhĩ 27 (38,03%) 363 (62,48%) Tổn thương van 2 lá

Hở van 2 lá 16 (22,54%) 102 (17,56%)

0,21

Hẹp van 2 lá 27 (38,03%) 207 (35,63%)

Hẹp hở phối hợp 28 (39,44%) 272 (46,82%) Loại hở van 3 lá cơ năng 62 (87,32%) 352 (55,94%) <0,001

thực thể 9 (12,685) 256 (44,06%)

Độ hở van 3 lá 1+ & 2+ 39 (54,93%) 55 (9,47%) <0,001

3+ & 4+ 32 (45,07%) 526 (90,53%)

Trang 4

Dân số nghiên cứu (n=652) Nhóm không can thiệp (n=71) Nhóm có can thiệp (n=581) Giá trị p

III & IV 6 (8,45%) 128 (22,03%)

ĐK vòng van 3 lá (mm) < 40 mm 27 (38,03%) 136 (23,41%) 0,007

> 40 mm 44 (61,97%) 445 (76,59%)

> 50 mm 37 (52,11%) 345 (59,38%)

> 44 mm 44 (61,97%) 392 (67,47%)

> 38 mm 71 (100%) 577 (99,31%)

> 50 mmHg 65 (91,55%) 563 (96,9%)

Ghi chú: RCT=chỉ số tim/ngực; NYHA= phân độ suy tim theo Hiệp hội tim mạch New York; dVG= đường kính thất trái tâm  trương; sVG = đường kính thất trái tâm thu; EF = phân suất tống máu; VD = đường kính thất phải; OG = đường kính nhĩ  trái; PAPS = Áp lực động mạch phổi tâm thu. 

 

Hình 1: Tỷ lệ (%) những đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng có sự khác biệt giữa nhóm không can thiệp và can 

thiệp 

Kết quả can thiệp hở van ba lá trước và sau phẫu thuật giữa 2 nhóm 

Cải thiện mức độ hở van ba lá  

Trang 5

Mức độ

hở van ba lá

2 35 (49,3%) 51 (72,86%) 51 (8,78%) 395 (72,61%)

3 30 (42,25%) 17 (24,29%) 395 (67,99%) 69 (12,68%)

Trung bình 2,42 ± 0,64 2,25 ± 0,5 3,12 ± 0,57 2,00 ± 0,55

Ở  nhóm  can  thiệp,  sự  cải  thiện  có  ý  nghĩa 

thống  kê  (p<0,001)  với  tỷ  lệ  hở  van  ba  lá  nặng 

trước phẫu thuật là 90,54% giảm còn 13,6%, và tỷ 

lệ hở van ba lá nhẹ tăng từ 9,47% lên 86,4%. Còn 

ở nhóm không can thiệp thì sự cải thiện không 

có ý nghĩa thống kê (p=0,09).  

Cải thiện NYHA  

Bảng 3: Cải thiện mức độ NYHA của nhóm 1 & 2 

trước và sau phẫu thuật 

Mức độ

NYHA

Trước PT Sau PT Trước PT Sau PT

I 3 (4,23%) 8 (11,43%) 12 (2,07%) 74 (13,58%)

II (87,32%) 62 (87,14%) 61 441 (75,9%) (84,22%) 459

III 6 (8,45%) 1 (1,43%) (20,65%) 120 9 (1,65%)

IV 0 0 8 (1,38%) 8 (0,55%)

Trung

bình 2,04 ± 0,35 1,9 ± 0,34 2,21 ± 0,48 1,89 ± 0,4

Độ nhẹ

(I & II) 91,55% 98,57% 77,97% 97,8%

Độ nặng

(III & IV) 8,45% 1,43% 22,03% 2,2%

Sự  cải  thiện  về  NYHA  ở  2  nhóm đều  có  sự  khác biệt có ý nghĩa thống kê, nhóm không can  thiệp (p=0,01), nhóm can thiệp (p<0,001). 

Cải thiện áp lực ĐMP tâm thu 

Bảng 4: Cải thiện áp lực ĐMP tâm thu của nhóm 1 

& 2 trước và sau phẫu thuật 

Áp lực ĐMP tâm thu

Trước PT Sau PT Trước PT Sau PT

< 50 mmHg 3,09% 74,3% 8,45% 84,06%

> 50 mmHg 96,9% 25,7% 91,55% 15,94% Trung bình 62,74 ± 14,94 41,96 ± 7,03 71 ± 16,7 44,47 ± 11,61

Sự  cải  thiện  về  áp  lực  ĐMP  tâm  thu  ở  2  nhóm đều có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê,  nhóm  không  can  thiệp  (p<0,001),  nhóm  can 

thiệp (p<0,001). 

Kết quả can thiệp hở van ba lá theo dõi lâu dài sau phẫu thuật giữa 2 nhóm 

Mức độ hở van ba lá (>2+) theo thời gian 

Bảng 5: Xác suất hở van 3 lá (>2+) tại các thời điểm giữa 2 nhóm  

Thời điểm theo dõi

hở van 3 lá (>2+)

Nhóm không can thiệp (n=69) Nhóm can thiệp (n=545)

Trang 6

  Hình 2: Xác suất tích lũy hở van 3 lá (>2+) giữa 2 nhóm theo thời gian 

Xác suất hở van ba lá (>2+) của nhóm không 

can thiệp theo thời gian cao hơn so với ở nhóm 

can  thiệp  với  HR=0,62  (95%CI,  0,48  –  0,81  và 

p=0,001)  nghĩa  là  những  bệnh  nhân  được  can 

thiệp hở van ba lá thì nguy cơ hở van 3 lá (>2+)  giảm  1,6  lần  so  với  những  bệnh  nhân  không  được can thiệp. 

Mức độ NYHA (tăng 1 độ) theo thời gian giữa nhóm 1 và 2 

 

Hình 3: Xác suất tích lũy NYHA tăng 1 độ giữa nhóm 1và 2 theo thời gian 

Bảng 6: Xác suất tăng NYHA 1 độ tại các thời điểm giữa 2 nhóm  

Thời điểm theo dõi

tăng NYHA 1 độ

Nhóm không can thiệp (n=69) Nhóm can thiệp (n=545)

Xác suất tăng NYHA của nhóm không can 

thiệp theo thời gian cao hơn so với ở nhóm can 

thiệp  với  HR=0,68  (95%CI,  0,48  –  0,92  và  p=0,01)  nghĩa  là  những  bệnh  nhân  được  can 

Trang 7

giảm  1,5  lần  sơ  với  những  bệnh  nhân  không 

được can thiệp. 

Áp lực ĐMP tăng (>50 mmHg) theo thời gian giữa 2 nhóm  

  Hình 4: Xác suất tích lũy tăng áp lực ĐMP (>50 mmHg) giữa 2 nhóm 

theo thời gian 

Bảng 7: Xác suất tăng áp lực ĐMP (>50 mmHg) tại các thời điểm giữa 2 nhóm  

Thời điểm theo dõi  

tăng áp lực ĐMP tâm thu >50 mmHg 

Nhóm không can thiệp (n=69) Nhóm can thiệp (n=545) Xác suất cộng dồn 95% CI Xác suất cộng dồn 95% CI

Xác  suất  tăng  áp  lực  động  mạch  phổi  tâm 

thu  (>50  mmHg)  của  nhóm  không  can  thiệp 

theo thời gian cao hơn so với ở nhóm can thiệp 

với  HR=0,72  (95%CI,  0,54  –  0,97  và  p=0,03) 

nghĩa  là  những  bệnh  nhân  được  can  thiệp  hở 

van  ba  lá  thì  nguy  cơ  tăng  áp  lực  ĐMP  (>50 

mmHg) giảm 1,4 lần so với những bệnh nhân 

không được can thiệp. 

Những  yếu  tố  lâm  sàng  và  cận  lâm  sàng  liên  quan đến kết quả lâu dài của tiến triển hở van 

ba lá 

Kết quả điều trị lâu dài ghi nhận ở nhóm có  can thiệp tốt hơn nhóm không can thiệp. Tất cả  những  yếu  tố  ghi  nhận  có  hoặc  không  có  khác  biệt giữa 2 nhóm (bảng 1) được đưa vào mô hình  Cox để xác định chỉ số nguy cơ HR. Kết quả ghi  nhận được trình bày ở bảng 8.  

Bảng 8: Chỉ số nguy cơ HR liên quan đến kết quả điều trị lâu dài  

Chỉ số HR (95%CI, giá trị p) giữa nhóm không can thiệp và nhóm có can thiệp van 3 lá Biến số khảo sát Tái hở van ba lá (>2) Tăng NYHA 1 độ Tăng PAPS>50mmHg

Giới tính nữ 0,91 (p=0,39) 0,88 (p=0,33) 0,95 (p=0,67)

Rung nhĩ 1,15 (p=0,19) 1,23 (p=0,09) 1,19 (p=0,13)

Loại hở van ba lá thực thể 2,26 (1,79 – 2,87, p<0,001) 2,01 (1,55 – 2,63, p<0,001) 1,38 (1,09 – 1,74, p=0,007)

Trang 8

Chỉ số HR (95%CI, giá trị p) giữa nhóm không can thiệp và nhóm có can thiệp van 3 lá

Biến số khảo sát Tái hở van ba lá (>2) Tăng NYHA 1 độ Tăng PAPS>50mmHg

Độ hở van ba lá 3+ & 4+ 1,12 (p=0,84) 1,16 (p=0,37) 1,18 (p=0,32)

NYHA III & IV 1,05 (p=0,69) 1,14 (p=0,42) 1,26 (p=0,09)

ĐK vòng van ba lá > 40 mm 0,87 (p=0,25) 0,82 (p=0,16) 0,91 (p=0,48)

VD > 35 mm 1,4 (p=0,1) 1,63 (1,05 – 2,54, p=0,03) 1,72 (1,18 – 2,51, p=0,004)

PAPS (> 50 mmHg) 0,96 (p=0,89) 0,80 (p=0,44) 1,05 (p=0,87)

Hở  van  ba  lá  thực  thể  liên  quan  đến  việc 

tăng  nguy  cơ  hở  van  ba  lá  (>2+),  tăng  NYHA  1 

độ và tăng áp lực ĐMP tâm thu (>50mmHg) sau 

thời gian theo dõi trên 10 năm và kết quả phân 

tầng  theo  nhóm  được  can  thiệp  và  không  can 

thiệp  thì  ghi  nhận  nhóm  không  can  thiệp  có 

nguy  cơ  tăng  hở  van  3  lá  (>2+)  là  2,26  lần  với 

HR=2,26  (p<0,001),  tăng  NYHA  1  độ  là  2,01  lần 

với HR=2,01 (p<0,001) và tăng áp lực ĐMP tâm 

thu (>50mmHg) là 1,38 lần với HR=1,38 (p=0,007) 

so với nhóm được can thiệp. 

BÀN LUẬN 

Đánh  giá  kết  quả  can  thiệp  bệnh  hở  van  3  lá 

khi xuất viện 

Có sự cải thiện về các tình trạng giảm của các 

triệu chứng như giảm tỷ lệ hở van ba lá độ nặng 

(3+ và 4+), giảm tỷ lệ NYHA nặng (III & IV) và 

giảm  áp  lực  ĐMP  tâm  thu  ở  cả  2  nhóm  bệnh 

nhân  đánh  giá  lúc  xuất  viện.  Tuy  nhiên,  việc 

đánh giá sớm ghi nhận kết quả không khác biệt 

giữa  2  nhóm.  Kết  quả  nghiên  cứu  của  tác  giả 

Bettina  ghi  nhận  mức  độ  hở  van  ba  lá  nhẹ  sau 

phẫu  thuật  chiếm  95,1%(1),  so  với  kết  quả  của 

chúng  tôi  thấp  hơn  ghi  nhận  sau  phẫu  thuật 

86,4%. Điều này có thể lý giải do đặc điểm bệnh 

nhân  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có  tình 

trạng  bệnh  nặng  khi  phẫu  thuật  nên  khả  năng 

cải thiện khó hơn. 

Đánh giá kết quả can thiệp bệnh hở van ba lá 

trong thời gian lâu dài 

Đánh giá kết quả can thiệp bệnh hở van 3 lá 

cần được theo dõi theo thời gian dài với tiêu chí 

đánh  giá  dựa  vào  khả  năng  hạn  chế  việc  xuất 

hiện  các  triệu  chứng  hở  van  ba  lá  (độ  >2+),  và/hoặc  NYHA  tăng  1  độ  và/hoặc  áp  lực  ĐMP  tâm thu (>50 mmHg). Ở nhóm bệnh nhân không  được can thiệp van ba lá, tiến triển bệnh hở van 

ba  lá  dài  hạn  (11  năm)  trong  nghiên  cứu  của  chúng tôi là 76%, tương tự với tỷ lệ 77,4% của tác  giả Porter(9). Tương tư, tác giả Dreyfuss ghi nhận  sau  4,8  năm  theo  dõi  thì  mức  độ  hở  van  ba  lá  (>2+) ở nhóm không can thiệp cao hơn nhóm can  thiệp  (48%  so  với  2%,  p<0,001)  và  NYHA  tăng  (1,6 so với 1, p<0,001)(4). Ngoài ra, chúng tôi còn  ghi  nhận  được  chỉ  số  nguy  cơ  của  nhóm  được  sửa van ba lá so với nhóm không sửa về tái hở  van  ba  lá  (độ  >2+)  giảm  1,6  lần  với  HR=0,62  (95%CI,  0,48  –  0,81,  p=0,001);  nguy  cơ  tăng  NYHA  1  độ  giảm  1,5  lần  với  HR=0,68  (95%CI,  0,48  –  0,92,  p=0,01);  nguy  cơ  tăng  áp  lực  ĐMP  tâm  thu  >  50  mmHg  giảm  1,4  lần  với  HR=0,72  (95%CI,  0,54  –  0,97,  p=0,03)  so  với  những  bệnh  nhân không được can thiệp.  

Những yếu tố liên quan góp phần vào kết quả  điều trị lâu dài giữa 2 nhóm 

Các  yếu  tố  liên  quan  đến  kết  quả  can  thiệp  tốt hơn ở nhóm không can thiệp về lâu dài khi  bệnh  nhân  bị  hở  van  ba  lá  cơ  năng,  có  đường  kính thất  trái  tâm  thu  (sVG)  bình  thường  và  có  đường kính thất phải bình thường. Kết quả của  chúng tôi khác với tác giả Song đã ghi nhận các  yếu tố khác tuổi (HR=1,0, p=0,005), giới tính nữ  (HR=5,0=0,001), thấp tim (HR=3,8, p=0,011), rung  nhĩ (HR=2,6, p=0,035), độ hở van ba lá (HR=1,1,  p<0,001)(10). Sự khác biệt này có thể do đặc điểm  dân  số  ở  2  khu  vực  địa  lý  khác  nhau  và  tình 

Trang 9

quan cũng khác nhau. 

KẾT LUẬN 

Đánh  giá  kết  quả  can  thiệp  van  ba  lá  ngay 

sau  phẫu  thuật  giữa  2  nhóm  bệnh  nhân  không 

phản  ánh  được  chính  xác  so  với  việc  đánh  giá 

kết quả theo thời gian dài sau phẫu thuật. Nhóm 

bệnh nhân được can thiệp van ba lá giảm được 

nguy  cơ  tái  hở  van  ba  lá  vừa‐nặng  (>2+),  giảm 

được  nguy  cơ  tăng  NYHA  1  độ  và  giảm  được 

nguy cơ tăng áp lực ĐMP tâm thu trên 50mmHg 

khi so với nhóm bệnh nhân không can thiệp, sự 

khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Các yếu 

tố  liên  quan  đến  kết  quả  can  thiệp  tốt  hơn  ở 

nhóm  không  can  thiệp  về  lâu  dài  đó  là  loại  hở 

van ba lá cơ năng, đường kính thất trái tâm thu 

(sVG) bình thường và đường kính thất phải bình 

thường (dVD). 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

in  patients  with  minimally  invasive  mitral  valve  surgery, 

2013, ACS. Vol2, No6. 

Morrow  AG.  Tricuspid  regurgitation.  A  comparison  of 

nonoperative  management,  tricuspid  annuloplasty,  and 

tricuspid  valve  replacement.  J  Thorac  Cardiovasc  Surg 

1976;72:867–74. 

Gagliardi  M,Bosco  P,  Di  Mauro  M.  Mitral  valve  surgery  for 

functional  mitral  regurgitation:should  moderate‐or‐more 

tricuspid regurgitation be treated? a propensity score analysis. 

Ann Thorac Surg 2009;3:698–703. 

dilatation  which  should  be  the  criteria  for  surgical  repair?, 

Ann. Thorac Surg. 2005; 79: 127‐132. 

with  valvulaires  heart  disease.  Journal  American  Coll  Cardiol.2006, 48: e1‐148. 

Ahn H, Oh BH, Park YB, Choi YS. Prediction of outcome in  patients undergoing surgery for severe tricuspid regurgitation  following  mitral  valve  surgery  and  role  of  tricuspid  annular  systolic velocity. Am J Cardiol. 2006 Sep 1;98(5):659‐61.  

ischemic  mitral  regurigation.  Circulation,2005:112  (suppl).I‐ 453‐I‐457 

BW,Cosgrove  DM,  Blackstone  EH.  Tricuspid  valve  repair:  durability  and  risk  factors  for  failure.  J  Thorac  Cardiovasc  Surg. 2004;127:674 –685 

Sahar  G,Sagie  A.  Tricuspid  regurgitation  late  after  mitral  valve replacement:clinical and echocardiographic evaluation. 

J Heart Valve Dis 1999;1:57–62. 

stenosis and its associated valvular lesions in 205 patients and  lack  of  association  with  mitral  valve  prolapse.  J  Am  Soc  Echocardiogr. 1997 

Kang  DH,  Lee  JW,  Song  JK.  Factors  associated  with  development  of  late  significant  tricuspid  regurgitation  after  successful left‐sided valve surgery. Heart 2009;11:931–936. 

Journal (2012) 33, 2451–2496 

tricuspid  regurgitation  after  left  cardiac  valve  replacement.  Heart Lung Circ 2004;13:65–9. 

regurgitation after closed valvotomy for mitral stenosis. Chest  1985;88:870 –3. 

 

Ngày nhận bài báo:       18/04/2014  Ngày phản biện đánh giá bài báo:   28/04/2014  Ngày bài báo được đăng:     30/08/2014 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 07:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w