Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi Đông Bắc Việt Nam, được thiên nhiên ưu đãi về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên nên nơi đây có hệ thực vật phong phú, đặc biệt là thực vật làm thuốc. Tuy nhiên, những năm gần đây do khai thác chưa hợp lý nên nguồn dược liệu quý đang ngày càng cạn kiệt, nhiều loài đã tuyệt chủng hoặc bị đe doạ tuyệt chủng.
Trang 1ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG NGUỒN CÂY THUỐC QUÝ HIẾM
THUỘC DIỆN BẢO TỒN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
Lê Thị Thanh Hương 1* , Trần Thị Ngọc Anh 1 , Nguyễn Thị Ngọc Yến 1
Nguyễn Trung Thành 2 , Nguyễn Nghĩa Thìn 2
1 Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên
2 Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội
TÓM TẮT
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi Đông Bắc Việt Nam, được thiên nhiên ưu đãi về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên nên nơi đây có hệ thực vật phong phú, đặc biệt là thực vật làm thuốc Tuy nhiên, những năm gần đây do khai thác chưa hợp lý nên nguồn dược liệu quý đang ngày càng cạn kiệt, nhiều loài đã tuyệt chủng hoặc bị đe doạ tuyệt chủng Để có cơ sở khoa học trong công tác bảo tồn và nâng cao sự quan tâm của mọi người với việc gìn giữ, phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc quý tại Thái Nguyên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và thu được 24 cây thuốc quý
thuộc 18 chi, 17 họ của 2 ngành thực vật bậc cao có mạch (Polypodiophyta và Magnoliophyta)
nằm trong diện cần bảo vệ theo Sách đỏ Việt Nam (2007) [2], Nghị định 32/2006/NĐ – CP [4] và Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam trong Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam của Nguyễn Tập (2006) [7] Trong đó, ngành Mộc lan có 22 loài thuộc 17 chi, 16 họ và ngành Dương xỉ có 2 loài thuộc 1 họ, 1 chi
Từ khóa: Thái Nguyên, đa dạng, tài nguyên, cây thuốc quý hiếm
ĐẶT VẤN ĐỀ*
Thái Nguyên có diện tích tự nhiên trên 3.540
km2, bao gồm 9 đơn vị hành chính: thành phố
Thái Nguyên; thị xã Sông Công và 7 huyện:
Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định
Hóa, Đại Từ, Phú Lương Trong tổng số 180
xã có 125 xã vùng cao và miền núi, còn lại là
các xã đồng bằng và trung du Diện tích rừng
tự nhiên của tỉnh là 102.190 ha, thuận lợi cho
sự phát triển của cây thuốc Đồng thời, Thái
Nguyên là nơi tập trung nhiều đồng bào dân
tộc cùng sinh sống như: Kinh, Tày, Nùng,
Dao, Sán Dìu, Sán Chay… mỗi dân tộc đều
có những tri thức riêng trong việc sử dụng cây
thuốc chữa bệnh Vì vậy, việc nghiên cứu cây
thuốc quý tại Thái Nguyên có vai trò rất quan
trọng trong công tác nâng cao nhận thức cộng
đồng và góp phần bảo tồn và phát triển bền
vững nguồn tài nguyên cây thuốc
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp điều tra phỏng vấn: Phỏng vấn
người dân đặc biệt là các ông lang bà mế
người dân tộc Dao, Tày, Nùng, Sán Chay…
*
và những người dân có kinh nghiệm về sử dụng cây thuốc ở các huyện của tỉnh Thái Nguyên
Phương pháp thu thập và xử lý mẫu vật: Tiến
hành thu thập các cây thuốc quý theo sự chỉ dẫn của các thầy thuốc bản địa và theo danh lục đã phỏng vấn tại các xã trong huyện Đại
Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Định Hoá, Võ
Nhai của tỉnh Thái Nguyên Thời gian thu
mẫu từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 1 năm
2012 Xử lý mẫu thu được và xác định được tên khoa học của 24 loài cây thuốc quý tại Phòng thí nghiệm của khoa Khoa học Sự sống – Trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên
Phương pháp phân tích và phân loại mẫu:
Phân loại mẫu dựa trên phương pháp hình thái truyền thống, kết hợp với kinh nghiệm của các chuyên gia và các bộ Thực vật chí chuyên ngành như: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng
Hộ, 1999-2000) [5]; Iconographia Cormophytorum Sinicorum (ICS, 1972-1976) [6]; Từ điển cây thuốc (Võ Văn Chi, 1996) [3]; Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005) [8]; Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001 – 2005) [10], Sách
Trang 2đỏ Việt Nam – Phần II Thực vật (2007) [2],
Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam
– Tập I-II (Đỗ Huy Bích và cộng sự, 2006)
[1]… Tiến hành xác định tên khoa học và lập
danh lục cây thuốc quý hiếm tại Thái Nguyên
Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn
tài nguyên cây thuốc: Đánh giá dựa trên
phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn trong
“Các phương pháp nghiên cứu thực vật”
(2007) [9]
Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp:
Theo Sách đỏ Việt Nam (2007) [2], Nghị định
32/2006/NĐ – CP [4] và Danh lục đỏ cây
thuốc Việt Nam trong Cẩm nang cây thuốc
cần bảo vệ ở Việt Nam của Nguyễn Tập
(2006) [7]
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Sự đa dạng về thành phần loài cây thuốc
quý hiếm tại Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên là nơi có hệ sinh thái đa
dạng và có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số
sinh sống Người dân nơi đây, từ xa xưa đã
biết sử dụng cây cỏ làm thuốc Qua điều tra
nghiên cứu, chúng tôi đã xác định được tại
khu vực nghiên cứu có 24 loài cây thuốc
thuộc diện bảo tồn được sử dụng chữa bệnh
thuộc 2 ngành thực vật bậc cao có mạch và
phân bố trong các bậc taxon thể hiện ở bảng 1
Theo thống kê ở bảng 1, sự phân bố ở các loài
cây thuốc ở từng ngành là không đồng đều,
các taxon tập trung chủ yếu trong ngành Mộc
lan (Magnoliophyta) với 16 họ, 17 chi, 22
loài, chiếm số lượng tương ứng là 94,12%;
94,44%; 91,67% tổng số họ, chi, loài thực vật
làm thuốc của khu vực nghiên cứu Ngành
Dương xỉ (Polypodiophyta) có 1 họ, 1 chi, 2
loài Ngành Mộc lan bao gồm lớp Mộc lan
(Magnoliopsida) và lớp Hành (Liliopsida) có
sự đa dạng nhất ở khu vực nghiên cứu: Lớp
Mộc lan (Magnoliopsida) có 11 họ, 12 chi, 17
loài chiếm tỷ lệ tương ứng 64,71%; 66,67%;
70,83% Lớp Hành (Liliopsida) chỉ chiếm tỷ
lệ nhỏ với 5 họ chiếm 29,41%; 5 chi chiếm 27,78%; 5 loài chiếm tỷ lệ 20,83% so với tổng số họ, chi, loài trong ngành Mộc lan Trong 17 họ thực vật có kể trên có 3 họ là Menispermaceae, Aristolochiaceae và Polypodiaceae có nhiều loài nhất (chiếm 17,65% tổng số họ)
Trong đó, họ Menispermaceae có 5 loài chiếm 20,83% tổng số loài; 2 họ Aristolochiaceae và Polypodiaceae mỗi họ có
2 loài chiếm 8,33% tổng số loài Các họ còn lại chỉ phát hiện được 1 loài chiếm 4,17% tổng số loài Trong quá trình điều tra thu mẫu, chúng tôi nhận thấy hầu hết các mẫu cây thuốc thu được đều được các ông lang, bà mế người dân tộc Dao sử dụng chữa bệnh Có thể nói người Dao không chỉ có nhiều nét đặc trưng về văn hoá mà tri thức bản địa trong việc sử dụng cây cỏ làm thuốc của họ cũng rất độc đáo Người Dao có cách gọi tên cây thuốc rất riêng trong đó thể hiện rất rõ mối quan hệ giữa các đặc điểm của cây với bộ phận của cây được sử dụng để chữa bệnh như: những cây có từ “đòi” có nghĩa là củ sẽ dùng củ để chữa bệnh, ví dụ cây Hùng lìn đòi – Cốt khí
củ (Reynoutria japonica Houtt.) dùng củ để
chữa bệnh ung thư dạ con… Đây là dấu hiệu rất riêng để nhận biết các cây có tác dụng làm thuốc thông qua tên gọi của người Dao
Bảng 1 Số loài cây thuốc quý hiếm đã phát hiện thấy ở Thái Nguyên
TT Ngành và lớp
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
1 Ngành Dương xỉ
2
Ngành Mộc lan
Lớp Mộc lan
Trang 3Cách sử dụng các bộ phận của cây thuốc để
chữa bệnh cũng như công dụng của cây thuốc
theo kinh nghiệm của người Dao cũng có nét
khác biệt với các tri thức của các dân tộc
khác Ví dụ: cây Bổ béo đen (Goniothalamus
vietnamensis Ban) được người Dao sử dụng
làm thuốc bổ, kích thích tiêu hoá, rễ để chữa
vôi cột sống và có mùi thơm nên dùng trong
các bài thuốc để tạo mùi vị đặc trưng của
thuốc nam; còn người Nùng tại Lâu Thượng -
Võ Nhai sử dụng rễ cây này có tác dụng bổ
máu Cây Thiên kim đằng (Stephania
japonica (Thunb.) Merr.) được người dân tộc
Dao dùng củ, thái nhỏ làm thuốc chữa đau
bụng, u nang buồng trứng, chữa vôi cột sống
còn người dân tộc dân tộc Nùng tại Hoá
Thượng - Đồng Hỷ sử dụng kết hợp với cây
Xuyên tâm liên (Andrographis paniculata
(Burm f.) Wall ex Nees) để chữa các bệnh
về tim mạch như hở van tim, hẹp van tim
Lá khôi (Ardisia silvestris Pitard) được người
Tày dùng để chữa bệnh đau dạ dày nhưng
người Dao tại Thái Nguyên dùng làm vị thuốc
trong bài thuốc chữa bệnh gan, bệnh tim,
thiếu máu và là một vị thuốc quan trọng trong
bài thuốc tắm đẻ cho phụ nữ mới sinh…
Bảng số liệu dưới đây thể hiện rất rõ số loài
cây thuốc quý được sử dụng theo kinh nghiệm
của một số dân tộc tại Thái Nguyên
TT Số lượng Số
loài
Số chi Số họ
Số ngành Dân tộc
Bảng 2 Số loài cây thuốc quý hiếm theo kinh
nghiệm của các dân tộc ở KVNC
Từ bảng số liệu trên cho thấy có 18 loài được
sử dụng để làm thuốc theo kinh nghiệm người Dao chiếm tỉ lệ cao nhất (75%) so với tổng số loài Người Dao cho rằng trên cây thì rễ là bộ phận có nhiều chất thuốc nhất Do đó, hầu hết những cây thuốc trong các bài thuốc chữa bệnh của người Dao các thầy lang đều sử dụng rễ Chính vì vậy, việc sử dụng cây thuốc chữa bệnh cần gắn liền với công tác bảo tồn như gây trồng, mở rộng các vườn thuốc gia đình Tiếp đến đã thu thập được 12 loài được
sử dụng làm thuốc theo kinh nghiệm của người Tày chiếm 50% tổng số loài; 7 loài được sử dụng theo kinh nghiệm của người Nùng và 5 loài được sử dụng theo kinh nghiệm của người Sán Chay Mỗi dân tộc đều
có những tri thức riêng trong việc sử dụng cũng như chế biến cây thuốc rất riêng và độc đáo
Đa dạng về dạng sống của các loài cây thuốc quý hiếm
Dựa theo phương pháp phân chia dạng sống của Nguyễn Nghĩa Thìn trong “Các phương pháp nghiên cứu về thực vật” (2004) [9], chúng tôi đã chia thành các dạng sống như sau: Hp: Kí sinh (cây sống bám trên cây khác) Mi: Gỗ nhỏ (thân gỗ cao từ 2 – 8 m)
Lp: Dây leo (thảo leo, gỗ leo, bụi leo) Na: Bụi, nửa bụi, bụi trườn (tối đa 2m)
Th: Cỏ (cỏ 1 năm hoặc lâu năm)
Các loại cây thuộc diện bảo tồn được đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên sử dụng làm thuốc có dạng sống rất đa dạng và phong phú Nắm được đặc điểm về dạng sống giúp chúng ta có thể định hướng trong khai thác, sử dụng, bảo tồn và gây trồng nguồn dược liệu quý giá này Kết quả thống kê thể hiện ở bảng 4:
Bảng 3 Dạng sống của các loài cây thuốc thuộc diện bảo tồn tại tỉnh Thái Nguyên
Dạng sống Thân thảo (Th) Dây leo (Lp) Cây bụi
(Na)
Cây ký sinh (Hp)
Gỗ nhỏ (Mi)
Trang 4Theo thống kê ở bảng 3, phần lớn cây thuốc
thuộc diện bảo tồn được đồng bào dân tộc
thiểu số tỉnh Thái Nguyên sử dụng là dạng
cây thân thảo (Th) với 10 loài chiếm 41,67%
so với tổng số cây thuốc quý thu thập được
trong khu vực nghiên cứu Một số loài cây
thuốc dạng thân thảo ở mức độ nguy cấp (EN)
như Thuỷ xương bồ lá to (Acorus
macrospadiceus (Yam.) F N Wei & Y K
Li) dùng tắm đẻ, Bát giác liên (Podophyllum
tonkinense Gagnep.) chữa rắn cắn Dạng dây
leo có 9 loài chiếm 37,5% tập trung ở các họ:
họ Đậu (Fabaceae), họ Tiết dê
(Menispermanaceae), họ Cà phê (Rubiaceae),
họ Mã tiền (Loginaceae), họ Rau răm
(Polygonaceae) Đứng thứ ba là cây bụi và
cây ký sinh có 2 loài chiếm tỷ lệ 8,33% tập
trung ở họ Dương xỉ (Polypodiaceae), họ Đơn
men (Myrsinaceae) và họ Na (Annonaceae)
Ở đây, các loài cây thuốc dạng gỗ nhỏ có 1
loài chiếm tỷ lệ thấp nhất 4,17%; đó là cây
Rau sắng (Melientha suavis Pierri) thuộc họ
Sơn cam (Opiliaceae), được người dân tộc
Tày (xã Linh Thông, huyện Đại Từ) dùng để
nấu canh ăn giúp giải nhiệt
Việc sử dụng những cây thuốc vào mục đích
chữa bệnh chủ yếu tập trung vào những cây
dễ thu hái như dạng leo (Lp) hoặc cây thân
thảo (Th), cây gỗ nhỏ (Mi) hay dạng kí sinh
(Hp) với tỷ lệ khác nhau Từ kết quả trên cho
thấy, vấn đề sử dụng các dạng cây cỏ làm
thuốc chữa bệnh của đồng bào dân tộc tại tỉnh
Thái Nguyên rất phong phú và đa dạng
Đa dạng về môi trường sống của thực vật
làm thuốc
Căn cứ vào địa hình, đất đai, khí hậu và sự
phân bố của các loài cây thuốc trên thực tế ở
khu vực nghiên cứu, chúng tôi chia ra các môi
trường sống như sau:
Sống ở núi đá (Nu): Cây sống trên núi đá Sống ở rừng (Ru): Cây sống ở rừng rậm, rừng thứ sinh, ven rừng
Sống ở đồi (Đ): Cây sống ở đồi, đồi hoang, trảng bụi, ven đường
Sống ở vườn (K): Cây sống ở vườn, bờ ao, quanh làng bản
Qua bảng 4 cho thấy, ở khu vực nghiên cứu
có 15 loài cây thuốc sống ở vườn, quanh thôn xóm chiếm tỉ lệ cao nhất so với tổng số loài (62,5%) do người dân mang về nhà trồng, phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh bằng thuốc nam Sự phân bố này trên thực tế là hợp lý vì ngày nay do nhiều nguyên nhân khác nhau diện tích rừng tự nhiên đang suy giảm làm mất đi môi trường sống của nhiều cây thuốc
Vì vậy, các ông lang, bà mế thường lấy các cây thuốc từ rừng về trồng tại vườn nhà, quanh thôn bản Sau đó là loài sống ở rừng có
13 loài chiếm 54,17% Hầu hết, các cây thuốc
có môi trường sống ở trong rừng thường khó gây trồng ở vườn nhà mà chỉ chúng chỉ thích hợp với môi trường sống tự nhiên hoang dã Các loài sống ở đồi đứng thứ 3 về số lượng chiếm 37,5% (gồm 9 loài trên tổng số 24 loài cây thuốc) do diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp, thay vào đó là các đồi bị bỏ hoang hoặc được trồng để thay thế các cây khác lên cây thuốc còn được mọc chủ yếu trên các đồi Môi trường sống ở núi đá có 2 loài cây thuốc, chiếm 8,33% chủ yếu là các loài sống leo bám
trên núi đá như Tắc kè đá (Drynaria bonii H
Christ)
Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc
Các cây thuốc quý được các đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Thái Nguyên khá đa dạng và phong phú về bộ phận sử dụng được thể hiện
ở bảng sau:
Bảng 4 Sự phân bố môi trường sống của các loài cây thuốc quý hiếm
TT Môi trường sống Số loài Tỷ lệ (%) so với tổng số loài
Trang 5Bảng 5 Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc của các loài cây thuốc quý hiếm
TT Bộ phận sử dụng Số loài Tỷ lệ % so với tổng số loài
Từ bảng 5 cho thấy, rễ của các cây thuốc quý
hiếm là bộ phận được sử dụng nhiều nhất với
10 loài (chiếm 41,67%) và dùng cả cây có 6
loài (chiếm 25%) Việc sử dụng cả cây hoăc
rễ cây thuốc sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến số
lượng cá thể các loài cây thuốc quý, gây khó
khăn cho công tác bảo tồn Do đó, cần có biện
pháp gây trồng các cây thuốc sử dụng rễ và cả
cây nhằm mục đích bảo tồn và phát triển bền
vững nguồn dược liệu Ngoài ra, dùng các bộ
phận khác như lá có 4 loài chiếm 16,67%,
dùng thân có 1 loài chiếm 4,17% Mỗi loại
cây thuốc sẽ có những cách chế biến khác
nhau tuỳ từng dân tộc, tuỳ theo cách chữa của
từng ông lang, bà mế và tuỳ thuộc vào tình
trạng của bệnh nhân Trong đó, phương pháp
thái lát mỏng, phơi khô, đun nước uống được
sử dụng nhiều nhất Ngoài ra, có thể ngâm
rượu uống và xoa bóp như Thiên niên kiện lá
to (Homalomena gigantea Engl.) hoặc có thể
dùng tươi để đun nước tắm, xông hơi như
Thủy xương bồ lá to (Acorus macrospadiceus
(Yam.) F N Wei & Y K Li.)…
KẾT LUẬN
Qua điều tra xác định được 24 loài thực vật
bậc cao có mạch thuộc diện cần bảo vệ, thuộc
18 chi, 17 họ thực vật của 2 ngành thực vật
bậc cao có mạch được các đồng bào dân tộc
tại tỉnh Thái Nguyên dùng làm thuốc chữa
bệnh Trong đó, ngành Mộc lan có 16 họ, 17
chi và 22 loài và ngành Dương xỉ có 1 họ, 1
chi, 2 loài
Dạng sống của cây thuốc quý chủ yếu là cây
thân thảo với 10 loài chiếm 41,67 % tổng số
loài Tiếp theo là dạng dây leo (Lp) có 9 loài
chiếm 37,5 % tổng số loài; cây bụi (Na) và
cây kí sinh đều có 2 loài chiếm 8,33 % tổng
số loài Cuối cùng là dạng cây gỗ nhỏ chỉ có 1
loài chiếm 4,17 % tổng số loài
Môi trường sống của cây thuốc tập trung chủ yếu tại vườn và trong rừng Số cây thuốc sống trong vườn chiếm tỉ lệ cao nhất so với tổng số loài (15 loài) Có 13 loài sống trong rừng; 9 loài sống ở đồi và 2 loài có môi trường sống trên núi đá
Sự đa dạng về bộ phận sử dụng và cách dùng cây thuốc quý theo kinh nghiệm của các dân tộc tại Thái Nguyên khá phong phú Rễ là bộ phận được sử dụng nhiều nhất với 10 loài chiếm 41,76 % tổng số loài Dùng cả cây có 6 loài; dùng lá có 4 loài; dùng thân có 1 loài
TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Trung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàn, Phạm Văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mẫn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập,
Trần Toàn – Viện Dược liệu (2006), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Tập I-II, Nxb
Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
[2] Bộ khoa học và công nghệ, viện khoa học và
công nghệ Việt Nam (2007), Sách đỏ Việt Nam, Phần II - Thực Vật, Nxb Khoa học tự nhiên và
công nghệ Hà Nội
[3] Võ Văn Chi (1996), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội
[4] Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2006),
Nghị định 32/2006/CP-NĐ về Nghiêm cấm, hạn
chế khai thác và sử dụng các loài động thực vật hoang dã (13 trang)
[5] Phạm Hoàng Hộ (1999 – 2000), Cây cỏ Việt Nam, tập 1 – 3, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh
[6] South – Wester Forestry College, Forestry
Departmen of Yunnan province, Iconographia Cormophytorum Sinicorum – ICS, Tomus I – V,
Science Publisher, Beijing (1972 – 1976)
[7] Nguyễn Tập (2007), Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam, Nxb Mạng lưới lâm sản ngoài
gỗ Việt Nam, Hà Nội
[8] Đỗ Tất Lợi (2005), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, in lần thứ 13, Nxb Y học Hà Nội
Trang 6[9] Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp
nghiên cứu thực vật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
[10] Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi
trường – Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Sinh thái
và Tài nguyên sinh vật – Trung tâm Khoa học Tự
nhiên và Công nghệ quốc gia (2001 – 2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 1 – 3, Nxb
Nông nghiệp Hà Nội
SUMMARY
EVALUATING THE DIVERSITY OF PRECIOUS AND RARE MEDICAL PLANT SUBJECT TO CONSERVATION IN THAI NGUYEN
Le Thi Thanh Huong 1* , Tran Thi Ngoc Anh 1 , Nguyen Thi Ngoc Yen 1
Nguyen Trung Thanh 2 , Nguyen Nghia Thin 2
1 College of Sciences – Thai Nguyen University 2
Hanoi University of Science – Vietnam National University
Thai Nguyen is a mountainous province northeast central Viet Nam, was blessed on geographic location and natural conditions here are so rich flora, especially medicinal plants However, in recent years by exploiting a source of irrational medicine you are becoming exhausted, many species have become extinct or threatened with extinction For the scientific basis of conservation and improve people's attention to the preservation and development of precious resources of medicinal plants in Thai Nguyen, we have conducted research and collected 24 medicinal plants of
18 genera, 17 families of the 2 branches of vascular plants (Polypodiophyta, Magnoliophyta) are in need of protection by the Vietnam Red Book (2007) [2], Decree 32/2006/ND - CP [4] and list red medicinal plants in Vietnam Handbook of medicinal plants to be protected in Vietnam's Nguyen Tap (2006) [7] In particular, Magnoliophyta branches are 22 species of 17 genera 16 families and Polypodiophyta branches only 2 species of 1 family, 1 genus
Key words: Thai Nguyen, diverse, resources, rare medicinal plants
*
Tel: 0988478975; Email: lehuonga1k52@gmail.com