1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Góp phần nghiên cứu tác dụng của griseofulvin trong điều trị bệnh nấm da do dermatophytes ở bệnh nhân nghiện ma túy

8 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 251,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát các thuốc kháng nấm uống về các phương diện hiệu quả, độ dung nạp, tác dụng phụ và chi phí trong điều trị bệnh nấm da do Dermatophyte. 97 bệnh nhân bệnh nấm da do Dermatophytes được điều trị bằng một trong các loại thuốc Griseofulvine 500 mg x 2 lần/ngày x 14-21 ngày, Ketoconazole 200mg x 2 lần/ ngày x 1-2tuần, Itraconazole 200mg/ngày x 7 ngày.

Trang 1

GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG CỦA GRISEOFULVIN

TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NẤM DA DO DERMATOPHYTES

Ở BỆNH NHÂN NGHIỆN MA TÚY

Bùi Văn Đức*, Văn Thế Trung*, Đặng Thị Tốn*, Phạm Thị Tiếng, Trần Thị Thanh Mai*,

Bùi Tùng Hiệp**, Hoàng Văn Minh*, Hán Thị HồngTuyến***

TÓM TẮT

Trong nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát các thuốc kháng nấm uống về các phương diện hiệu quả, độ dung nạp, tác dụng phụ và chi phí trong điều trị bệnh nấm da do Dermatophyte 97 bệnh nhân bệnh nấm da do Dermatophytes được điều trị bằng một trong các loại thuốc Griseofulvine 500 mg x 2 lần/ngày

x 14-21 ngày, Ketoconazole 200mg x 2 lần/ ngày x 1-2tuần, Itraconazole 200mg/ngày x 7 ngày Kết quả thu được như sau :

- 3 thuốc đều có hiệu quả cao và tương đương nhau (P>0.05), trong đó Griseofulvine: 90,69% (n = 43), Ketoconazole 90,32% (n = 31), Itraconazole là 91,3% (n = 23)

- Các thuốc đều dung nạp tốt, không có tác dụng phụ quan trọng nào – chỉ có 4 trường hợp than có buồn nôn nhẹ : 3 trong lô Griseofulvin (6.9%), 1 trong lô Itraconazole (4.3%)

- Phác đồ điều trị bằng Griseofulvin là kinh tế nhất

Từ kết quả này, chúng tôi chọn Griseofulvin để áp dụng vào cộng đồng : 45 bệnh nhân nấm da do Dermatophytes ở Trung Tâm cai nghiện ma túy Nhị Xuân được điều trị bằng Griseofulvin Kết quả khá tốt, 93.33% thành công Không có tác dụng phụ nào được ghi nhận Vậy chúng tôi mạnh dạn đề nghị chọn Griseofulvin là thuốc hàng đầu để điều trị bệnh nấm da do dermatophytes, nhất la trong điều kiện nước ta

SUMMARY

STUDYING THE EFFECTS OF GRISEOFULVIN IN TREATING DERMATOPHYTE

SKIN INFECTIONS ON DRUG-ADDICTS

Bui Van Đưc, Van The Trung, Đang Thi Ton, Pham Thi Tieng, Tran Thi Thanh Mai, Bui Tung Hiep,

Hoang Van Minh, Han Thi Kim Tuyen * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 8

* Supplement of No 1 * 2004: 32 – 39

In this study, 3 oral antifungal drugs were studied about the efficacy, tolerance, side effects and cost

of therapy in treating tinea corporis or cruris (caused by Dermatophytes) 97 patients with the disease were received one of the following drugs : Griseofulvin 500mg twice daily for 14-21 days, Ketoconazole 200mg twice daily for 7-14 days, Itraconazole 200mg once daily for 7-14 days The cured patients were observed for 3 week to find out if the relapse would happen The obtained result was as follow :

All of the studied drugs had the equally high efficacy (P>0.05) The clinical and mycological cure rates were : Griseofulvin 90.69% (n=43), Ketoconazole 90.32% (n=31), Itraconazole 91.3% (n=23) and Fluconazole 90% (n=10)

The tolerance was good, there were no significant side effects - only 4 cases with mild nause: 3 cases

* Bộ Môn Da Liễu - Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

in Griseofulvin group (6.9%), 1 case in Itraconazole group (4.3%)

Among these drugs, Griseofulvin had the best cost-benefit

From this result, we chose Griseofulvin to apply on the population (drug-addicted patients at Nhi Xuan Center) The efficacy was also good (93.33%), there were no side effects

This result showed that Griseofulvin should be the first choice for the oral treatment of tinea corporis

or cruris, specially on the condition of our country in the present

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh nấm da do Dermatophytes là một bệnh phổ

biến ở Việt Nam Tuy bệnh này không gây nguy hiểm

gì cho sinh mạng bệnh nhân, nhưng nếu không được

chẩn đoán và điều trị đúng, kịp thời thì bệnh có thể

đưa đến các biến chứng như chàm hóa, bội nhiễm và

đặc biệt dễ lây lan cho cộng đồng.Hiện nay trên thị

trường Việt Nam có nhiều loại thuốc điều trị nấm da

Ngoài Griseofulvin là thuốc kháng nấm được sử dụng

khá lâu còn có các thuốc mới thuộc các nhóm

imidazole, triazole Sự chọn lựa thuốc điều trị sao cho

có lợi cho bệnh nhân, ngoài kinh nghiệm của thầy

thuốc, còn tùy theo điều kiện kinh tế của bệnh nhân

Một nghiên cứu để khảo sát và so sánh tác dụng điều

trị, tác dụng phụ, độ dung nạp thuốc và lợi ích kinh tế

điều trị của các loại thuốc này thì chưa được thực

hiện tại Việt Nam Vì thế chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài này

Mục tiêu nghiên cứu

- Khảo sát tác dụng điều trị về lâm sàng đối với

bệnh nấm da do Dermatophytes của một số thuốc

kháng nấm uống đang có trên thị trường Việt Nam:

Griseofulvin, Ketoconazole, Itraconazole

- Khảo sát tác dụng phụ và độ dung nạp của các

thuốc này

- Từ đó rút ra phác đồ điều trị tối ưu, thỏa mãn

các điều kiện : hiệu quả cao, tác dụng phụ ít, dung

nạp tốt, kinh tế – trong điều kiện Việt Nam

- Áp dụng phác đồ này vào cộng đồng để xác

định tính giá trị

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Tiêu chuẩn chọn lựa

Bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Da Liễu

Tp.HCM trong khoảng thời gian từ tháng 1/ 1999 đến 4/2000 hội đủ tất cả các tiêu chuẩn sau :

Tuổi từ 16 trở lên

Lâm sàng được chẩn đoán có bệnh nấm da do vi nấm Dermatophytes với sang thương da là mảng hồng ban, giới hạn rõ, tròn hoặc đa cung, có mụn nước ở rìa, diễn tiến ly tâm, tróc vảy, ngứa

Cận lâm sàng : xét nghiệm soi tươi và cấy nấm dương tính

Đồng ý tham gia thử nghiệm

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân điều trị thuốc kháng nấm bôi trong vòng 1 tuần, uống trong vòng 1 tháng

Bệnh nhân có thai, đang cho con bú

Tiền sử bệnh gan,thận hoặc có biểu hiện lâm sàng bệnh nội khoa nặng

Tiền căn dị ứng với thuốc kháng nấm nêu trên Bệnh nhân không hợp tác, khó theo dõi

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Nghiên cứu được tiến hành qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: Khảo sát và so sánh 3 loại thuốc kháng nấm trên, từ đó rút ra phác đồ có lợi nhất đáp ứng mục tiên nghiên cứu đã đề ra

Giai đoạn 2: áp dụng phác đồ này vào cộng đồng

Giai đoạn 1 (tại BV Da liễu)

Chọn mẫu

Bệnh nhân được chia thành 3 lô - Đánh số thứ tự 1,2,3 ngẫu nhiên cho các loại thuốc loại thuốc Griseofulvin, Ketoconazole, Itraconazole Bệnh nhân đầu tiên được điều trị bằng thuốc thứ 1; bệnh nhân kế tiếp sẽ là thuốc thứ 2; cứ thế cho đến hết chu kỳ

Trang 3

rồi trở lại thuốc thứ nhất Bệnh nhân không có điều

kiện mua thuốc đắt tiền thì chọn thuốc rẻ hơn

Khám lâm sàng

- Khám và làm bệnh án theo mẫu các bệnh nhân

có đủ các tiêu chuẩn nêu trên Chú ý mô tả sang

thương

- Đo kích thước sang thương (do sang thương

có đường kính từ 2 cm trở lên)

- Ghi nhận các vị trí sang thương

- Chụp hình các sang thương trên mỗi bệnh

nhân, so sánh trước và sau điều trị

- Ghi nhận triệu chứng cơ năng (ngứa) và

đánh giá mức độ:

- Ngứa ít : thỉnh thoảng ngứa, không ảnh

hưởng đến sinh hoạt, lao động

- Ngứa trung bình : thường xuyên, ảnh hưởng

ít đến sinh hoạt, lao động

- Ngứa nhiều: thường xuyên, ảnh hưởng nhiều

đến sinh hoạt lao động, phải dùng thuốc hoặc đi

khám bệnh

Đánh giá các biến chứng

- Ghi nhận sang thương da khác

- Khám các triệu chứng tổng quát khác

Xét nghiệm vi nấm :

Thực hiện lúc nhận bệnh và sau đó mỗi tuần 1

lần cho đến khi lành bệnh

- Soi : cạo rìa sang thương bằng dao cùn, đặt

bệnh phẩm trên lam, nhỏ lên 1 giọt KOH 10%, hơ

ấm, soi dưới kính hiển vi tìm sợi tơ nấm có vách

ngăn

- Cấy : lấy bệnh phẩm tương tự, cấy trong môi

trường Sabouraud

- Xét nghiệm khác

- Làm xét nghiệm men gan (SGOT, SGPT) trước

điều trị và mỗi tuần sau đó, cho đến khi ngưng thuốc

1 tuần

Điều trị

Dùng thuốc

Bệnh nhân được điều trị sau khi có chẩn đoán lâm sàng và soi tìm nấm (+) Kê đơn mỗi tuần, liều thuốc theo phác đồ :

- Griseofulvin : 500mg x 2 lần /ngày x 1 hoặc 2 tuần Khi lành bệnh (theo tiêu chuẩn dưới đây) thì dùng thêm 1 tuần thuốc nữa để ngừa tái phát, tổng liều là 500mgx2/ngày x 2 hoặc 3 tuần

- Ketoconazole : 200mg x 2 lần /ngày x 1 hoặc 2 tuần Khi lành bệnh thì ngưng thuốc

- Itraconazole : 200mg x 1 lần /ngày x 1 tuần (chỉ dùng 1 tuần, theo dõi tác dụng điều trị trong 5 tuần)

Biện pháp khác :

- Tham vấn vệ sinh: Đồ dùng cá nhân như quần áo, mùng mền đem luộc nước sôi, phơi nắng, ủi kỹ hai mặt Tránh tiếp xúc với người mắc bệnh nấm da

Tiêu chuẩn đánh giá sự đáp ứng điều trị về lâm sàng và vi nấm

- Lành bệnh : sang thương lành và xét nghiệm vi

nấm âm tính

- Thất bại: sang thương viêm nhiều hơn hoặc nổi

nhiều hơn trong khi đang điều trị ; hoặc chưa lành bệnh khi đã hết thời gian tác dụng tối đa của phác đồ

- Tái phát : Sang thương nổi lại trong vòng 3

tuần kể từ ngày lành bệnh, điều kiện loại trừ được nguồn tái nhiễm

- Khỏi bệnh (điều trị thành công) : lành bệnh và

không tái phát

Theo dõi tác dụng phụ và sự dung nạp thuốc trên lâm sàng và xét nghiệm

Ghi nhận tất cả khó chịu của bệnh nhân trong quá trình nghiên cứu đánh giá mức độ: nhẹ, trung bình, nặng

Nhẹ : triệu chứng cơ năng nhẹ, thoáng qua trong

một vài ngày như các rối loạn tiêu hóa, nhức đầu, chóng mặt

Trung bình : như trên nhưng khó chịu nhiều, kéo

dài hoặc có triệu chứng thực thể như nổi hồng ban khu trú, các rối loạn tiêu hóa

Nặng : ảnh hưởng nhiều tổng trạng, tính mạng

bệnh nhân như nổi hồng ban lan rộng, bóng nước ở

Trang 4

da niêm, phù nề đường hô hấp, xuất huyết, thiếu

máu

Ghi nhận sự thay đổi men gan sau điều

trị và đánh giá

Bệnh nhân có biểu hiện tác dụng phụ trung bình

đến nặng hoặc có gia tăng men gan đáng kể đều

được ngưng điều trị

Cách theo dõi

Tái khám mỗi tuần cho đến khi lành bệnh hoặc

đến khi ngưng thuốc Sau khi lành bệnh,bệnh nhân

được tái khám sau 3 tuần để đánh giá tái phát Trong

vòng 3 tuần đó, bất cứ khi nào nếu sang thương nổi

lại thì tái khám ngay

Dặn bệnh nhân không sử dụng thuốc gì khác

Thông báo cho bệnh nhân biết các triệu chứng

thường gặp của tác dụng phụ như buồn nôn, nhức

đầu, nổi ban ngoài da để bệnh nhân lưu ý, hỏi và

khám các biểu hiện này ở mỗi lần tái khám, dặn bệnh

nhân nếu khó chịu nhiều thì ngưng thuốc và tái

khám ngay

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Giai đoạn 1

Tổng số bệnh nhân

97 (nam: 55.1%, nữ: 44.9%.)

Tuổi

Từ 16-74, chủ yếu từ 16-40 (72.9%), là lứa tuổi

hoạt động nhiều, ra mô hôi ẩm ướt, giao tiếp cộng

đồng thường xuyên nên dễ mắc bệnh

Nghề nghiệp

Thường gặp là những người lao động phổ thông

như buôn bán, nội trợ, thợ thủ công (22.7%), học

viên - học sinh (22.4%), công nhân (18.7%) đây là

đối tượng có thu nhập thấp, do đó phí khám chữa

bệnh là rất quan trọng đối với họ

Trình độ học vấn

Đa số có trình độ học vấn thấp, (từ cấp II trở

xuống : 63.9%), nên ý thức về sức khỏe chưa tốt

Lâm sàng

Thời gian mắc bệnh

Bệnh thường kéo dài (1-8 tháng: 51.5%) Hầu hết đều than ngứa, ngứa từ trung bình (32%) đến nhiều (56.7%)

Vị trí sang thương

Thường gặp là bẹn (52.3%) và mông (35.5%), phù hợp với y văn : đây là vùng nóng ẩm, hầm, kín hay bị nhiễm nấm (1) (13) (17). Các vị trí khác đều có thể gặp (mặt, thân mình, tứ chi) Sang thương lan nhiều

vị trí khác nhau (1 vị trí : 46.7%; từ 2 vị trí trở lên : 53.3%) và diện tích da bị bệnh thường lớn (thường từ

200 – 600 cm2 57%) Diện tích trung bình 250cm2, tương đương giữa các lô (p>0,05)

Biến chứng

Một số bệnh nhân có biến chứng, thường là nấm chàm hóa (36.4%) ; còn dạng bội nhiễm và bội nhiễm chàm hóa thì ít gặp hơn (0.85%)

Xét nghiệm vi nấm

Trước điều trị

Tất cả các ca có sang thương nấm da và soi nấm (+) đều cho cấy (+)

Khi theo dõi điều trị

Soi và cấy nấm (-) trước khi sang thương lành hoàn toàn

Bảng 1 Loại vi nấm gây bệnh

Vi nấm Griseofulvin Ketoconazole Itraconazole Tổng

T rubrum 26 (26,8%) 21 (21,6%) 16 (16,5%) (64.9%) 63

T

mentagrop hytes

16 (16,5%) 9 (9,2%) 7 (7,2%)

32 (32,9%)

E.floccosu

m

(1,1%)

M

gypseum

1 (1,1%) 1

(1,1%) Tổng 43 (44,3%) 31 (31,9) 23 (23,8%) (100%) 97

Có vi nấm thuộc cả 3 nhóm Trichophyton, Microsporum, Epidermophyton, trong đó chủ yếu là T.rubrum (64.6%) và T.mentagrophytes (33.6%) Phù

hợp với y văn và các tác giả khác (1) (2) (3) (4) (6) (17) Khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa các lô

Trang 5

Tác dụng phụ và sự dung nạp thuốc

Về lâm sàng

Các nhóm thuốc đều dung nạp tốt Chỉ có vài

bệnh nhân than buồn nôn thoáng qua (Griseofulvin

6.9%, Itraconazole : 4.3%), phù hợp với y văn là các

thuốc này hiếm khi gây các tác dụng phụ quan trọng

nào (5) (6) (17)

Về cận lâm sàng

Không có trường hợp nào gia tăng men gan sau

điều trị Theo y văn, các thuốc này với liều thông thường hiếm khi gây tổn thương gan (5) (6) (17)

Do không có điều kiện kinh phí nên các xét nghiệm khác liên quan đến tác dụng phụ khác như công thức máu, xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu đã không được thực hiện, tuy nhiên theo y văn các tác dụng phụ này cũng hiếm khi xảy ra và thường cũng ở mức độ nhẹ. (5) (6) (17)

Tác dụng điều trị: (xem bảng 2a, 2b)

Bảng 2a Kết quả điều trị

Thời điểm

Ngày 7 58.13% 25 65.1% 28 60.5% 26 74.19% 23 90.3% 28 28

90.3%

13

56.5%

18

78.3%

15

65.2%

Ngày 14 95.34% 41 97.67% 42 95.35% 41 96.77% 30 96.77% 30 96.77% 30 69.56% 16 87% 20 87% 20 Ngày 21 95.34% 41 97.67% 42 95.35% 41 91.30% 21 95.7% 22 95.7% 22

95.65%

22 95.7%

22 95.7% Ghi chú - 2 ca thất bại : giảm nhưng chưa lành hoàn toàn sau 3 tuần - 1 ca thất bại : giảm nhưng chưa lành hoàn toàn sau 2 tuần

- 1 ca thất bại : nấm bẹn-mông Sang thương có giảm, nhưng nổi lại sau khi ngưng thuốc 1 tuần

Bảng 2b Theo dõi điều trị

n=43

Ketoconazole n=31

Itraconazole n=23

Lành bệnh 41 (95,34%) 30 (96,37%) (95,65%) 22

Tái phát 2 2 1

Thành công

(lành bệnh

không tái phát)

39 (90,69%) 28 (90,32%) 21 (91,3%)

Ghi chú

2 ca tái phát (1

ca uống thuốc 2 tuần,1 ca uống thuốc 3 tuần)

2 ca tái phát đều uống thuốc

1 tuần

Nhìn chung cả 3 loại thuốc đều có hiệu quả tốt,

thành công từ 90% trở lên, bệnh nhân đều dung nạp

tốt các thuốc, không có tác dụng phụ nào quan trọng

Lô griseofulvin

Theo Andrew, khi Griseofulvin được dung nạp

tốt, sang thương nấm sẽ sạch nhanh chóng trong

vòng 1 hoặc 2 tuần Tác giả khuyên nên tiếp tục điều

trị vài ngày đến 1 tuần nữa để tránh tái phát (6)

Trong nghiên cứu của chúng tôi: sự lành bệnh sau 1 tuần thuốc là 58.13%, sau 2 tuần thuốc đạt 95.35% Và sau khi lành bệnh, bệnh nhân được uống thêm 1 tuần thuốc nữa Qua theo dõi sự tái phát, tỉ lệ khỏi bệnh là 90.69% (39/43 ca)

0

58.13

0 20 40 60 80 100 120

ä % Lành

Thời gian

Ngày

7

Ngày

14

Ngày

21

Sau theo dõi

Biểu đồ 1

Đối chiếu với một số kết quả của các tác giả khác

Trang 6

% Lành

như : Faegermann (1997) : 80% (10) ; Martin (1993) :

64.8%. (17) ; Lachapelle và cộng sự (1992) : khỏi bệnh

về lâm sàng là 69%, khỏi bệnh về vi nấm là 65%. (16) ;

Voravutinon (1994) : khỏi bệnh về lâm sàng và vi

nấm là 80.7%, nhưng qua theo dõi đến tuần thứ 6 thì

tỉ lệ này còn 54.8% tái phát (32%). (23)

Nhận thấy tỉ lệ khỏi bệnh của nghiên cứu chúng

tôi cao hơn Tuy nhiên, các tác giả trên chỉ dùng

Griseofulvin trong 2 tuần hoặc 15 ngày (của chúng tôi

là từ 2 - 3 tuần)

Như vậy Griseofulvin uống 1 gam/ngày trong 1

hoặc 2 tuần cho hiệu quả lành bệnh khá cao, ngay cả

các trường hợp sang thương nhiều, lan rộng Việc

dùng thuốc thêm 1 tuần nữa, tức tổng liều từ 2- 3

tuần, làm giảm tỉ lệ tái phát đáng kể Kết quả khỏi

bệnh rất tốt (90.69%)

Lô ketoconazole

Ketoconazole đã được nghiên cứu và sử dụng

rộng rãi trong điều trị nấm da Phác đồ thường được

khuyến cáo là 200 - 400 mg/ngày x 4 tuần

Nhưng trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay,

chi phí của một phác đồ như vậy là khá đắt so với thu

nhập của đa số người dân Việc tìm một phác đồ điều

trị nấm da bằng Ketoconazole sao cho có lợi về kinh

tế mà hiệu quả vẫn tốt là cần thiết trong điều kiện

hiện tại

Cơ sở khoa học :

Về dược động học : sau khi uống, Ketoconazole

được phân bố nhanh chóng vào lớp sừng qua đường

mồ hôi và có khả năng duy trì trong da trong một

khoảng thời gian tương đối dài Ketoconazole có khả

năng kết hợp với các thành phần của da, đặc biệt là tế

bào gai, tóc, móng, chất bã nhờn (14,15)

Về lâm sàng, theo y văn thì Ketoconazole uống

với liều 200-400mg/ngày ít có tác dụng phụ quan

trọng, chỉ khoảng 1/10000 – 1/15000 bệnh nhân có

triệu chứng phản ứng gan (6,17).

Vì vậy, chúng tôi đã thử nghiệm phác đồ điều trị

400mg/ ngày, dùng trong 1 hoặc 2 tuần, nhằm giảm

bớt chi phí và thời gian điều trị

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi (biểu đồ 2) : tỉ

lệ thành công 90.32% (n=31) Tỉ lệ này tương đương với phác đồ kinh điển (Heel (1982) : 90% (n = 483)

(12) ; Robertson và cộng sự (1980) : 100% (n = 20)) (12)

Lô itraconazole

Các bệnh nhân dùng thuốc chỉ trong 1 tuần, nhưng tỉ lệ lành bệnh tiếp tục tăng sau khi ngưng thuốc (từ 69.6% sau tuần thứ nhất tăng lên đến 95.7% sau tuần 5) Phù hợp với y văn và các nghiên cứu khác (20,21)

Tỉ lệ thành công làø 91.3% (n= 23) Tỉ lệ này cũng xấp xỉ với các nghiên cứu của các tác giả khác : Doncker (1990) : 90% ± 4%. (7) ; Parent, Decroix, Heenen (1994) : khỏi bệnh về lâm sàng và vi nấm là 90% (n = 153). (20) ; Noppakun (1992) : Itraconazole 100mg/ngàyx 14 ngày : 83.3% (n = 30) (19)

So sánh hiệu quả điều trị của các loại thuốc

56.5 69.56

0 20 40 60 80 100

Thời gian Ngày

7

Ngày

21 Ngày 28 Sau theo dõi 3 tuần

Ngày 14

Biểu đồ 3

74.19

96.77

90.32

0 20 40 60 80 100

Thời gian Ngày 7 Ngày

14

Sau theo dõi

% Lành

Biểu đồ 2

3 tuần

Trang 7

Bảng.3 So sánh các hiệu quả điều trị

Griseofulvin (n = 43) 39 90.69

Ketoconazole (n = 31) 28 90.32

Itraconazole (n = 23) 21 91.30

Kiểm định chi bình phương : Q ∼ χ2

(3) = 1.01 <

C 0.05 = 7.82

Qua so sánh, chúng tôi nhận thấy :

3 loại thuốc trên có hiệu quả điều trị tương đương

(P > 0.05) Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu

của Goh CL và cộng sự (1994 - Singapore) so sánh

mức độ kháng nấm của 3 loại thuốc Griseofulvin,

Ketoconazole, Itraconazole trên kháng nấm đồ Kết

quả cho thấy hầu hết các loại vi nấm gây bệnh nấm

da đều nhạy cảm như nhau đối với 3 loại thuốc này

(nồng độ < 25 micrograms/ml), trong đó sự nhạy

cảm với Griseofulvin là 82%, Ketoconazole là 78%,

Itraconazole là 81%. (11)

So sánh chi phí điều trị

Griseofulvin có chi phí thuốc trung bình cho mỗi

bệnh nhân khoảng 23 500 đồng (hai mươi ba ngàn

năm trăm đồng), rẻ hơn các thuốc khác từ 4-10 lần

Nhận xét: Griseofulvin là thuốc điều trị nấm da

có hiệu quả tốt, an toàn, kinh tế Chúng tôi chọn

phác đồ Griseofulvin để tiếp tục làm nghiên cứu ở giai

đoạn 2 : áp dụng vào cộng đồng để xác định tính giá

trị thực tế

Bảng 4 Giá tiền (đơn vị : đồng)

Thuốc Giá tiền 1 viên Tổng chi phí Giá tiền trung bình 1 ca (*)

Griseofulvin

(n = 39) 500 915 306 23 469

Ketoconazole

(n = 28) 8000 3 920 000 140 000

Itraconazole

(n = 23) 17000 4 998 000 238 000

(*) chi phí trung bình cho 1 ca điều trị thành công

GIAI ĐOẠN 2

Thực hiện tại trung tâm cai nghiện ma túy Nhị

Xuân từ 3/2003- 10 /2003

- Tiêu chuẩn chọn bệnh như giai đoạn 1, nhưng

không cấy nấm Chẩn đoán dựa vào lâm sàng và soi

tươi (+)

- Điều trị với phác đồ griseofulvin như giai đoạn

1, cấp thuốc miễn phí mỗi ngày, uống tại chỗ có kiểm soát

- Thông báo các tác dụng phụ có thể có cho bác

sĩ điều trị, cho bệnh nhân Sau đó ghi nhận kết quả mỗi tuần

- Các tiêu chuẩn lành bệnh như giai đoạn 1

- Xin kết quả xét nghiệm HIV sau khi nghiên cứu hoàn tất

KẾT QUẢ

Số ca: 45 nam Tuổi : 16 – 32 Trung bình 22,5 Lâm sàng : diện tích sang thương trung bình 322cm2

Thành công : 93.33%

100% dung nạp tốt

Không có tác dụng phụ trên lâm sàng Không có trường hợp bỏ trị

Bảng 5 Kết quả điều trị griseofulvin (n = 45)

Thời điểm

Ngày 7 Ngày 14 Ngày 21 Sau theo dõi 3 tuần

Lâm sàng (-) Soi (-)

26 (57.77%)

44 (97,77%)

44 (97,77%) 42 (93,33%) Tài phát 2 (4,4%) Không lành 1 (2,2%)

Như vậy khi áp dụng phác đồ này vào cộng đồng thì cũng đạt hiệu quả cao (93,33%) và an toàn

Trong lô này có 36 ca HIV (-) và 9 ca HIV (+) Các ca HIV (+) đều lành bệnh

KẾT LUẬN

Qua khảo sát điều trị 97 bệnh nhân tại BVDL bị bệnh nấm da do Dermatophytes bằng 3 loại thuốc Griseofulvin, Ketoconazole, Itraconazole, chúng tôi nhân thấy:

- Cả 4 thuốc đều có tác dụng tốt, thành công > 90%, dung nạp tốt, an toàn

- Đặc biệt phác đồ GRISEOFULVIN đã đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu : hiệu quả cao, an toàn, kinh tế

Trang 8

- GRISEOFULVIN : phù hợp cho cộng đồng Điều

này đã được khẳng định qua nghiên cứu ở Trường

Nhị Xuân với hiệu quả 93.33%

ĐỀ XUẤT

- Qua nghiên cứu, chúng tôi mạnh dạn đề nghị

chọn GRISEOFULVIN là thuốc hàng đầu để điều trị

nấm da do DERMATOPHYTES, nhất là trong điều

kiện nước ta hiện nay, trong công tác chăm sóc sức

khỏe ban đầu

- Các thuốc khác cũng có tác dụng tốt, an toàn

nhưng đắt Chỉ nên sử dụng khi thật cần thiết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) Hoàng Văn Minh : Nấm Dermatophytes, Chẩn Đoán

Bệnh Da Liễu Bằng Hình Aûnh & Cách Điều Trị, tập 2,

Nhà xuất bản Y học, 2001 : 128-146

(2) Hoàng Văn Minh : Góp phần nghiên cứu điều trị bệnh

vi nấm cạn Dermatophytes bằng Fluconazole uống

150mg/ tuần trên người nghiện ma túy có hay không

có nhiễm HIV, Hội nghị khoa học kỹ thuật Đại học Y

dược, 1997

(3) Trần Xuân Mai : Bệnh vi nấm ngoài da, Ký sinh trùng

Y học, Trường ĐHYD TP.HCM, 1999 : 342-359

(4) Trương Thị Minh Hương : Xác định tỉ lệ bệnh nấm da

và cơ cấu nấm gây bệnh ở một đơn vị bộ đội, Nội san

da liễu, số 1, Tổng hội Y dược học Việt Nam, 1998 :

44-46

(5) Vidal Việt Nam 1996, Vidal Việt Nam 2000

(6) Arnold H.L : Disease due to Fungi and yeasts, Disease

of the skin, W.B Sauder Company, 1990 : 318-74

(7) De-Donker P, Cauwenbergh.G : Management of fungal

skin infections with 15 days itraconazole treatment : a

worlwide review, record 9 of 93, Medline (R), 1990

(8) Faergemann J et al: Intracutaneous transport of orally

administered Fluconazole to the stratum corneum,

Acta Derm venereol (Stockh) 1995, 75 : 361-63

(9) Faergemann J, Laufen H : Level of Fluconazole in

serum stratum corneum, epidermis-dermis (Without

stratum corneum) and eccrine sweat, Clinical and

experimental Dermatology, 1993, 18 : 102-6

(10) Faegermann J et al: A multicenter (double – blind)

comperative study to assess the safety and efficacy of

fluconazole and griseofulvin in the treatment of tinea

corporis and tinea cruris Br - J - Dermatol,1997, 136

(4) : 575 – 7

(11) Goh CL, Tay-YK : In vitro evaluation of Griseofulvin,

Ketoconazole and Itraconazole against various Dermatophytes in Singapore, Dermatol, 1994 Oct, 33

(10) : 733-7

(12) Gupta A.K : Safety review of the oral antifungal

agents used to treat superficial mycose, International

Journal of Dermatology, 1999, 38 (Sppl 2), Black Well Science Ltd: 41-53

(13) Habif T.P : Superficial fungal infection, A color guide

to diagnostic and therapy clinical dermatology, Mosby, 1996; 362-48

(14) Hay RJ : Ketoconazole in perspective, Adis,

international Ltd, Chester, 1991

(15) Jacobs P.H : Ketoconazole : A brief literature review,

Cutis, volume 42, 1998 Oct : 277-81

(16) Lachapelle JM : Itraconazole compared with

Griseofulvin in the treatment of tinea corporis and tinea pedis/ manus, Dermatology, 1992, 184 (1) :

45-50

(17) Martin A.G, Kobayashi G.S : Superficial fungal

infection: dermatophytosis, tinea, nigra, piedra,

Fitzpatrick ‘s Dermatology in general medicine, 1993, vol 2 : 2419 – 1451

(18) Montero-Gei F, Perera A : Therapy with Fluconazole

for tinea corponis, tinea cruris and tinea pedis,

Clinical infection diseases, 1992, 14 (Suppl 1), 377-81

(19) Nopakun-N, Phuphaibook-K : Treatment of

dermatophytosis with new systemic antifungal agent itraconazole, record 6 of 89 - Medline (R) 1992

(20) Parent-D, Decroix J, Heenen-M : Clinical experience

with short schedules of itraconazole in treatment of tinea coporis and/ or tinea cruris, Dermatology, 1994,

189 (4) : 378-81

(21) Ramos E : Efficacy and safety of Itraconazole pulse

therapy, Dermatol-venereol, record 7 of 17, Medline

1999/01 - 1999/02

(22) Suchil P et al : once weekly oral dose of Fluconazole

150mg in the treatment of tinea corporis/ cruris and cutaneous candidiasis, Clinical and experimental

Dermalogy, 1992, 17 : 397-401

(23) Voravutinon V : Oral treatment of tinea corporis and

tinea cruris with Terbinafine and Griseofulvin, record

3 of 78 - Medline (R) 1/94 - 12/94

(24) Wildfeurer A et al : Bioavailability of Fluconazole in

the skin after oral medication, Mycose, 3 - 4/1994, 37

(3-4) : 127-30

Ngày đăng: 20/01/2020, 07:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w