1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bước đầu khảo sát chimerism trên bệnh nhân dị ghép tế bào gốc tạo máu bằng kỹ thuật multiplex PCR STR

8 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 466,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ chimerism trên bệnh nhân bạch cầu cấp dòng tủy dị ghép tế bào gốc tạo máu. 20 mẫu tủy xương hoặc máu ngoại vi của bệnh nhân bạch cầu cấp dòng tủy và người cho tế bào gốc tạo máu.

Trang 1

Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 5 * 2013

Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học  

170

BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT CHIMERISM TRÊN BỆNH NHÂN DỊ GHÉP 

TẾ BÀO GỐC TẠO MÁU BẰNG KỸ THUẬT MULTIPLEX PCR STR 

Cao Sỹ Luân * , Phan Thị Xinh *,** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ chimerism trên bệnh nhân (BN) bạch cầu cấp dòng tủy (BCCDT) dị ghép tế bào 

gốc tạo máu (TBGTM). 

Đối  tượng  và  phương  pháp:  20  mẫu  tủy  xương  hoặc  máu  ngoại  vi  của  BN  BCCDT  và  người  cho 

TBGTM. Thực hiện phản ứng multiplex PCR Short Tandem Reapeat (STR) để xác định các dấu ấn STR có giá 

trị theo dõi điều trị sau ghép và tỷ lệ chimerism trên BN BCCDT dị ghép TBGTM. 

Kết quả: Trong 18 STRs, chúng tôi đã xác định được 4 dấu ấn STR có giá trị theo dõi điều trị sau ghép trên 

cặp người cho‐người nhận là CMR‐04 và 5 dấu ấn STR đối với các cặp CMR‐01 và CMR‐02, 6 dấu ấn STR đối  với cặp CMR‐03. Đồng thời, xác định được tỷ lệ chimerism của các BN sau ghép tại nhiều thời điểm khác nhau.  Ngoài ra, kết quả chimerism tương đồng với kết quả xác định giới tính bằng kỹ thuật FISH trong trường hợp 

người cho‐người nhận khác giới tính. 

Kết  luận: Xây dựng thành công quy trình xác định chimerism bằng kỹ thuật multiplex PCR STR, giúp 

theo dõi việc mọc mảnh ghép trên BN dị ghép TBGTM tại Bệnh viện truyền máu huyết học. 

Từ  khóa:  bạch  cầu  cấp  dòng  tủy  (BCCDT),  short  tandem  repeat  (STR),  chimerism,  tế  bào  gốc  tạo  máu 

(TBGTM). 

ABSTRACT 

DETECTION OF CHIMERISM IN ALLOGENEIC HEMATOPOIETIC STEM CELL 

TRANSPLANTATION USING MULTIPLEX STR‐PCR 

Cao Sy Luan, Phan Thi Xinh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ No 5 ‐ 2013: 169 ‐ 174 

Purpose: To detect chimerism in acute myeloid leukemia (AML) patients after allogeneic hematopoietic 

stem cell transplantation (HSCT). 

Material and Methods: Twenty bone marrow or peripheral blood samples of AML patients and donors 

were collected. Using a commercial multiplex PCR amplification of fluorescent labeled short tandem repeat  (STR) markers to detect informative STRs and analyze chimerism after allogeneic HSTC. 

Result: Among 18 STRs,  we found 4 informative STRs in CMR‐04, 5 informative STRs in CMR‐01 

and CMR‐02, 6 informative STRs in CMR‐03. Simultaneously, patient/donor cell chimerism was detected 

at  several  times  during  the  post‐transplant  period.  Moreover,  the  result  of  chimerrism  analysis  by  STR‐ PCR‐based is similar to result of FISH‐based in cases sex‐mismatched transplantation. 

Conclusion: We successfully established the procedure of chimerism analysis by using multiplex STR‐

PCR  to  help  monitoring  engraftment  in  patient  after  allogeneic  HSTC  in  Blood  Transfusion  and  Hematology hospital  

Key words: acute myeloid leukemia (AML), short tandem repeat (STR), chimerism, hematopoietic stem 

cell transplantation (HSCT). 

* Bệnh viện Truyền máu‐Huyết học TP.HCM  ** Đại học Y Dược TP.HCM. 

Tác giả liên lạc: TS.BS. Phan Thị Xinh  ĐT: 0932728115   Email: phanthixinh@yahoo.com 

Trang 3

Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 5 * 2013

Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học  

170

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Trong điều trị các bệnh lý ác tính về máu thì 

dị  ghép  tế  bào  gốc  tạo  máu  (TBGTM)  là  một 

trong những phương pháp hiệu quả và ưu tiên 

được lựa chọn cho bệnh nhân (BN), đặc biệt đối 

với  BN  thuộc  nhóm  tiên  lượng  trung  bình  và 

xấu  hoặc  BN  tái  phát  sau  điều  trị  hóa  trị  liệu. 

Việc xác định tỷ lệ tế bào của người cho trong cơ 

thể người nhận hay còn gọi là chimerism để qua 

đó đánh giá việc mọc mảnh ghép là thành công 

hay thất bại là một trong những bước cần thiết 

của  dị  ghép  tủy.  Để  đánh  giá  việc  mọc  mảnh 

ghép thì có thể dựa trên cơ sở là sự khác nhau về 

giới tính, nhóm máu, HLA hay các dấu ấn phân 

tử  như  Short  Tandem  Reapeat  (STR)  và  Single 

Nucleotide Polymorphism (SNP). Hiện nay, có 3 

kỹ  thuật  di  truyền  học  phân  tử  để  xác  định 

chimerism là kỹ thuật FISH (yêu cầu phải có sự 

khác  biệt  về  giới  tính  giữa  người  cho  và  người 

nhận),  PCR  khuếch  đại  các  đoạn  STR  và  SNP. 

Trong  đó,  kỹ  thuật  PCR  khuếch  đại  các  đoạn 

STR để xác định tỷ lệ chimerism được sử dụng 

ngày càng phổ biến với ưu điểm là độ nhạy cao, 

khả năng ứng dụng rộng và chỉ cần một lượng 

mẫu nhỏ để phân tích(8). 

 STR  là  những  trình  tự  ngắn  DNA  trên 

nhiễm sắc thể với chiều dài thường từ 2‐6 bp và 

có  tính  lặp  lại.  Có  nhiều  loại  STR  khác  nhau: 

dinucleotide,  trinucleotide,  tetranucleotide, 

pentanucleotide  và  hexanucleotide.  Có  hơn 

20.000  tetranucleotide  STR  được  xác  định  ở 

người(2).  STR  chiếm  khoảng  3%  trong  tổng  bộ 

gen người(5). Có nhiều kiểu sắp xếp các STR với 

nhau,  hoặc  là  lặp  lại  nhiều  STR  của  cùng  một 

kiểu  hoặc  là  lặp  lại  của  nhiều  kiểu  STR  khác 

nhau.  Sự  khác  nhau  về  kích  thước  của  các  STR 

trên mỗi cá nhân khác nhau là do khác nhau về 

số  đơn  vị  lặp  lại.  Do  đó,  các  STR  có  thể  được 

xem như là dấu ấn để phân biệt giữa các cá thể 

với nhau. Vì vậy, với những ưu điểm là tính đa 

hình  cao,  kích  thước  nhỏ  nên  các  STR  thường 

được  sử  dụng  để  xác  định  chimerism  bằng  kỹ 

thuật  PCR(6).  Có  nhiều  nhóm  nghiên  cứu  sử 

dụng multiplex PCR khuếch đại các STR có gắn 

huỳnh quang để xác định nhanh các STR mang  thông tin, tức là các STR có sự khác nhau về kích  thước  giữa  người  cho  và  người  nhận(9).  Hiện  nay,  PCR  khuếch  đại  các  STR  có  gắn  huỳnh  quang được xem như là tiêu chuẩn vàng để xác  định  chimerism  sau  ghép  và  kết  quả  đánh  giá  việc mọc mảnh ghép rất khả quan(1). 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

20  mẫu  tủy  xương  hoặc  máu  ngoại  vi  của 

BN  bạch  cầu  cấp  dòng  tủy  (BCCDT)  và  người  cho TBGTM tương ứng được thu thập tại Bệnh  viện  Truyền  máu  Huyết  học  (BVTMHH)  TP.  HCM  từ  tháng  5/2013  đến  tháng  7/2013.  Trong 

đó,  có  4  mẫu  máu  ngoại  vi  của  4  BN  BCCDT  trước  ghép  và  4  mẫu  máu  của  4  người  cho  TBGTM  tương  ứng,  12  mẫu  tủy  xương  hoặc  máu  ngoại  vi  của  người  bệnh  sau  ghép  tại  các  thời  điểm  khác  nhau.  Các  cặp  ghép  này  được  đặt  tên  mã  nghiên  cứu  là  CMR‐01,  CMR‐02,  CMR‐03 và CMR‐04. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu 

Mô tả loạt ca, triển khai kỹ thuật mới. 

Phương pháp tiến hành 

Ly trích DNA từ mẫu tủy xương hoặc  máu  ngoại vi bằng GenElute blood genomic DNA kit 

(Sigma, Mỹ).  Sản phẩm DNA sau ly trích được 

kiểm tra nồng độ và độ tinh sạch bằng máy đo  quang phổ ở hai bước sóng 260 nm và 280 nm.  Thực  hiện  phản  ứng  multiplex  PCR  với  18  cặp mồi (bảng 1) bằng PowerPlex 18D system kit  (Promega,  Mỹ).  Lượng  DNA  dùng  cho  phản  ứng multiplex PCR là 10ng và chương trình luân  nhiệt gồm 96oC trong 2 phút, 26 chu kỳ của 94oC  trong 10 giây và 60oC trong 1 phút, hoàn thành ở 

60oC  trong  20  phút  trên  máy  GeneAmp  PCR  System 2720 (Applied Biosystems, Mỹ). 

Bảng 1: Danh sách 18 kiểu dấu ấn STR của kit 

PowerPlex 18D system 

Loại STR

Màu huỳnh quang

Kích thước sản phẩm PCR

Số kiểu đơn vị lặp lại

Trang 4

Loại STR

Màu

huỳnh

quang

Kích thước sản phẩm PCR

Số kiểu đơn vị lặp lại

D21S11 FL 203-259

24, 24.2, 25, 25.2,

26-28, 28.2, 29, 29.2,30, 30.2, 31, 31.2, 32, 32.2,

33, 33.2, 34, 34.2, 35, 35.2, 36-38 TH01 FL 152-195 3-9, 9.3, 10-11,13.3

FGA TMR-ET 314-460

14-18, 18.2, 19, 19.2,

20, 20.2, 21, 21.2, 22, 22.2, 23, 23.2, 24, 24.2,

25, 25.2, 26-30, 31.2, 32.2, 33.2, 42.2, 43.2, 44.2, 45.2, 46.2, 48.2, 50.2

Amelogeni

D19S443 CXR-ET 163-215

5.2, 6.2, 8-12, 12.2, 13, 13.2, 14, 14.2, 15, 15.2,

16, 16.2, 17, 17.2, 18, 18.2 Hỗn hợp dung dịch điện di gồm 10μl Hi‐Di, 

1μl ILS500 và 1μl sản phẩm PCR được biến tính 

ở  960C  trong  3  phút  và  sốc  nhiệt  ở  00C  trong  3 

phút trước khi tiến hành điện di mao quản bằng 

máy  ABI  3130  Genetic  Analyzer,  với  POP‐4 

polymer  và  capillary  36  cm  (Applied 

Biosystems).  Kết  quả  điện  di  được  phân  tích 

bằng phần mềm GeneMapper. 

Kết  quả  điện  di  mẫu  DNA  của  người  cho 

TBGTM và BN trước ghép sẽ được phân tích để 

chọn ra các kiểu dấu ấn STR mang thông tin, có 

giá trị theo dõi điều trị sau ghép, còn đối với kết 

quả điện di mẫu DNA của BN  sau  ghép  thì  sử  dụng  diện  tích  vùng  đỉnh  của  các  dấu  ấn  STR  này  để  xác  định  tỷ  lệ  chimerism.  Mỗi  một  dấu 

ấn STR mang thông tin sẽ được sử dụng để tính  một tỷ lệ chimerism tương ứng. Tỷ lệ chimerism  của BN sau ghép là trung bình tỷ lệ  chimerism  từng dấu ấn STR. 

Các dấu ấn STR được sử dụng để phân tích  chimerism phải thỏa mãn các tiêu chuẩn là phải 

có  ít  nhất  một  allele  khác  nhau  về  kích  thước  giữa  người  cho  và  người  nhận,  khoảng  cách  giữa 2 allel tối thiểu là hai đơn vị lặp lại. Đồng  thời, chiều cao các đỉnh của các STR khi điện di  phải  >50  RFU  và  không  vượt  quá  thang  đo  RFU(7). 

Tỷ  lệ  chimerism  được  tính  theo  công  thức  sau: 

  Trong đó: ‐ ∑D: tổng diện tích vùng đỉnh của  các dấu ấn STR mang thông tin ở người cho   ‐ ∑R: tổng diện tích vùng đỉnh của các dấu 

ấn STR mang thông tin ở người nhận  

KẾT QUẢ 

Với lượng mẫu DNA sử dụng cho phản ứng  multiplex PCR là 10ng cho kết quả là chiều cao  các  đỉnh  của  người  cho  và  người  nhận  trước  ghép  cũng  như  của  người  nhận  sau  ghép  đều  trong  tiêu  chuẩn  cho  phép,  thỏa  điều  kiện  là  chiều cao tối thiểu >50 RFU và không vượt quá  thang  đo  RFU.  Đối  với  mẫu  trước  ghép  chúng  tôi xác định được 4 dấu ấn STR mang thông tin  trên  cặp  người  cho‐người  nhận  có  mã  số  là  CMR‐04,  5  dấu  ấn  STR  đối  với  cặp  CMR‐01  và  CMR‐02, 6 dấu ấn STR đối với cặp CMR‐03.  Đối  với  mẫu  sau  ghép,  chúng  tôi  xác  định  được tỷ lệ chimerism trên BN BCCDT sau ghép 

ở những thời điểm khác nhau (bảng 2). Trong 4  cặp  người  cho‐người  nhận  thì  cặp  CMR‐02  và  CMR‐04  là  dị  ghép  TBGTM  nửa  thuận  hợp  HLA,  còn  cặp  CMR‐03  và  CMR‐01  là  dị  ghép  TBGTM thuận hợp HLA hoàn toàn. 

Trang 5

Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 5 * 2013

Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học  

172

Bảng 2: Kết quả chimerism của BN BCCDT sau 

ghép TBGTM 

Mã BN

Ngày sau ghép

CMR-02 (%)

CMR-04 (%)

CMR-03 (%)

CMR-01 (%)

Đối  với  BN  CMR‐02  sau  ghép  7  ngày,  dựa 

trên diện tích vùng đỉnh của 5 kiểu dấu ấn STR 

mang  thông  tin  chúng  tôi  tính  được  tỷ  lệ 

chimerism  của  từng  kiểu  dấu  ấn  STR  và  tỷ  lệ 

chimerism trung bình là 58,45% (bảng 3). 

Bảng 3: Kết quả chimerism của BN CMR‐02 sau 

ghép 7 ngày 

Diện tích peak

CMR (%)

Diện tích peak

CMR (%)

CSF1PO

61.47

D8S1179

55.49

TPOX

59.01

FGA

64.86

Người cho

Người nhận

Người nhận sau ghép

 

Hình 1: Kết quả diện di một số dấu ấn STR của người cho, người nhận trước và sau ghép ngày 7 trên BN 

CMR‐02 

Trang 7

Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 5 * 2013

Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học  

172

Trong hình 1 là kết quả của 5 trên 18 dấu ấn 

STR  của  người  cho,  người  nhận  trước  và  sau 

ghép ngày 7 trên BN CMR‐02. Chúng ta có thể 

thấy  trong  5  dấu  ấn  STR  (D3S1358,  TH01, 

D21S11, D18S51 và Penta E) thì chỉ có Penta E là 

dấu ấn mang thông tin và đủ tiêu chuẩn để sử 

dụng  cho  mục  đích  phân  tích  chimerism.  Kết 

quả cũng cho thấy ở người bệnh sau ghép ngày 

7  thì  vừa  xuất  hiện  những  đỉnh  đặc  trưng  của 

người cho và người nhận. 

BÀN LUẬN 

Lượng  DNA  sử  dụng  cho  phản  ứng 

multiplex PCR là 10 ng, với kết quả chiều cao các 

đỉnh thu được của người cho, người nhận trước 

và  sau  ghép  đều  đạt  tiêu  chuẩn.  Kết  quả  này 

chứng tỏ 10 ng là lượng DNA phù hợp để thực 

hiện phản ứng multiplex PCR STR cho mục đích 

xác  định  tỷ  lệ  chimerism  trên  BN  dị  ghép 

TBGTM. 

Kết quả chimerism trong bảng 2 cho thấy tỷ 

lệ tế bào của người cho trong cơ thể người nhận 

tăng  dần  theo  thời  gian  đối  với  trường  hợp  dị 

ghép TBGTM nửa thuận hợp HLA. Chẳng hạn, 

đối  với  CMR‐02  sau  ghép  7  ngày  thì  tỷ  lệ 

chimerism là 58,45%, tới ngày 14 thì tỷ lệ này là 

95,5%  và  đến  ngày  21  thì  đạt  100%.  Trong  khi 

đó,  đối  với  trường  hợp  dị  ghép  TBGTM  thuận 

hợp HLA hoàn toàn thì tỷ lệ này là gần 100% ở 

các thời điểm khác nhau sau ghép. Theo nghiên 

cứu của Dodero A và cộng sự thì tỷ lệ chimerism 

trong  máu  ngoại  vi  sau  ghép  30  ngày  trên  hầu 

hết  BN  (92%)  đạt  >95%(3).  Tương  tự,  trong  một 

nghiên cứu khác của Doney KC và cộng sự khi 

đánh  giá  chimerism  tại  ngày  28  sau  ghép  thì 

45/47 BN có tỷ lệ chimerism trong tủy là > 90%(4). 

Do đó, Từ các kết quả chimerism sau ghép trên 4 

BN có thể đưa ra nhận định là bước đầu mảnh 

ghép đã mọc tốt trong cơ thể BN sau ghép. 

Đồng thời, kết quả chimerism dựa trên PCR 

các dấu ấn STR và FISH trong bảng 4 cũng cho 

thấy có sự tương đồng về tỷ lệ tế bào của người 

cho trong cơ thể người nhận sau ghép giữa hai 

kỹ thuật. Kết quả ở bảng 4 cho thấy, đối với ca 

CMR‐02  sau  ghép  ngày  14  thì  tỷ  lệ  chimerism 

được xác định bởi kỹ thuật multiplex PCR STR 

là  95,5%  tương  ứng  với  kết  quả  FISH  cũng  là  95,5% hay sau ghép ngày 21 thì cả hai kỹ thuật  cũng đều cho kết quả là 100%. Tương tự, kết quả  chimerism  đối  với  ca  CMR‐04  được  xác  định  bằng  kỹ  thuật  multiplex  PCR  STR  và  FISH  sau  ghép  ngày  14  lần  lượt  là  100%  và  98%  hay  sau  ghép ngày 21 là 98,1% và 97,5%. Điều này chứng 

tỏ  việc  xác  định  tỷ  lệ  chimerism  bằng  kỹ  thuật  PCR  STR  là  một  kỹ  thuật  đáng  tin  cậy  để  theo  dõi tiến triển của việc mọc mảnh ghép trên BN  BCCDT sau dị ghép TBGTM. Ngoài ra, trong  4  cặp BN di ghép TBGTM thì chỉ có 2 cặp có thể 

sử  dụng  kỹ  thuật  FISH  để  đánh  giá  việc  mọc  mảnh  ghép,  là  2  cặp  mà  người  cho  và  người  nhận có sự khác biệt về giới tính. Trong khi đó, 

kỹ thuật multiplex PCR STR thì có thể đánh giá  được trên cả 4 cặp BN mà cần không quan tâm  người cho và người nhận có cùng giới tính hay  không.  Điều  này  cho  thấy  khả  năng  ứng  dụng  rộng của dấu ấn STR và một lần nữa khẳng định  giá  trị  của  kỹ  thuật  multiplex  PCR  STR  trong  việc xác định chimerism. 

Bảng 4: Kết quả chimerism và FISH của BN BCCDT 

sau ghép TBGTM 

Mã BN Ngày

sau ghép

CMR-02 CMR-04 CMR(%) FISH(%) CMR(%) FISH(%)

KẾT LUẬN 

Chúng tôi đã xây dựng thành công quy trình  xác  định  chimerism  bằng  kỹ  thuật  multiplex  PCR STR. Kết quả nghiên cứu giúp xác định tỷ 

lệ  chimerism  trên  BN  sau  ghép.  Qua  đó,  góp  phần  hỗ  trợ  đánh  giá  tiến  triển  của  việc  mọc  mảnh  ghép  cũng  như  dự  đoán  sự  thành  công  hay khả năng thải ghép trên BN BCCDT dị ghép  TBGTM được hiệu quả hơn. 

Trang 8

1 Bader  P,  Niethammer  D,  Willasch  A,  et  al  (2005).  How  and 

when should we monitor chimerism after allogeneic stem cell 

transplantation. Bone Marrow Transplantation; 35, 107–119. 

2 Collins JR, Stephens RM, Gold  B,  et  al  (2003).  An  exhaustive 

DNA  micro‐satellite  map  of  the  human  genome  using  high 

performance computing. Genomics; 82, 10‐19. 

3 Dodero A, Carniti C, Raganato A, et al (2009). Haploidentical 

stem  cell  transplantation  after  a  reduced‐intensity 

conditioning  regimen  for  the  treatment  of  advanced 

hematologic malignancies: posttransplantation CD8‐depleted 

donor  lymphocyte  infusions  contribute  to  improve  T‐cell 

recovery. Blood ; 113, 4771‐4779. 

4 Doney KC, Loken MR, Bryant EM, et al (2008). Lack of utility 

of  chimerism  studies  obtained  two  to  three  months  after 

myeloablative  haematopoietic  cell  transplantation  for  acute 

lymphocytic  leukaemia.  Bone  Marrow  Transplant; 42,  271–

274. 

5 Lander ES, Linton LM, Birren B, et al. Initial sequencing and 

analysis of the human genome. Nature 2001; 409, 860‐921. 

6 Lawler  M,  Humphries  P,  McCann  SR  (2009).  Evaluation  of 

mixed  chimerism  by  in  vitro  amplification  of  dinucleotide 

repeat sequences using the polymerase chain reaction. Blood; 

77,2504–2514. 

7 Lion  T,  Watzinger  F,  Preuner  S,  et  al  (2012).  The 

EuroChimerism  concept  for  a  standardized  approach  to  chimerism analysis after allogeneic stem cell transplantation. 

Leukemia; 26, 1821 – 1828. 

8 Thiede  C,  Bornhauser  M,  Ehninger  G  (2004).  Evaluation  of  STR  informativity  for  chimerism  testing  ‐  comparative  analysis  of  27  STR  systems  in  203  matched  related  donor 

recipient pairs. Leukemia; 18, 248–254. 

9 Thiede  C,  Florek  M,  Bornhauser  M,  et  al  (1999).  Rapid 

quantification  of  mixed  chimerism  using  multiplex  amplification  of  short  tandem  repeat  dấu  ấns  and 

fluorescence  detection.  Bone  Marrow  Transplant  ;  23,  1055–

1060. 

 

Ngày nhận bài báo: Ngày 30 tháng 7 năm 2013  Ngày phản biện: ngày 09 tháng 9 năm 2013  Ngày bài báo được đăng:   22 tháng 10 năm 2013 

 

 

Ngày đăng: 20/01/2020, 07:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w