1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát việc sử dụng fentanyl trong giảm đau ở bệnh nhân khoa chăm sóc giảm nhẹ bệnh viện ung bướu TP. Hồ Chí Minh

7 110 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 296,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu đề tài nghiên cứu này nhằm khảo sát việc sử dụng miếng dán fentanyl giảm đau trong thời gian ngắn trên đối tượng bệnh nhân điều trị tại khoa chăm sóc giảm nhẹ - Bệnh viện Ung Bướu TP. Hồ Chí Minh từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2012.

Trang 1

KHẢO SÁT VIỆC SỬ DỤNG FENTANYL TRONG GIẢM ĐAU

Ở BỆNH NHÂN KHOA CHĂM SÓC GIẢM NHẸ BỆNH VIỆN UNG BƯỚU

TP HỒ CHÍ MINH

Phạm Hoài Thanh Vân*, Nguyễn Tuấn Dũng*

TÓM TẮT

Mục tiêu: khảo sát việc sử dụng miếng dán fentanyl giảm đau trong thời gian ngắn trên đối tượng bệnh

nhân điều trị tại khoa Chăm sóc giảm nhẹ - Bệnh viện Ung Bướu TP Hồ Chí Minh từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2012.

Phương pháp: đây là nghiên cứu mô tả, tiến cứu, thực hiện trên bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối (không

còn được điều trị đặc hiệu), được bắt đầu điều trị đau bằng miếng dán fentanyl tại khoa CSGN Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn bệnh nhân hoặc người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân sau từng khoảng thời gian 3 ngày, 10 ngày, 20 ngày và 30 ngày Các yếu tố đánh giá gồm liều sử dụng, hiệu quả giảm đau, thuốc cứu hộ, tác dụng phụ của thuốc và mức độ hài lòng của bệnh nhân Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 với các phép kiểm thống kê phù hợp

Kết quả: khoảng liều fentanyl sử dụng dao động từ 25-150 mg/giờ, trong đó phần lớn bệnh nhân dùng

fentanyl ở liều 25-50 mg/giờ; sự tăng liều sau 10 ngày, 20 ngày và 30 ngày so với ban đầu có ý nghĩa thống kê (p

< 0,05) Mức độ đau của bệnh nhân (theo thang NPRS) sau khi dùng fentanyl so với ban đầu giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05); 62,5-81% bệnh nhân kiểm soát đau với mức < 4/10 (không đau đến đau nhẹ) Morphin phóng thích tức thời (đường uống) được chỉ định làm thuốc cứu hộ trong phần lớn trường hợp (hơn 73%), khoảng 60-80% bệnh nhân không dùng quá 2 lần liều cứu hộ/ngày Buồn ngủ, khô miệng, đổ mồ hôi là những tác dụng phụ thường gặp nhất; buồn nôn, nôn thường xảy ra trong giai đoạn đầu (sau 3 ngày) và giảm dần/biến mất sau đó; không có tác dụng phụ nào nghiêm trọng khiến bệnh nhân ngừng thuốc Hơn 96% bệnh nhân trả lời có hài lòng

về việc dùng miếng dán fentanyl

Kết luận: việc sử dụng miếng dán fentanyl trong thời gian ngắn (3 ngày đến 30 ngày) để giảm đau cho bệnh

nhân ung thư giai đoạn cuối không còn được điều trị đặc hiệu là khả thi, hiệu quả và tương đối an toàn.

Từ khóa: fentanyl dán, chăm sóc giảm nhẹ, hiệu quả, an toàn

ABSTRACT

EVALUATING THE USAGE OF FENTANYL PATCH IN PAIN MANAGEMENT FOR PATIENTS AT

PALLIATIVE CARE DEPARTMENT, HO CHI MINH CITY ONCOLOGY HOSPITALS

Pham Hoai Thanh Van, Nguyen Tuan Dung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 4 - 2013: 88 - 94

Objective: evaluate the usage of transdermal fentanyl for short-term pain management in patients admitted

to Palliative Care Department, HCMC Oncology Hospital (from June 2011 to June 2012)

Methods: this was an observed, prospective study in advanced-stage cancer patients (not responsive to

curative treatment) starting taking transdermal fentanyl for pain control at Palliative Care Department Data were collected through interviewing patients or caregivers after 3 days, 10 days, 20 days and 30 days of using fentanyl Factors for evaluating include dosage of fentanyl, analgesia efficacy, rescue medication, adverse effects

Trang 2

and patients’ satisfaction Data were analyzed by SPSS 16.0 software with appropriate statistical tests

Results: fentanyl dosage ranged from 25-150 mg/h in which 25-50 mg/h was the most common range used;

and the increment in dosage after 10 days, 20 days and 30 days was significantly different (p < 0.05) from the initial dose Pain intensity (NPRS) was significantly reduced (p < 0.05) from the baseline through the remaining period evaluations; and approximately 62.5-81% of patients were controlled with the pain score < 4/10 (no pain to mild pain) Immediate-release morphine (oral route) was indicated as rescue medication in the majority (over 73%); and around 60-80% of cases took not more than two rescue doses per day Drowsiness, dry mouth, and sweating were the most common side effects while nausea and vomiting frequently happened at the beginning time (after 3 days) and decreased/disappeared later; and no serious adverse effect was recorded Over 96% of patients cited that they had satisfaction about taking transdermal fentanyl for pain control

Conclusion: using transdermal fentanyl for short-term pain management (3 days to 30 days) in

terminal-stage cancer patients (not able to take curative treatment any more) was feasible, effective and relatively safe

Keywords: transdermal fentanyl , Palliative Care, effective, safe

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, ung thư là một trong những bệnh

mạn tính ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe và

chất lượng cuộc sống của con người Các nghiên

cứu cho thấy khoảng 60-90% bệnh nhân ung thư

di căn bị đau ở mức độ trung bình đến nặng(4)

không đáp ứng với các thuốc giảm đau thông

thường Theo khuyến cáo của WHO, morphin là

opioid đầu tay trong giảm đau ở bệnh nhân ung

thư, và đã được chứng minh là một thuốc giảm

đau hiệu quả Tuy nhiên không phải mọi trường

hợp đều có đáp ứng tốt với morphin hoặc có thể

điều trị đau với morphin

Vấn đề đặt ra là cần xem xét việc dùng các

opioid khác hoặc chuyển đổi từ morphin sang

opioid thay thế trong những tình huống không

thể sử dụng morphin Tại Việt Nam ngoài

morphin, fentanyl cũng là thuốc giảm đau mạnh

loại opioid được cân nhắc sử dụng Do đó chúng

tôi tiến hành khảo sát việc sử dụng fentanyl

trong kiểm soát đau ở bệnh nhân điều trị tại

khoa Chăm sóc giảm nhẹ -Bệnh viện Ung Bướu

TP Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ

tháng 6/2011 đến tháng 6/2012 Mục tiêu đặt ra là

đánh giá việc sử dụng miếng dán fentanyl giảm

đau trong thời gian ngắn trên đối tượng bệnh

nhân ung thư giai đoạn cuối không còn được

điều trị đặc hiệu

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng khảo sát là bệnh nhân ung thư có thời gian sống tiên lượng dưới 6 tháng, đau mạn

tính được điều trị đau bằng miếng dán fentanyl

tại khoa Chăm sóc giảm nhẹ, thỏa tiêu chuẩn

chưa từng sử dụng miếng dán fentanyl trước đó; không thể sử dụng morphin uống hoặc không thể tiếp tục sử dụng morphin uống, hay không đạt được hiệu quả giảm đau với morphin.

Nghiên cứu được thiết kế theo mô hình tiến cứu, không đối chứng Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn bệnh nhân hoặc người trực tiếp chăm sóc bệnh nhân sau từng khoảng thời gian điều trị (3 ngày, 10 ngày, 20 ngày và 30 ngày); kết hợp với theo dõi hồ sơ bệnh án Các

yếu tố đánh giá gồm liều sử dụng, hiệu quả giảm đau, thuốc cứu hộ, tác dụng phụ của thuốc và mức độ hài lòng của bệnh nhân

Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0

Sử dụng phép kiểm Wilcoxon signed ranks hay Sign để so sánh mức độ đau trước và sau khi dùng thuốc; liều fentanyl ban đầu và sau từng khoảng thời gian So sánh tỉ lệ bị tác dụng phụ giữa các đợt điều trị bằng phép kiểm McNemar

KẾT QUẢ Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Từ 1/6/2011 đến 1/6/2012 ghi nhận được 101 bệnh nhân khoa Chăm sóc giảm nhẹ - bệnh viện

Trang 3

Ung Bướu TP Hồ Chí Minh dùng miếng dán

fentanyl để giảm đau, trong đó có 42 bệnh nhân

thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu được đưa vào nghiên

cứu với các đặc điểm chung được trình bày

trong bảng 1

Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu ban đầu 42 bệnh nhân

Vị trí ung thư nguyên phát 38% ung thư vùng đầu cổ

Phương pháp đặc hiệu đã điều trị 50% BN từng được hóa trị

Liều miếng dán fentanyl

Kết quả khảo sát liều fentanyl sử dụng được

trình bày trong hình 1

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

25 mcg/h 50 mcg/h 75 mcg/h 100 mcg/h 125 mcg/h 150 mcg/h

Liều miếng dán fentanyl

Ban đầu

3 ngày

10 ngày

20 ngày

30 ngày

Hình 1 Liều fentanyl ban đầu, sau 3 ngày, 10 ngày,

20 ngày và 30 ngày

Bảng 2: So sánh liều fentanyl sau từng khoảng thời

gian với lúc ban đầu

Ban đầu

(n=42)

3 ngày (n=42)

10 ngày (n=42)

20 ngày (n=42)

30 ngày (n=42)

Liều fentanyl

(g/giờ)

44,6±29,

9

46,4±28,

9

51,5±30,

4*

58,8±31,

8*

60,4±37,

5*

* p < 0,05 (phép kiểm Sign)

Khoảng liều fentanyl sử dụng dao động từ

25-150 mg/giờ, trong đó phần lớn bệnh nhân

dùng fentanyl ở liều 25-50 mg/giờ, nhất là ở

khoảng thời gian đầu (sau 3 ngày, 10 ngày) Từ

sau 10 ngày trở đi, có sự gia tăng tỉ lệ bệnh nhân

dùng miếng dán ở liều 100 mg/giờ

Sự tăng liều sau 10 ngày, 20 ngày và 30 ngày

so với ban đầu có ý nghĩa thống kê (bảng 2)

Mức độ đau

Sự cải thiện mức độ đau sau khi dùng miếng dán fentanyl được trình bày trong hình 2

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

Không đau Đau nhẹ Đau vừa Đau nặng

Hình 2: Mức độ đau ban đầu và sau 3 ngày, 10 ngày,

20 ngày, 30 ngày dùng fentanyl

Sau khi dùng fentnyl, khoảng 62,5-81% bệnh nhân kiểm soát đau với mức < 4/10 (không đau đến đau nhẹ) Chỉ khoảng 6,7-10% bệnh nhân còn đau nặng (đau mức > 6/10)

Mức độ đau của bệnh nhân (theo thang NPRS) sau khi dùng fentanyl so với ban đầu giảm có ý nghĩa thống kê (bảng 3)

Bảng 3: So sánh mức độ đau sau từng khoảng thời

gian với lúc ban đầu

Ban đầu (n=42)

3 ngày (n=42)

10 ngày (n=42)

20 ngày (n=42)

30 ngày (n=42)

Mức độ đau 5,2±2,3 3,3±1,9* 2,5±1,4* 2,8±2,0* 2,8±1,8*

* p < 0,05 (phép kiểm Wilcoxon signed ranks)

Thuốc cứu hộ

Tóm tắt về việc sử dụng thuốc cứu hộ được trình bày trong bảng 4 Morphin phóng thích tức thời (đường uống) được chỉ định làm thuốc cứu

hộ trong phần lớn trường hợp (hơn 73%) Khoảng 60-80% bệnh nhân không dùng quá 2 lần liều cứu hộ/ngày

Bảng 4: Tóm tắt đặc điểm sử dụng thuốc cứu hộ

10 ngày 20 ngày 30 ngày

Tần suất sử dụng (lần/ngày)

1,79±1,38 1,50±1,17 1,92±1,79

Trang 4

Tác dụng phụ

Kết quả khảo sát tỉ lệ một số tác dụng phụ khi dùng

miếng dán fentanyl được trình bày trong hình 3 Buồn

ngủ, khô miệng, đổ mồ hôi là những tác dụng phụ

thường gặp nhất Tác dụng phụ nôn, buồn nôn

thường gặp sau 3 ngày đầu sử dụng miếng dán

fentanyl, và giảm/biến mất sau đó Chỉ một tỉ lệ thấp

bệnh nhân bị tác dụng phụ ngứa, kích ứng da tại nơi dán, chóng mặt Không ghi nhận trường hợp nào bị suy giảm hô hấp do dùng miếng dán Sự khác biệt về

tỉ lệ các tác dụng phụ thường gặp sau 10 ngày, 20 ngày

và 30 ngày không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05, phép kiểm McNemar)

Buồn nôn Nôn Khô miệng Buồn ngủ

Đổ mồ hôi Ngứa Kích ứng da Chóng mặt Suy giảm hô hấp

Tỉ lệ

30 ngày

20 ngày

10 ngày

3 ngày

Hình 3: Tỉ lệ bị tác dụng phụ sau 3 ngày, 10 ngày, 20 ngày và 30 ngày dùng fentanyl

Mức độ hài lòng của bệnh nhân

Kết quả khảo sát mức độ hài lòng của bệnh

nhân về việc dùng miếng dán giảm đau fentanyl được trình bày trong hình 4

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

Không hài lòng Tạm hài lòng Hài lòng Rất hài lòng

Hình 4: Mức độ hài lòng của BN sau 3 ngày, 10 ngày, 20 ngày và 30 ngày dùng fentanyl

Hơn 96% bệnh nhân trả lời có hài lòng về

việc dùng miếng dán fentanyl Trong đó, mức

“Hài lòng” chiếm tỉ lệ cao nhất, từ 50-62,5%

Mức độ hài lòng có sự tương quan nghịch

(thể hiện qua hệ số Spearman rho) với mức độ

đau của bệnh nhân (Bảng 5)

Bảng 5: Hệ số tương quan giữa mức độ đau và mức

độ hài lòng

3 ngày (n=42)

10 ngày (n=42)

20 ngày (n=42)

30 ngày (n=42)

* p < 0,05

Trang 5

BÀN LUẬN

Điều chỉnh liều

Hơn 50% bệnh nhân khởi đầu điều trị với

miếng dán fentanyl ở liều 25 mg/giờ Việc chỉ

định liều này là hợp lý vì trong số 42 bệnh nhân

được khảo sát, 33 bệnh nhân có dùng morphin

trước đó với liều trung bình là 107,57 mg/24 giờ

Nếu dùng bảng qui đổi từ morphin sang

fentanyl thì liều miếng dán fentanyl tương

đương là 25-50 mg/giờ

Sau 3 ngày đầu dùng miếng dán, liều

fentanyl sử dụng tăng không có ý nghĩa thống

kê Trong khi đó nếu so sánh liều ở mốc 10 ngày,

20 ngày và 30 ngày so với ban đầu hoặc so với

mốc sau 3 ngày đầu thì sự tăng liều lại có ý nghĩa

thống kê Do trạng thái cân bằng của fentanyl

trong huyết tương chỉ đạt được vào ngày thứ 3

sau khi dán, nên trong 72 giờ đầu có thể được

xem là giai đoạn chỉnh liều đối với những bệnh

nhân nội trú Với những bệnh nhân ngoại trú

việc chỉnh liều chỉ được thực hiện vào mỗi đợt

tái khám (mỗi 9-10 ngày) Vì vậy sự khác biệt

liều miếng dán fentanyl của mẫu nghiên cứu sau

3 ngày so với ban đầu là không đáng kể Ngoài

ra, sự khác biệt về liều ở mốc 10 ngày, 20 ngày và

30 ngày so với ban đầu cũng cho thấy sự dung

nạp opioid của bệnh nhân, đồng thời phản ánh

phần nào tình trạng bệnh tiến triển

Hiệu quả giảm đau

So với trước khi dùng miếng dán fentanyl,

mức độ đau trung bình theo thang NPRS sau 3

ngày, 10 ngày, 20 ngày và 30 ngày giảm có ý

nghĩa thống kê (p < 0,001) Điều này cho thấy

hiệu quả giảm đau của miếng dán fentanyl trong

thời gian ngắn (≤ 30 ngày) Kết quả này cũng khá

tương đồng với nghiên cứu của Mercadante và

cộng sự, 2010(5) khi khảo sát về hiệu quả giảm

đau trong 4 tuần của miếng dán fentanyl

Thuốc cứu hộ

Trong nghiên cứu này, morphin dạng phóng

thích tức thời (đường uống) được chỉ định làm

thuốc cứu hộ trong phần lớn trường hợp là hợp

lí do T1/2 ngắn (≈ 4 giờ) và khởi phát tác động nhanh (15-30 phút) Ngoài ra, việc cho bệnh nhân sử dụng morphin cứu hộ đường uống cũng thuận tiện, nhất là với những bệnh nhân ngoại trú vì bệnh nhân có thể tự thực hiện tại nhà

Số lần dùng liều cứu hộ trong ngày là một trong những cơ sở giúp bác sĩ điều chỉnh liều thuốc giảm đau cơ bản của bệnh nhân, đồng thời cũng phần nào phản ánh liều thuốc giảm đau bệnh nhân đang dùng có phù hợp hay chưa Qua khảo sát, khoảng 18-25% bệnh nhân không cần dùng liều cứu hộ vì đã kiểm soát đau tốt với miếng dán fentanyl, khoảng 50 – 60% bệnh nhân

sử dụng 1-2 lần liều cứu hộ/ngày Điều này cho thấy phần lớn bệnh nhân được kiểm soát đau khá tốt với miếng dán fentanyl

Tác dụng không mong muốn

Tác dụng phụ thường gặp

Phần lớn bệnh nhân bị tác dụng phụ khô miệng (khoảng 46-57%), chủ yếu ở mức độ trung bình Tỉ lệ bệnh nhân bị tác dụng phụ khô miệng sau 30 ngày là 45,83%, thấp hơn so với nghiên cứu của Donner và cộng sự 1998(1)

Số bệnh nhân bị tác dụng phụ buồn nôn, nôn

và buồn ngủ cũng chiếm tỉ lệ đáng kể sau 3 ngày đầu sử dụng thuốc, và giảm rõ sau 10 ngày, trong đó tác dụng phụ buồn nôn và buồn ngủ giảm ở mức có ý nghĩa thống kê Tại các thời điểm 20 ngày và 30 ngày vẫn ghi nhận các trường hợp bị các tác dụng phụ buồn nôn, nôn hoặc buồn ngủ có thể vì liều thuốc được gia tăng (bệnh nhân có thể gặp các tác dụng phụ này khi chuyển qua dùng liều cao hơn, tuy nhiên gần như cũng chỉ bị trong thời gian ngắn) Khi so sánh tỉ lệ bị các tác dụng phụ này giữa 10 ngày,

20 ngày và 30 ngày (so sánh từng cặp), sự khác biệt không đáng kể; có thể do bệnh nhân đã dung nạp thuốc sau thời gian dùng thuốc giảm đau opioid nên tỉ lệ bị các tác dụng phụ này không cao Nếu xảy ra thì nguyên nhân hầu như

là do sự tăng liều, nên sự thay đổi ghi nhận được không có ý nghĩa thống kê

Trang 6

Tỉ lệ bệnh nhân bị tác dụng phụ tăng đổ mồ

hôi ghi nhận qua khảo sát là từ

16,7-31% Sau 30 ngày, tỉ lệ bệnh nhân bị tăng đổ

mồ hôi là 16,67% Trong nghiên cứu của Donner

và cộng sự 1998(1) tỉ lệ này là 50% Tác dụng phụ

này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả giảm đau

của thuốc do mồ hôi tích tụ dưới miếng dán

fentanyl và có thể làm thay đổi độ hấp thu của

fentanyl qua da(6)

Nghiên cứu này không khảo sát tác dụng

phụ táo bón, một trong những tác dụng phụ

thường gặp nhất khi dùng thuốc giảm đau

opioid, do một số bệnh nhân đã bị táo bón từ

trước và hầu hết bệnh nhân được chỉ định dùng

kèm thuốc nhuận tràng khi khởi đầu điều trị với

miếng dán fentanyl để ngừa táo bón

Tác dụng phụ khác

Tỉ lệ bệnh nhân bị ngứa khi dùng miếng dán

qua khảo sát từ 3,3 – 14,3% Tỉ lệ này trong

nghiên cứu của Donner và cộng sự 1998(1) là

17,6-20%; trong nghiên cứu của Sloan và cộng sự

1998(7) là 2-8% Tuy nhiên tác dụng phụ này

không nghiêm trọng và có thể được xử trí bằng

các thuốc kháng histamin

Nghiên cứu cũng ghi nhận được tỉ lệ bệnh

nhân bị kích ứng da khi sử dụng miếng dán

fentanyl từ 2,4-8,3% Trong các nghiên cứu đã

công bố trước đây, tỉ lệ bị kích ứng da khi sử

dụng fentanyl dán dao động từ 8-20%(3) Việc bị

kích ứng da có thể do bệnh nhân không đổi vị trí

dán khi thay miếng dán mới

Tỉ lệ bệnh nhân bị chóng mặt trong nghiên

cứu từ 4,8-8,3% Theo tài liệu đã công bố, tỉ lệ

này từ 3-10%(3) Tác dụng phụ này thường xuất

hiện khi bệnh nhân chuyển sang dùng thuốc ở

liều cao hơn và hầu như chỉ thoáng qua, không

ảnh hưởng nhiều đến người bệnh

Trong suốt quá trình nghiên cứu không ghi

nhận trường hợp nào bị suy giảm hô hấp Kết

quả này phù hợp với nhận định đã được công bố

trên y văn thế giới, suy giảm hô hấp hiếm xảy ra

đối với bệnh nhân được điều trị mạn tính với

thuốc giảm đau opioid và thường có thể phòng

tránh được nếu điều chỉnh liều một cách cẩn thận và hợp lí(8)

Sự hài lòng của bệnh nhân

Tỉ lệ bệnh nhân hài lòng về việc dùng miếng dán fentanyl để giảm đau rất cao từ 97-100% Giảm đau khá tốt, đường sử dụng thuốc thuận tiện, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc là mỗi

72 giờ (nếu dùng morphin dạng phóng thích tức thời phải uống thuốc mỗi 4 giờ), không bị tác dụng phụ nghiêm trọng là những yếu tố có thể giải thích cho sự hài lòng của bệnh nhân khi dùng miếng dán fentanyl

Hệ số tương quan rS giữa mức độ đau và mức độ hài lòng của bệnh nhân sau 3 ngày, 10 ngày, 20 ngày và 30 ngày dao động từ -0,405 đến

-0,495, với p < 0,05 Điều này gợi ý rằng có sự

tương quan nghịch, mức trung bình giữa mức

độ hài lòng và mức độ đau của bệnh nhân; mức

độ hài lòng tăng khi mức độ đau giảm Tuy nhiên để đánh giá chính xác mối tương quan này

cần làm rõ câu hỏi sự thay đổi mức độ đau theo thang NPRS có ý nghĩa thế nào trong lâm sàng khi

xét ở góc độ cảm nhận của người bệnh Điều này

có thể giải quyết khi kết hợp việc đánh giá mức

độ đau theo NPRS với thang PGIC (Patient’s Global Impression of Change, thang đánh giá sự

cảm nhận về mức độ cải thiện trên thang điểm

từ 1 đến 7 với 1 là cải thiện rất nhiều và 7 là tình trạng rất tệ)(2) để thấy được sự thay đổi mức độ đau trên thang NPRS sau khi dùng thuốc giảm đau được người bệnh cảm nhận ở mức độ ra sao (cải thiện nhiều/ít)

KẾT LUẬN

Từ những kết quả ghi nhận được, có thể đi đến nhận định việc sử dụng miếng dán fentanyl trong thời gian ngắn (3 ngày đến 30 ngày) để giảm đau cho bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối không còn được điều trị đặc hiệu là khả thi, hiệu quả và tương đối an toàn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

treatment of cancer pain with transdermal fentanyl”, J Pain Symptom Manage; 15(3): 168-175

Trang 7

2 Farrar JT et al (2001), “Clinical importance of changes in

chronic pain intensity measured on an 11-point numerical

pain rating scale”, Pain, 94: 149-158

transdermal opioids: Focus on transdermal fentanyl”, Clin

Pharmacokinet, 38(1): 59-89

Access to medicine and palliative care, ISBN: 1-56432-771-X,

the United State of America, 8-13

Principles of palliative care and pain control”, BMJ, 315:

801-804

treatment of cancer pain”, Archive of Oncology, 10(4):

263-266

7 Sloan PA et al (1998), “A clinical evaluation of transdermal therapeutic system fentanyl for the treatment of cancer pain”, Journal of Pain and Symptom Management, 16(2): 102-110

considerations in pain management”, US Pharmacist http://www.uspharmacist.com/continuing_education

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 24.12.2012 Ngày bài báo được đăng: 10.03.2014

Ngày đăng: 20/01/2020, 07:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w