1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhận xét hai trường hợp vỡ thực quản sau nôn ói (hội chứng boerhaave) tại Bệnh viện Trưng Vương

5 79 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 242,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về những khó khăn trong việc chẩn đoán vỡ thực quản do nôn ói mạnh do triệu chứng lâm sàng không điển hình, yêu cầu đặt ra sự thống nhất trong hướng xử trí. Qua hai trường hợp vỡ thực quản sau nôn ói mạnh tại Bệnh viện Trưng Vương cho thấy những khó khăn trong chẩn đoán cũng như những yếu tố quyết định trong điều trị bệnh lý này.

Trang 1

NHẬN XÉT HAI TRƯỜNG HỢP VỠ THỰC QUẢN SAU NÔN ÓI (HỘI CHỨNG BOERHAAVE) TẠI BỆNH VIỆN TRƯNG VƯƠNG

Lê Nguyễn Quyền*, Trịnh Quốc Minh*, Nguyễn Thành Nhơn*, Ngô Tấn Minh Mẫn*

TÓM TẮT

Vỡ thực quản do nôn ói mạnh là một bệnh lý hiếm gặp (tần suất là 3,1 trường hợp/1.000.000 dân/ năm) nhưng tiên lượng rất nặng Chẩn đoán sớm có tính chất quyết định cho kết quả điều trị (11) , tuy nhiên việc chẩn đoán thường khó khăn do triệu chứng lâm sàng không điển hình Chẩn đoán muộn sau 24 giờ có tiên lượng rất nặng, tỉ lệ tử vong trên 90% (14)

Do tỉ lệ bệnh khá thấp nên nghiên cứu về hội chứng này có số lượng bệnh nhân không nhiều nên việc thống nhất trong hướng xử trí vẫn còn cần bàn thêm (11,5)

Bệnh viện Trưng Vương đã nhận điều trị hai trường hợp vỡ thực quản sau nôn ói mạnh Qua hai trường hợp cho thấy những khó khăn trong chẩn đoán cũng như những yếu tố quyết định trong điều trị bệnh lý này

Từ khóa: vỡ thực quản, hội chứng Boerhaave

ABSTRACT

REVIEW TWO CASES OF ESOPHAGEAL RUPTURE DUE TO VOMITING (BOERHAAVE SYNDROME) IN TRƯNG VƯƠNG HOSPITAL

Le Nguyen Quyen, Trinh Quoc Minh, Nguyen Thanh Nhon, Ngo Tan Minh Man

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 5 - 2015: 21 - 25

Esophageal rupture due to strong vomit is a rare disease (incidence of 3.1 cases / 1,000,000) but very severe prognosis Early diagnosis is critical for the outcome of treatment, however the diagnosis is often difficult because the clinical symptoms are not typical Late diagnosis after 24 hours with very severe prognosis, the mortality rate of over 90%

Due to relatively low prevalence, reports of this syndrome is not much the number of patients so the unification

of proper treatment still need to be discussed further

Trung Vuong Hospital has treated for two cases of rupture of the esophagus after vomiting strong Through two cases shows the difficulty in diagnosis as well as the decisive factor in the treatment of this pathology

Key words: Esophageal rupture, Boerhaave syndrome

BỆNH ÁN

Bệnh án 1

Bệnh nhân: Nguyễn Phi C., nam, 53 tuổi

Vào viện vì lý do đau bụng

Bệnh sử: Bệnh nhân sau khi uống bia, nôn ói 2

lần, lẫn ít máu, sau ói bênh nhân đau dữ dội vùng

thượng vị và ngực trái, đau không giảm nhập

Bệnh viện Trưng Vương

Chẩn đoán vào viện TD thủng dạ dày

Chụp X Quang phát hiện mờ góc sườn hoành trái (hình 1)

Chẩn đoán TD vỡ thực quản

Chụp CT scan có uống cản quang: khí, dịch màng phổi trái, hình ảnh nghi ngờ thuốc cản quang vào khoang màng phổi trái (hình 2)

Trang 2

Hình 1: X quang ngực thẳng cho thấy hình ảnh mờ góc

sườn hoành trái

Hình 2: Hình ảnh CT scan cho thấy tràn dịch và tràn

khí màng phổi trái kèm với hình ảnh nghi ngờ có thuốc

cản quang trong khoang màng phổi trái (mũi tên)

Bệnh nhân được nội soi thực quản: kết quả

cho thấy tổn thương vỡ thực quản, nhiều khả

năng đã vỡ thực quản Nghĩ đến hội chứng

Boerhaave (hình 3)

Hình 3: Nội soi thực quản cho thấy vỡ thực quản (mũi

tên)

Chẩn đoán vỡ thực quản 1/3 dưới do nôn ói Chỉ định phẫu thuật (18 giờ sau nôn)

Được phẫu thuật nội soi lồng ngực khâu thực quản vỡ, dẫn lưu siphonage; dẫn lưu chỗ vỡ bằng ống Levin tube qua đường thực quản, mở dạ dày

và hổng tràng ra da

Hậu phẫu ngày 10 bệnh nhân được chụp CT scan có uống cản quang: không thấy xì, rò thuốc cản quang qua chỗ vỡ thực quản

Hậu phẫu ngày 14 bệnh nhân được rút Levin tube và siphonage

Hậu phẫu ngày 21 bệnh nhân được rút sonde

mở dạ dày và hổng tràng cho ăn uống đường miệng

Sau 01 tháng bệnh nhân hồi phục hoàn toàn

và xuất viện

Chẩn đoán xuất viện: Vỡ thực quản 1/3 dưới

do nôn ói (Hội chứng BOERHAAVE)

Bệnh án 2

Bệnh nhân: Nguyễn Văn X., nam, 53 tuổi Vào viện vì lý do đau bụng

Bệnh sử: Cách nhập viện 30 phút bệnh nhân đột ngột đau dữ dội cùng ngực trái sau khi nôn ói mạnh, ói ra ít máu, đau liên tục vùng ngực trái và thượng vị nhập Bệnh viện Trưng Vương

Hình 4: X quang ngực thẳng với hình mờ góc dườn hoành không rõ

Trang 3

Chẩn đoán vào viện: TD viêm tụy cấp

Chẩn đoán phân biệt: TD viêm dạ dày cấp

Chụp X Quang ngực mờ ít góc sườn hoành

trái (hình 4)

Chụp CT scan có uống cản quang: khí, dịch

màng phổi trái, hình ảnh ngờ thuốc cản quang

vào khoang màng phổi trái (hình 5)

Hình 5: Hình ảnh CT scan ngực thấy thuốc cản quang

từ thực quản lan vào trung thất và khoang màng phổi

trái (mũi tên)

Chẩn đoán vỡ thực quản 1/3 dưới

Chỉ định phẫu thuật (18 giờ sau nôn)

Được phẫu thuật nội soi lồng ngực thám sát

vết thương thực quản, do vết thương thực quản

vỡ dài và sau đến sát tâm vị nên bệnh nhân được

mở ngực để khâu lại chỗ thực quản vỡ, dẫn lưu

siphonage; dẫn lưu chỗ vỡ bằng ống Levin tube

qua đường thực quản, mở dạ dày và hổng tràng

ra da

Hậu phẫu ngày 12 bệnh nhân được chụp CT

scan có uống cản quang: không thấy xì, rò thuốc

cản quang qua chỗ vỡ thực quản

Ống dẫn lưu khoang màng phổi còn ra dịch

vàng, tiếp tục hút ống dẫn lưu khoang màng phổi

Hậu phẫu ngày 20 rút Levin tube

Hậu phẫu ngày 21 rút dẫn lưu khoang màng

phổi

Sau 01 tháng 1 ngày bệnh nhân hồi phục hoàn

toàn và xuất viện

Chẩn đoán xuất viện: Vỡ thực quản 1/3 dưới

do nôn ói

BÀN LUẬN

Hội chứng Boerhaave có thể khó chẩn đoán bởi vì các triệu chứng lâm sàng của nó không điển hình và có thể nhầm lẫn với nhiều tình trạng lâm sàng khác như nhồi máu cơ tim cấp, phình động mạch chủ bóc tách cấp tính, tắc mạch phổi, viêm dạ dày, thủng tạng rổng, tràn khí màng phổi

áp lực, tràn khí màng bụng(8,16)… Tuy nhiên, bệnh cảnh lâm sàng điển hình nhất trong hầu hết các trường hợp là bệnh nhân

đã có một bữa ăn thịnh soạn với nhiều rượu thịt cùng với triệu chứng nôn ói tiếp theo, sau đó đột ngột khởi phát đau ngực trái dữ dội, tràn khí dưới

da (Tam chứng Markler)(4,8,14) Cơn đau có thể lan lên vai trái rất giống với triệu chứng lâm sàng của nhồi máu cơ tim cấp tính Hội chứng Boerhaave

và nhồi máu cơ tim cấp tính có rất nhiều điểm chung trên lâm sàng nên nên rất hay nhầm lẫn Trong phần lớn các trường hợp nhồi máu cơ tim cấp là bệnh lý thường được chẩn đoán đầu tiên(8,15,16) Các triệu chứng khác bao gồm nuốt đau, tím tái, nhịp tim nhanh, sốt, nôn ra máu(7), tiếng

cọ màng ngoài tim (dấu Hamman) và sốc(8,14)

Về sinh lý bệnh học, hội chứng Boerhaave là

do nôn mửa làm gia tăng áp lực đột ngột trong lòng thực quản trong khi thanh môn phía trên thực quản đóng kín Đó là do để mất phối hợp thần kinh cơ làm cho cơ nhẩn hầu không giãn ra được(2,6,8) Tuổi tác là một yếu tố quan trọng trong việc mất phối hợp thần kinh cơ này

Về mặt giải phẫu vị trí vỡ nằm ở mặt sau bên của 1/3 dưới trái của thực quản, phần này thường nằm trong lồng ngực, đây là vị trí yếu nhất của thực quản (4,8,14) Dịch và khí có thể rò rỉ vào trung thất và khoang màng phổi trái qua chỗ vỡ(4)

Vị trí vỡ hay gặp thứ hai là dưới cơ hoành dẫn đến các triệu chứng ở bụng(4)

Khi nghi ngờ là hội chứng Boerhaave xét nghiệm đầu tiên được lựa chọn là x quang thực quản có cản quang, tốt nhất là dùng loại thuốc cản quang tan trong nước để tránh làm bội nhiễm trung thất(4,11,10) Hình ảnh thuốc cản quang thoát

Trang 4

ra khỏi lòng thực quản là dấu hiệu của vỡ thực

quản, dấu hiệu này có độ nhạy là 75-90%(8)

Trong trường hợp bệnh nhân đã được đặt ống

dân lưu màng phổi với chẩn đoán ban đầu là tràn

dịch màng phổi, thì bệnh nhân có thể được cho

uống blue methylene thuốc nhuộm màu xanh có

thể xuất hiện trong ống dẫn lưu màng phổi sau

khi đi qua chỗ vỡ thực quản

X quang ngực cho hình ảnh tràn dịch, tràn khí

màng phổi, tràn khí trung thất(14)

CT scan là phương tiện ít xâm lấn và cho

những hình ảnh rõ hơn x quang ngực với các hình

ảnh tràn dịch, tràn khí màng phổi, hình ảnh khí

và dịch quanh thực quản Kết hợp với thuốc cản

quang CT scan có thể thấy hình ảnh thoát thuốc

cản quang qua chỗ rất có giá trị trong chẩn đoán,

phương pháp này còn giúp loại trừ các nguyên

nhân gây đau ngực khác(8,10) Tuy nhiên CT scan

không cho biết chính xác vị trí vỡ ở thực quản

Hai trường hợp của chúng tôi đều được chẩn

đoán nhờ CT scan, kết quả này tương tự như của

Granell V 5/7 trường hợp(71%)(4)

Nội soi thực quản có thể giúp chẩn đoán xác

định vỡ thực quản, vị trí vỡ, kích thước chỗ vỡ

Nhưng phương pháp này ít được khuyến khích

do tính xâm lấn nhiều và có thể làm tỗn thương

thêm chỗ vỡ và đưa nhiều không khí vào khoang

màng phổi trong quá trình soi(8,10)

Điều trị hội chứng Boerhaave thường là phẫu

thuật, điều trị bảo tồn thường được áp dụng cho

những trường hợp bệnh nhân không chịu được

cuộc mổ(4) hay trường hợp vỡ thực quản hơn 48

giờ nhưng không có biểu hiện nhiễm trùng(2,3,8,10)

Trong hầu hết các tác giả trên thế giới đều

thống nhất quan điểm là chẩn đoán vỡ thực quản

trước 24 giờ là vỡ sớm và cần được khâu lại ngay

trong mổ(11,14) qua đường mở ngực, nội soi lồng

ngực hay nội soi ổ bụng(14) Hai trường hợp của

chúng tôi đều được chẩn đoán trước 24 giờ nên

đều được khâu qua đường mở ngực và qua

phương pháp nội soi lồng ngực(9,13)

Trường hợp chẩn đoán sau 24 giờ chỗ vỡ bị

phù nề, nhiễm trùng và rất mủn và thường có

kèm theo viêm trung thất, viêm mủ màng phổi nên việc khâu lại thường gặp khó khăn và chỗ khâu dễ bị xì dò Điều trị trong trường hợp này còn nhiều bàn cải(5,11) Lựa chọn trong tình huống này có thể là khâu chỗ vỡ(12) có hay không khâu tăng cường vạt da cơ liên sườn, màng phổi, mạc nối lớn, đặc biệt là phình vị(10) hay chỉ cắt lọc chỗ

vỡ, dẫn lưu màng phổi, dẫn lưu trung thất, mở thực quản cổ ra da và mở dạ dày giải áp, mở hổng tràng nuôi ăn(4) Những trường hợp thực quản bị hoại tử có thể phải mở thực quản ra da để cách ly chỗ vỡ hay nặng hơn là cắt bỏ thực quản(1,6,10)

Điều trị vỡ thực quản bằng phẫu thuật

KẾT LUẬN

Vỡ thực quản sau nôn ói mạnh hay hội chứng Boerhaave có tỷ lệ mắc tử vong cao nếu không điều trị hoặc điều trị muộn Triệu chứng của hội chứng Boerhaave rất giống các bệnh lý thông thường như: viêm dạ dày, thủng tạng rỗng, viêm tụy cấp, viêm đáy phổi…Các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu của của bệnh có thể góp phần làm cho sự chậm trễ trong chẩn đoán và kết quả điều trị thường không tốt

Ở những bệnh nhân đột ngột đau dữ dội ở ngực, cổ, hay bụng sau khi nôn mửa cùng với triệu chứng tràn khí dưới da tại vị trí đó nên nghi ngờ là hội chứng Boerhaave

Các xét nghiệm cận lâm sàng như X quang ngực kết hợp X quang thực quản có cản quang,

Trang 5

CT ngực, bụng, nội soi thực quản… có thể giúp

chẩn đoán xác định

Điều quan trọng để chẩn đoán sớm bệnh lý

này là phải nghĩ đến nguyên nhân này, đồng thời

phải kết hợp khám lâm sàng cùng với cận lâm

sàng để có chẩn đoán xác định, chẩn đoán sớm và

xử lý sớm sẽ cho kết quả khả quan

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Barbara DW, BC Smith, Hartman WR (2012) Boerhaave’s

Syndrome Spontaneous Esophageal Rupture, The American

Society of Anesthesiologists, Inc Lippincott Williams & Wilkins

Anesthesiology, volume 117, number 5:1127

2 Connelly C., Lamb P., Paterson S (2013) Outcomes following

Boerhaave’s syndrome Ann R Coll Surg Engl 2013; 95: 557–560

3 Daya H, Wijetunge D, (1993) Oesophageal perforation: an unusual

complication of a hypoglycaemic episode Archives of Emergency

Medicine, 10: 310-313

4 Granel V, Fortea S (2013) Boerhaave's syndrome: a review of our

experience over the last 16 years Rev Gastroenterol Mex., 79(1):

67-70

5 Hingston C, Saayman A (2010) Department of Intensive Care

Medicine, University Hospital of Wales, Cardiff, UK, Volume 76,

number 10:865-867

6 Kroepil F, Schauer M, Raffel A (2013) Treatment of Early and

Delayed Esophageal Perforation, Indian Journal Surgery,

75(6):469–472

7 Lee W, Siau K, Singh G (2013) Boerhaave’s syndrome presenting

as an upper gastrointestinal bleed BMJ case report

8 Ng P (2002) An unusual case of chest pain, Mid Cheshire NHS Trus Crewe, UK

9 Prete F., Pezzolla A (2015) Laparoscopic primary repair and isoperistaltic endoluminal drain for Boerhaave's Syndrome Ann Ital Chir ;86:261-266

10 Salo J, Sihvo E, Kauppi J, Räsänen J (2013) Boerhaave’s syndrome: Lessons Learned from 83 Cases over Three decades Scandinavian Journal of Surgery Volume 102: 271-273

11 Shen G, Chai Y (2014) World J Gastroenterol, volume 20(35):12696-12700

12 Shen G, Chai Y, Zhang G (2014) Successful surgical strategy in a late case of Boerhaave’s syndrome World Journal Gastroenterol, 21; 20(35), tr:12696-12700

13 Sulpice L, Dileonb S, Rayar M (2013), Conservative surgical management of Boerhaave’s syndrome: Experience of two tertiary referral centers International Journal of Surgery, 11, tr 64-67

14 Szeliga J, Jackowski M (2012) Boerhaave Syndrome Polski Przegląd Chirurgiczny, 83, 9: 523–526

15 Tamatey MN, Sereboe LA (2013) Ghana Medical Journal, Volume

47 Number 1:53-55

16 Winkel V, Meijs M (2001) Boerhaave's syndrome: also in the emergency room, Ned Tijdschr Geneeskd, 145, (14)

Ngày đăng: 20/01/2020, 07:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w